Showing posts with label LHNGD - Tinh huong thuc tien. Show all posts
Showing posts with label LHNGD - Tinh huong thuc tien. Show all posts

Wednesday, March 19, 2014

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU GIỮA CHA MẸ VÀ CON: BỐ MẸ KIỆN CON BẤT HIẾU RA TÒA

BÙI NGỌC
Khi ngôi nhà chưa chuyển cho con trai sở hữu, vợ chồng ông Th. cho người khác thuê một phần, mỗi tháng trên 2 triệu đồng. Nhưng khi tin tưởng và cho con, nguồn tiền cho thuê không còn, đặc biệt là khi con trai cắt nguồn “trợ cấp” thì vợ chồng ông khó khăn, túng thiếu. Bức xúc, vợ chồng ông Th. đã khởi đơn kiện đòi lại nhà và đất của mình.
Hiếm khi chúng tôi tham dự phiên tòa dân sự bởi nó đụng chạm đến những vấn đề về đời tư của các gia đình bị đơn cũng như nguyên đơn. Thế nhưng, phiên tòa dân sự mà TAND quận Thanh Khê đưa ra xét xử vào giữa tháng 5/2009 đã gây cho tôi nhiều tò mò. Bởi đây là một sự hy hữu, hiếm có xưa nay ở TP Đà Nẵng vì nó là câu chuyện: Bố mẹ đẻ kiện con trai…
Nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc Th. (77 tuổi) và bà Ngô Thị C. (77 tuổi); bị đơn là anh Nguyễn Ngọc L. (47 tuổi ) và chị Vũ Thị Đ. (45 tuổi) cùng trú phường Tân Chính, quận Thanh khê.
Được biết, vợ chồng ông Th. có 9 người con cả trai lẫn gái, trong đó, Nguyễn Ngọc L. là con thứ 7 được ông bà tin tưởng, thương yêu. Do đó, khi tuổi già sức yếu, vợ chồng ông Th. quyết định trao tài sản cho vợ chồng đứa con trai mà ông bà cảm thấy tin tưởng, yêu quý này.
Để thực hiện ước nguyện cuối cùng của cuộc đời mình, ngày 7/3/2002, ông Th. và bà C. đã đến Phòng công chứng số 1 TP Đà Nẵng làm hợp đồng chuyển dịch cho nhà và đất ở của mình tại đường Lê Duẩn (mảnh đất được UBND thành phố cấp ngày 15/6/2001) cho vợ chồng anh L. và chị Đ. với nội dung hợp đồng là “cho nhận”.
Đổi lại, vợ chồng anh L. phải phụng dưỡng vợ chồng ông Th. và bà C., đồng thời chăm lo mồ mả, hương khói tổ tiên. Sau khi nhận nhà, vợ chồng anh L. đã đập nhà cũ làm nhà mới 4 tầng để buôn bán, làm ăn. Công việc hiếu nghĩa ban đầu được vợ chồng anh L. làm rất tốt. Ngoài việc chăm sóc hằng ngày, vợ chồng anh L. còn “trợ cấp” cho cha mẹ mỗi tháng 500 nghìn đồng để tiêu vặt và lo tiền xe cộ mỗi khi vợ chồng ông Th. về quê (Quảng Bình). Nhưng đến năm 2006, việc hiếu nghĩa của anh L. không còn như trước, thay vào đó là sự mâu thuẫn, cãi cọ giữa 4 người. Kéo theo đó, nguồn “trợ cấp” hằng tháng cũng không còn.
Ông Th. cho biết, trước đây, khi ngôi nhà chưa chuyển cho con trai sở hữu, ông Th. đã cho người khác thuê một phần, mỗi tháng trên 2 triệu đồng nên cũng có tiền rủng rỉnh hằng ngày. Nhưng khi tin tưởng và cho con, nguồn tiền cho thuê không còn, đặc biệt là khi con trai cắt nguồn “trợ cấp” thì vợ chồng ông khó khăn, túng thiếu. Bức xúc, vợ chồng ông Th. đã khởi đơn kiện đòi lại nhà và đất của mình.
Để làm êm ấm gia đình này, trong những năm qua, TAND quận Thanh Khê đã cử người đến tận nhà khuyên giải nhưng vẫn không thành. Họ cũng cho biết, đây là vụ án ly kỳ nhất từ trước đến nay. Một vụ án tình máu mủ. Do đó khi xét xử phải hết sức bình tĩnh, công minh và theo đạo lý mà làm.
Xem xét từ lời khai 2 phía, TAND xét thấy, đất thì có thể chia nhưng giá trị ngôi nhà đã được vợ chồng anh L. xây dựng mới nên đó là sở hữu của họ. Vì vậy, để công bằng và hợp tình hợp lý, TAND quận Thanh Khê quyết định buộc bị đơn (là vợ chồng anh L., con trai và con dâu của nguyên đơn) phải trả số giá trị quyền sử dụng đất cho nguyên đơn (là vợ chồng ông Th., cha đẻ của bị đơn) trị giá số tiền đã định giá mảnh đất là 1,010 tỷ đồng…
Đất thì có thể trả nhưng điều đáng buồn là tình cha con sẽ bị tổn thương nghiêm trọng. Phiên tòa kết thúc, để lại cho người tham dự phiên tòa cũng như người xét xử những nỗi buồn sâu thẳm. Đạo lý cha con của ông Th. cũng như nhiều gia đình “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt” trong xã hội bị rạn vỡ chỉ vì chữ hiếu không được làm tròn…
SOURCE: BÁO CÔNG AN NHÂN DÂN

TRANH CHẤP TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG: PHƯỜNG “THIẾU CHÍNH XÁC”, DÂN MẤT BIỆT THỰ TIỀN TỶ

VŨ VĂN TIẾN
Từ giấy chứng thực giả do ông Nguyễn Ngọc Phương, Phó Chủ tịch UBND phường Trung Tự, quận Đống Đa xác nhận, một đại tá quân đội đã bị vợ chiếm đoạt ngôi biệt thự trị giá hàng chục tỷ đồng là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Xác nhận vắng mặt người cam đoan
Trong đơn tố cáo gửi Báo Dân trí, đại tá Phan Quốc Thắng hiện là Giảng viên Học viện Kỹ thuật Quân sự cho biết: ông Thắng và vợ là bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ đã làm đơn ly hôn ra tòa từ đầu năm 2006.
Tuy nhiên trong thời gian tòa án giải quyết ly hôn, bà Thuỷ đã giả mạo chữ ký của chồng rồi cùng cán bộ có thẩm quyền tạo giấy tờ giả, bán tẩu tán nhiều tài sản có giá trị lớn và chiếm đoạt toàn bộ số tiền bán được.
Cụ thể, biệt thự 5C4, khu đô thị Nam Thăng Long (Ciputra), rộng 198m2 là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Thắng và bà Thuỷ. Tuy nhiên ngày 26/7/2007, bà Thuỷ đã làm giả “Giấy cam đoan” xác nhận biệt thự trên là tài sản riêng của mình, giả chữ ký của ông Phan Quốc Thắng, rồi xin chứng thực chữ ký giả mạo tại UBND phường Trung Tự.
Thực tế, ông Phan Quốc Thắng không làm giấy xác nhận tài sản trên cho bà Thuỷ, đồng thời ngày 26/7/2007, ông Thắng cũng không hề đến UBND phường Trung Tự vì phải thực hiện nhiệm vụ của Học viện Kỹ thuật Quân sự.
Vậy mà, bất chấp sự thật như trên, ông Nguyễn Ngọc Phương, Phó Chủ tịch UBND phường Trung Tự đã xác nhận vào “Giấy cam đoan” giả mạo trên là: “Chứng thực ông Phan Quốc Thắng đã ký trước mặt tôi (ông Phương – PV) tại UBND phường Trung Tự ngày 26/7/2007”.

Sau khi có “Giấy Cam đoan” giả trên, bà Thủy đã tiến hành làm “sổ đỏ” căn biệt thự 5C4, khu đô thị Ciputra và đã được UBND quận Tây Hồ cấp GCNQSDĐ vào ngày 9/8/2007. Sau đó, bà Thủy đã chuyển nhượng căn biệt thự trên với giá 4,1 tỷ đồng (theo tìm hiểu giá thị trường có thể gấp 4 lần giá ghi trong hợp đồng – PV) mà ông Phan Quốc Thắng không hề hay biết.
UBND phường Trung Tự thừa nhận sai sót
Trước việc làm trái pháp luật trên của ông Nguyễn Ngọc Phương, ông Thắng đã có đơn tố cáo gửi đến nhiều cơ quan chức năng.
Ngày 30/12/2008, UBND phường Trung Tự đã có Công văn số 76 CV/UB phúc đáp ông Thắng thừa nhận: “Ngày 26/7/2007, ông Phan Quốc Thắng không đến UBND phường xác nhận chữ ký. Việc xác nhận chữ ký của công dân mang tên Phan Quốc Thắng, số chứng thực 04, quyển 01, ngày 26/7/2007 của UBND phường Trung Tự là thiếu chính xác. UBND phường Trung Tự đề nghị cơ quan chức năng huỷ xác nhận chứng thực này”.
Ngày 23/5/2009, trao đổi với PV Dân trí, ông Phan Quốc Thắng cho biết, sau sự việc trên, để âm mưu lừa đảo với bà Thuỷ được trót lọt, ông Nguyễn Ngọc Phương đã tìm cách huỷ giấy cam đoan gốc giả chữ ký của ông Thắng.
Để tòa án có cơ sở bảo vệ quyền lợi cho mình tại căn biệt thự trên, nhiều lần ông Thắng có văn bản đề nghị ông Phương có văn bản chính thức gửi đến tòa đề nghị hủy Bản chứng thực chữ ký sai trái mà ông Phương đã làm, nhưng rốt cuộc ông Phương vẫn cố tình không chịu gửi.
Chưa hết qua băng ghi âm cuộc trao đổi giữa ông Phương và một luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Thắng cho thấy, ông Phương “thương lượng” việc làm trái của mình bằng việc bỏ ra 500 triệu đồng để “khắc phục hậu quả”.
Tuy nhiên, điều mà ông Thắng mong muốn ở đây không phải là việc bồi thường thiệt hại của UBND phường Trung Tự, mà việc các cơ quan chức năng sẽ xử lý sai phạm của ông Phương đến đâu?
Tiếp nữa vì sao đến nay UBND phường Trung Tự vẫn chậm trễ trong việc ra văn bản chính thức gửi đến toà án để huỷ bản chứng thực chữ ký sai trái mà ông Phương đã làm.
Hiện ông Thắng và vợ vẫn chưa thể ly hôn vì liên quan tới khối tài sản này.
SOURCE: BÁO DÂN TRÍ

Sunday, January 12, 2014

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: BỊ TÂM THẦN, CHA MẸ CÓ ĐƯỢC THAY MẶT XIN LY HÔN?

TÙNG CHI

Pháp luật chưa điều chỉnh tình huống nếu vợ hoặc chồng bị tâm thần thì cha, mẹ người bệnh có quyền đại diện đứng đơn xin ly hôn và tham gia tố tụng hay không. Ngành tòa án từ chối giải quyết trong khi thực tế đã xuất hiện không ít trường hợp tương tự…

Mới đây, TAND một quận tại TP.HCM đã trả đơn trong một vụ xin ly hôn khá lạ: Cha mẹ của một người đàn ông bị tâm thần đề nghị thay mặt con trai đứng đơn khởi kiện và tham gia tố tụng tại tòa nhằm giúp người con dâu được tự do, có cơ hội đi lấy chồng khác.

Giải thoát cho con dâu

Người con dâu trong vụ này là chị G. Theo trình bày của chị, vợ chồng chịlấy nhau được hơn 10 năm, có với nhau hai mặt con. Trước đây, chồng chị hoàn toàn bình thường nhưng sau mấy năm đi làm thuê ở một số nơi về thì thấy có dấu hiệu thần kinh không ổn định. Sau đó người chồng đổ bệnh, ốm liền mấy tháng, khi tạm khỏe lại thì đầu óc không còn minh mẫn như trước, suốt ngày tưng tưng, nói năng lảm nhảm.

Hai năm trước, chị cùng gia đình đưa chồng đến bệnh viện tâm thần khám. Các bác sĩ kết luận chồng chị bị tâm thần nặng. Gần đây, thấy bệnh tâm thần của con trai chữa trị mãi nhưng không hết mà có phần nặng thêm, phía gia đình chồng đã vận động chị G. đứng đơn xin ly hôn để tìm hạnh phúc mới.

Tuy nhiên, do thương chồng và cũng đã lớn tuổi, chị G. không chịu, quyết định ở vậy chăm sóc chồng và các con. Về phía cha mẹ chồng, vì muốn giải thoát cho con dâu khỏi cảnh khổ nên khi vận động không được, họ đã quyết định thay con trai làm đơn “xin ly hôn giùm”.

Luật không cho phép đại diện

Nghiên cứu đơn “xin ly hôn giùm” này, tòa đã giải thích cho cha mẹ chồng chị G. biết là theo Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự, đối với các vụ án ly hôn không được áp dụng chế độ người đại diện. Tức là phải đích thân chồng hay vợ đứng đơn khởi kiện và tham gia tố tụng chứ không thể nhờ ai thay mặt mình được.

Cha mẹ chồng chị G. vẫn thắc mắc rằng bản thân con trai họ đang bị bệnh tâm thần, làm sao tỉnh táo được như người bình thường mà khởi kiện hay tham gia tố tụng. Họ thương người con dâu đã bao năm vất vả vì chồng vì con, giờ có chồng mà cũng như không. Họ muốn gánh trách nhiệm lo lắng, chăm sóc, nuôi dưỡng con trai để con dâu có cơ hội đi tìm hạnh phúc mới. Chẳng lẽ người con dâu của họ sẽ phải bị giam hãm cả cuộc đời mình với người chồng tâm thần suốt đời suốt kiếp hay sao?

Thông cảm với trường hợp này, thấu hiểu tâm tư của cha mẹ chồng chị G. nhưng cuối cùng tòa vẫn phải trả đơn kiện, từ chối giải quyết vụ án.

Nhiều cách hiểu nhưng vẫn bế tắc

Chuyện nếu vợ hoặc chồng bị tâm thần thì cha, mẹ người bệnh có quyền đại diện đứng đơn xin ly hôn và tham gia tố tụng hay không, pháp luật chưa điều chỉnh. Tại một hội thảo gần đây, lãnh đạo Tòa Dân sự TAND Tối cao cho biết hiện còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này.

Quan điểm thứ nhất cho rằng cần áp dụng Điều 64 Bộ luật Dân sự để cử cha, mẹ của người bệnh làm người giám hộ. Họ sẽ đại diện cho con đứng đơn kiện và tham gia tố tụng.

Tuy nhiên, theo Tòa Dân sự TAND Tối cao, việc này trái với Điều 62 Bộ luật Dân sự vì tòa chỉ được cử người giám hộ khi người bệnh chưa có người giám hộ đương nhiên. Trường hợp cụ thể này, người giám hộ đương nhiên theo pháp luật của người bệnh lại chính là vợ hay chồng họ.

Quan điểm thứ hai lại nói nên áp dụng Điều 75 Bộ luật Tố tụng dân sự để chỉ định cha, mẹ người bệnh làm người giám hộ. Nhưng theo Tòa Dân sự TAND Tối cao, làm vậy cũng không được vì chỉ áp dụng được trong trường hợp tòa đã thụ lý vụ án. Tức là nếu vợ hay chồng của người bệnh đứng đơn khởi kiện xin ly hôn và tòa đã nhận đơn thì tòa mới có quyền chỉ định. Một khi tòa chưa thụ lý đơn thì theo Điều 58, Điều 62 Bộ luật Dân sự, chỉ một người duy nhất có quyền giám hộ cho người bệnh là chồng hay vợ của họ.

Cũng theo Tòa Dân sự TAND Tối cao, vợ hay chồng của người bệnh chỉ mất quyền giám hộ khi bản thân họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác (chưa được xóa án tích) hoặc có bản án xác định họ mất năng lực hành vi dân sự. Khi ấy mới có thể công nhận cha, mẹ của người bệnh có quyền giám hộ, quyền đại diện cho người bệnh để khởi kiện xin ly hôn…

Gần 20 năm không thể ly hôn

Trước đây, Pháp Luật TP.HCM từng phản ánh trường hợp của ông P., ngụ quận Gò Vấp yêu cầu tuyên bố vợ ông mất năng lực hành vi dân sự để ly hôn nhưng gần 20 năm qua vẫn không được.

Số là vợ chồng ông P. kết hôn năm 1987, có một con gái nhưng vợ ông có biểu hiện tâm thần như bỏ nhà đi, nói lăng nhăng, phá phách, chửi bới, đánh con… 12 năm trước ông xin ly hôn nhưng tòa bác vì tại tòa người vợ nói mình hoàn toàn bình thường. Gần đây, ông yêu cầu tòa tuyên bố vợ mất năng lực hành vi dân sự để ly hôn nhưng tòa năm lần bảy lượt mời đến giải quyết, vợ ông đều kiên quyết không hợp tác. Khổ nỗi luật không cho phép tòa được cưỡng chế khi vợ ông không hợp tác nên vụ án đành phải… treo.

Phải luật hóa

Theo tôi, Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi lần này cần phải quy định chế độ đại diện với các vụ án ly hôn khi chồng hoặc vợ mất năng lực hành vi dân sự. Cụ thể, khi giải quyết về tài sản và con chung mà xét thấy có ảnh hưởng đến quyền lợi của người bệnh thì cần phải có người đại diện của họ tham gia. Người đại diện trong trường hợp này, theo tôi, tốt nhất là người giám hộ theo hàng thứ hai của người bệnh, tức cha hoặc mẹ.

Tiến sĩ NGUYỄN VĂN TIẾN, Đại học Luật TP.HCM

Hướng dẫn tạm thời

Thực tiễn cho thấy những vụ xin ly hôn liên quan đến một bên vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự không phải ít. Tuy nhiên, các hướng dẫn thì rất thiếu cho nên không có cơ quan nào có thẩm quyền yêu cầu chỉ định người giám hộ thay thế người bị mất năng lực để giải quyết cho dứt điểm vụ ly hôn. Để giải quyết những trường hợp này khi chưa sửa luật, tôi nghĩ cần phải có hướng dẫn cụ thể từ phía TAND Tối cao để tạm thời gỡ vướng.

Một thẩm phán TAND TP.HCM
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

Friday, November 22, 2013

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN KHI TUYÊN BỐ KHÔNG CÔNG NHẬN LÀ VỢ CHỒNG


THS. PHAN THỊ VÂN HƯƠNG – Tòa Dân sự TANDTC

Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (Luật HN & GĐ) và hướng dẫn tại Mục 2 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã quy định trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Tại mục 5.4.1.4, khoản 5, điểm C, phần thứ 3 của “Sổ tay Thẩm phán” cũng nêu rất rõ văn bản án dụng và các trường hợp không được công nhận là vợ chồng. Luật HN & GĐ có chương III quy định về quan hệ giữa vợ và chồng (trong đó có quy định về chế độ tài sản chung vợ chồng, việc đại diện cho nhau, trách nhiệm liên đới của một bên đối với giao dịch do bên kia thực hiện, tài sản riêng…) và chương X quy định về giải quyết các vấn đề về ly hôn (con cái, tài sản…).
Tuy nhiên, giải quyết các vấn đề về tài sản đối với trường hợp hôn nhân không hợp pháp (hủy hôn nhân trái pháp luật, không công nhận là vợ chồng) thì lại chỉ được quy định tại điểm c mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình (Nghị Quyết 35/2000/QH10): “Kể từ ngày 01 tháng 1 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu cóyêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng;nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết”. Điều 17 Luật HN & GĐ quy định về hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật như sau: “…3. Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con”.
Thông qua công tác Giám đốc thẩm các vụ án dân sự, chúng tôi thấy rằng các Tòa án địa phương đã vận dụng pháp luật tương đối tốt để xác định hôn nhân hợp pháp (công nhận thuận tình ly hôn hoặc cho ly hôn) hay hủy hôn nhân trái pháp luật, không công nhận là vợ chồng; việc áp dụng các quy định của Luật HN & GĐ khi giải quyết các vụ án ly hôn (xác định tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng…) là tương đối tốt. Tuy nhiên, đối với các vụ án hủy hôn nhân trái pháp luật, không công nhận hôn nhân hợp pháp lại rất lúng túng khi phải giải quyết các vấn đề tranh chấp về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng. Nhiều bản án phần xét thấy có lập luận không công nhận là vợ chồng, nhưng vẫn sử dụng cụm từ vợ chồng, ly hôn, thời kỳ hôn nhân khi phân tích các sự kiện; vẫn trích dẫn điều luật quy định giải quyết về tài sản chung vợ chồng trong Luật HN & GĐ để giải quyết, hoặc không nắm rõ được các quy định của Bộ luật dân sự để xác định tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng và cách phân chia để bảo đảm quy định tại Điều 17 Luật HN & GĐ.
Ví dụ: Năm 1990 bà Phấn và ông Cầu được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới nhưng hai bên không đăng ký kết hôn và sau đó cũng không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo Nghị Quyết 35/2000/QH10. Quá trình chung sống hai bên đã có 2 con chung. Năm 1992 gia đình ông Cầu cho ông bà ra ở riêng trên một mảnh đất của gia đình và ông bà dựng nhà lá để ở, quá trình chung sống có cải tạo nhà, trồng cây ăn trái, mua sắm vật dụng gia đình. Năm 2009, do mâu thuẫn trầm trọng, ông bà có đơn xin ly hôn nhưng không thống nhất được việc phân chia tài sản là nhà, đất nêu trên (ông Cầu cho rằng là tài sản riêng của ông vì cha mẹ cho riêng và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2004 đứng tên ông, không có tên bà Phấn; còn bà Phấn xác định là được cha mẹ ông Cầu cho chung nên là tài sản chung và yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bản án sơ thẩm quyết định không công nhận là vợ chồng, nhưng phần xét thấy của bản án lại vẫn sử dụng cụm từ vợ chồng, ly hôn như: “Về phần nợ: trong thời gian chung sống vợ chồng…” ;“Xét thấy khi ly hôn đất vườn anh Cầu được quản lý sử dụng”; vẫn vận dụng các quy định giải quyết về tài sản chung, tài sản riêng của trường hợp ly hôn trong Luật HN & GĐ như “…Theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định tài sản riêng của vợ chồng bao gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân…”. Bản án nhận xét vì không được công nhận là vợ chồng nên đất là cha mẹ ông Cầu cho riêng ông Cầu, không phải tài sản chung của vợ chồng nên ông được sở hữu nhà (do 2 bên xây, nên là tài sản chung và mỗi bên được ½) và thanh toán cho bà Phấn ½ giá trị nhà.
Bản án phúc thẩm phần trích yếu vẫn ghi “V/v xin ly hôn”; phần xét thấy nhận xét “Tòa án cấp sơ thẩm không công nhận là vợ chồng là có căn cứ”, nhưng lại ghi “…Xét thấy đây là tài sản chung được cha mẹ ông Cầu cho vợ chồng ông trong thời kỳ hôn nhân nên được xem là tài sản của vợ chồng. Ông Cầu cho rằng đây là tài sản được cha mẹ cho riêng nhưng ông không chứng minh được việc cho riêng trong thời kỳ hôn nhân nên không có cơ sở chấp nhận vì theo quy đinh tại khoản 1 Điều 32 Luật HN&GĐ…Ông Cầu cũng không chứng minh được phần đất trong GCNQSD đất cho ông là tài sản riêng nên căn cứ và Điều 27 Luật HN & GĐ thì quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung vợ chồng…”.
Trong vụ án trên, theo chúng tôi, khi đã xác định quan hệ của họ không được công nhận là vợ chồng, thì bản án không nên sử dụng từ vợ chồng, thời kỳ hôn nhân… nữa, mà có thể sử dụng cách viết khác như ông bà, thời gian cùng chung sống, tài sản tạo lập trong thời gian sống chung,…Về tài sản chung, không phải trường hợp áp dụng Điều 27 Luật HN & GĐ xác định tài sản tranh chấp có phải tài sản chung của vợ chồng hay không cũng như các Điều luật khác để xác định tài sản chung, tài sản riêng…; mà chỉ có căn cứ theo các quy định tại Bộ luật dân sự về sở hữu chung (căn cứ xác lập tài sản chung như được tặng cho chung, cùng đóng góp công sức để tạo lập… Điều 214, 215, 216 Bộ luật dân sự năm 2005) và phân chia tài sản chung theo các quy định của Bộ luật dân sự (Điều 224) và Điều 17 Luật HN &GĐ mà thôi. Trong vụ án trên, bản án phúc thẩm viện dẫn không chính xác Điều luật áp dụng, như hồ sơ thể hiện đã thu thập chứng cứ về việc cho chung là lời khai của mẹ ông Cầu thừa nhận khi tổ chức lễ cưới có tuyên bố cho ông Cầu, bà Phấn mảnh đất này và đã không có ý kiến gì phản đối khi ông Cầu kê khai, làm thủ tục tách thửa và được cấp GCNQSD đất. Tòa án cấp phúc thẩm cũng thu thập chứng cứ về hồ sơ ông Cầu kê khai xin cấp GCN, trong đó ông có ghi cả tên ông và tên bà Phấn là đồng sử dụng; việc GCN chỉ ghi tên ông Cầu là thiếu sót của UBND. Vì vậy, có căn cứ xác định thửa đất là tài sản do ông Cầu, bà Phấn được cha, mẹ ông Cầu tặng cho chung và việc tặng cho đã hoàn thành (đã nhận tài sản sử dụng, đã đứng tên trên giấy tờ) nên cấp phúc thẩm xác định là tài sản chung và chia cho 2 bên sử dụng, là phù hợp.
Mặc dù để thực hiện Nghị quyết 35/2000/QH, ngày 22/10/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 77/2001/NĐ-CP quy định chi tiết về đăng ký kết hôn có quy định chi tiết về đăng ký kết hôn đối với các trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn, tuy nhiên trên thực tế, số cặp nam nữ đến thực hiện việc đăng ký kết hôn lại không nhiều. Do đó, từ sau ngày 01/1/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì cho dù họ có thừa nhận là vợ chồng đi nữa, khi thụ lý giải quyết Tòa án vẫn phải tuyên bố không công nhận là vợ chồng và theo thống kê thì loại án này ngày càng tăng và chiếm khoảng 10% số vụ án về hôn nhân và gia đình. Không ít vụ đương sự có tranh chấp về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng…như tranh chấp trong các vụ án ly hôn, thì Tòa án vẫn phải giải quyết và gặp rất nhiều khó khăn vướng mắc khi áp dụng pháp luật, đánh giá chứng cứ. Nhiều bản án vẫn viện dẫn các quy định của Luật HN & GĐ để giải quyết các quan hệ này và về cơ bản, chúng tôi thấy trong nhiều vụ án việc áp dụng Luật HN & GĐ giải quyết cũng đã bảo đảm được quyền lợi của người phụ nữ hơn là áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự.
Luật HN & GĐ năm 2000 đang trong quá trình nghiên cứu toàn diện để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp thực tiễn. Để bảo đảm áp dụng đúng và thống nhất pháp luật, đồng thời bổ sung hoàn thiện các quy định của Luật HN & GĐ, chúng tôi đề nghị ngành Tòa án cần có nghiên cứu tổng kết thực tiễn giải quyết các vụ án không công nhận là vợ chồng và việc giải quyết về tài sản chung-riêng, nợ chung-riêng…và những vấn đề liên quan đến Điều 17 Luật HN & GĐ.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Trích dẫn từ:

Tuesday, November 5, 2013

TRANH CHẤP SỞ HỮU TÀI SẢN: MẤT 9 CĂN NHÀ VÌ KHÔNG … HÔN THÚ

NGỌC HÀ – KHÁNH LY
Sau 13 năm chung sống, người đàn ông muốn phủ nhận sạch trơn công sức của người vợ lẽ đối với khối bất động sản mà chỉ mỗi mình ông đứng tên. Khi đến với nhau năm 1988, ông H. và bà B. chỉ có hai bàn tay trắng. Ông là thợ sửa đồng hồ, bà là thợ may, ở nhờ nhà của người quen. Bà B. cũng biết ông H. đã có hai đời vợ và sáu người con. Nhưng vào thời điểm trên thì ông chỉ sống một mình, ông H. nói vậy và bà B. cũng tin như thế.
Không đăng ký kết hôn
Bà B. cho biết ông H. có cưới hỏi bà đàng hoàng. Nhưng do cuộc sống chật vật nên hai người không thể về quê để đăng ký kết hôn. Do không có giấy chứng nhận kết hôn nên khi khai sinh cho đứa con duy nhất của hai người, ông H. phải làm giấy nhận con. Nhờ bạn bè giúp đỡ, ông H. chuyển từ nghề sửa đồng hồ sang buôn bán đồng hồ cũ rồi cả hai chuyển sang làm vỏ đồng hồ vàng và giàu lên từ đó. Khi có tiền, cả hai quay ra làm môi giới đất đai, mua đất nông nghiệp rồi bán lại kiếm lời.
Khi hai người thuê nhà mở điểm kinh doanh, bà B. ở văn phòng tiếp khách, làm giấy tờ, còn ông H. đi ra ngoài giao dịch. Đến năm 2001, khi chia tay nhau thì hai người có chung rất nhiều căn nhà và lô đất. Có căn giá trị lên đến vài tỷ đồng. Bấy giờ, ông H. trở mặt, phủ nhận sạch trơn công sức đóng góp của bà B. trong những nhà, đất trên mà cụ thể là không cho mẹ con bà hưởng thứ gì. Cả căn nhà mẹ con bà B. đang ở cũng bị ông dằn mặt “chỉ cho ở nhờ, khi cần thiết sẽ lấy lại để bán”.
Ức quá, bà B. đã kiện ông H. ra tòa với hai yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng và được chia tài sản chung gồm chín căn nhà với tổng giá trị hơn 18 tỷ đồng. Tuy nhiên, điều bà không ngờ đến là toàn bộ tài sản trên đều đứng tên ông H. (nhiều căn đã có “giấy hồng”). Đau hơn nữa, ông H. vẫn chưa xé hôn thú với người vợ đầu tiên.
Tài sản riêng hay chung?
Theo bà B., khối nhà, đất khổng lồ trên cùng được tạo lập trong thời gian sống chung nên là tài sản chung của hai người, việc ông H. một mình đứng tên không đồng nghĩa đó là tài sản riêng của ông. Trong giấy nhận con, ông H. cũng gọi bà B. là vợ. Chính bà là người cùng ông H. đi ngồi sui, cưới vợ cho con trai riêng của ông.
Ông H. cũng thừa nhận có cưới hỏi, có sống chung với bà B nhưng ông không coi bà B. là vợ vì ông đã có vợ hợp pháp trước đó và chưa ly hôn. Theo những quy định của pháp luật mà ông nắm được, những tài sản trên là tài sản chung của ông và người vợ trước chứ không phải là bà B. Mặc dù những người hàng xóm, người thân và một số chủ nhà, đất cũ đều công nhận là khi bán nhà, họ đã thực hiện giao dịch với cả ông H. và bà B. nhưng hồ sơ nhiều căn nhà không thể hiện có sự tham gia mua bán của bà B. Như vậy, khi không phải là vợ ông H. thì bà B. không có quyền đòi chia tài sản như những trường hợp ly hôn khác. Bà B. chỉ được chia phần nhỏ tương xứng với công sức đóng góp để tạo lập khối tài sản trên.
Vụ án kéo dài đã tám năm ròng và hiện vẫn chưa kết thúc. Bởi lẽ các tòa án phải ủy thác điều tra, chờ đợi kết quả xác minh và định giá khối tài sản ở nhiều nơi mà bà B. đã kê khai và yêu cầu chia.
Theo các bạn, khối tài sản trên là tài sản riêng của bị đơn hay tài sản chung của nguyên đơn và bị đơn? Bà B. hay ông H. sẽ thắng kiện? Chúng tôi ghi nhận được nhiều ý kiến phân tích pháp lý khác nhau.
Luật sư Nguyễn Đình Hùng: Nguyên đơn vẫn có thể thắng kiện
Thực sự thì giữa ông H. với bà B. đã có quan hệ hôn nhân bất hợp pháp. Ông H. không đủ điều kiện để kết hôn với bà B. (do ông H. có vợ hợp pháp trước đó và chưa ly hôn). Do đó, bà B. không thể đòi phân chia tài sản chung sau khi ly hôn mà chỉ có thể đòi phân chia tài sản phát sinh trong thời gian hai người sống chung. Dù tài sản tranh chấp chỉ có ông H. đứng tên nhưng bà B. vẫn có thể thắng kiện với điều kiện bà chứng minh được mình có công sức tạo dựng. Đương nhiên, bà B. buộc phải có chứng cứ và thông qua các nhân chứng cụ thể. Những người đó có thể chứng minh việc mua bán tài sản có sự tham gia của cả ông H. và bà B.
Luật sư Phạm Quốc Hưng: Ai muốn giành phần phải chứng minh
Khi ông H. vẫn còn hôn thú với người vợ trước đó thì cuộc hôn nhân của ông với bà B. là bất hợp pháp và như vậy thì cả hai không phải là vợ chồng. Do vậy, số tài sản đang tranh chấp có thể là số tài sản có được do hai người cùng nhau hợp tác làm ăn. Người nào nói đó là phần tài sản của mình đều phải chứng minh. Có hai trường hợp cần được đặt ra: Đối với số tài sản chỉ mỗi ông H. đứng tên chủ sở hữu, nếu bà B. cho rằng mình có phần đóng góp thì bà phải chứng minh. Đối với phần tài sản chưa được cấp giấy chủ quyền hợp pháp, cả ông H. và bà B. đều phải đưa ra chứng cứ để chứng minh phần tài sản đó là của mình.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

Thursday, October 17, 2013

NƠI NÀO LÀM KHAI SINH CHO TRẺ BỊ BỎ RƠI

KIM PHỤNG
Nhiều tháng nay, ông Trần Văn Hữu (ngụ tại 482/8 phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, TP.HCM) cứ lúng túng, không biết phải đến nơi nào để làm khai sinh cho con trai 14 tuổi.
Theo tường trình của ông Hữu, năm 1992, ông có chung sống như vợ chồng với bà P. Tháng 4-1993, bà P. sinh một con trai và đặt tên là Trần Văn Nguyên. Sau khi sinh con được bốn tháng, bà P. bỏ đi không rõ tung tích. Nguyên được gửi cho người cô nuôi dưỡng cho đến nay.
Lúc bấy giờ, gia đình ông Hữu đăng ký hộ khẩu tại phường 13, quận 3. Đến năm 1994, do bị giải tỏa nhà nên gia đình ông phải ở thuê tại nhiều nơi và chưa làm được khai sinh cho con. Ông Hữu cũng cho biết ông đã làm thất lạc giấy chứng sinh của bệnh viện. Mặt khác, hộ khẩu gốc của gia đình ông không còn ở phường 13, quận 3 và Nguyên trước giờ không ở địa chỉ này nên UBND phường 13 không thể cấp giấy khai sinh cho em.
Ông Huỳnh Tấn Đạt – Phó phòng Hộ tịch-Quốc tịch-Lý lịch tư pháp Sở Tư pháp TP.HCM hướng dẫn: Do Nguyên chưa đăng ký khai sinh trong thời hạn 60 ngày (kể từ lúc được sinh ra) nên giờ em phải làm thủ tục đăng ký khai sinh quá hạn. Tuy nhiên, do cha mẹ em không đăng ký kết hôn và mẹ em hiện không rõ địa chỉ nên phần khai về cha, mẹ trong giấy khai sinh và sổ đăng ký khai sinh được để trống.
Nếu muốn được ghi tên cha, mẹ vào giấy khai sinh, ông Hữu và bà P. phải làm thủ tục nhận cha, mẹ, con. Sau khi có quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con thì UBND xã (nơi đăng ký khai sinh cho người con) sẽ ghi bổ sung phần khai về cha, mẹ vào sổ đăng ký khai sinh và bản chính giấy khai sinh của người con.
Theo khoản 3 Điều 13 Nghị định 158 ngày 27-12-2005 của Chính phủ, việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi được thực hiện tại UBND xã nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó. Cho nên UBND phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân có thẩm quyền đăng ký khai sinh quá hạn cho em Nguyên.

TỪ CHỐI NHẬN CHA LÀ VIỆT KIỀU

Người con từ chối xét nghiệm ADN nhưng khó lòng cưỡng chế.
Ông John Nguyen (Việt kiều Mỹ) đang lo lắng vì mong muốn nhận lại người con trai nhưng rất khó thành công (tên các nhân vật trong bài đã được thay đổi). Được biết năm 1979, ông vượt biên sang Mỹ, bỏ lại người vợ cùng đứa con trai tên Hùng vừa mới chào đời. Khi đi, ông John rất hối hận. Hơn ba năm sau, ông gửi thư về cho vợ thì không thấy bà hồi âm. Nguyên do hai năm chờ đợi ông không thấy ông gửi thư về, vợ ông tưởng ông đã chết nên đi bước nữa. Người chồng sau rất thương Hùng nên làm thủ tục nhận Hùng làm con ruột.
Bất ngờ năm 2007, ông John về thăm quê, gặp lại vợ con mình mới rõ mọi sự. Ông muốn nhận lại con để bù đắp những thiếu thốn tình cảm mà bấy lâu ông không mang lại được cho con. Thế nhưng trái ngược với suy đoán của ông, Hùng cho rằng cha ruột mà đành đoạn bỏ con từ nhỏ, trong khi đó người dưng (người cha sau – PV) còn thương yêu, nuôi anh khôn lớn, cho anh học hành đến nơi đến chốn. Hùng nhất quyết không chịu nhận ông là cha, dù người mẹ cho biết ông mới chính là cha ruột.
Dù Hùng từ chối nhưng ông John vẫn đến Sở Tư pháp TP.HCM làm thủ tục đăng ký nhận lại con. Do việc nhận con không có sự đồng ý của Hùng nên Sở không thụ lý và hướng dẫn ông khởi kiện ra tòa. Bà Trịnh Thị Bích, Trưởng phòng Hộ tịch-Lý lịch tư pháp-Quốc tịch, Sở Tư pháp TP.HCM, cho biết Điều 64 Luật Hôn nhân và gia đình quy định người cha có thể đơn phương yêu cầu tòa án xác định người đó là con mình. Khi nào tòa tuyên Hùng là con của ông John thì Sở sẽ nhận lại hồ sơ đăng ký nhận con, đồng thời hủy giấy khai sinh cũ của Hùng và điền tên ông John vào giấy khai sinh của Hùng.
Tuy nhiên, khi ông John làm thủ tục khởi kiện thì tòa án yêu cầu ông phải cung cấp chứng cứ về quan hệ cha con. Vụ việc trở nên bế tắc do ông không có chứng cứ để nộp cho tòa. Theo bà Bích, ông John có thể cung cấp các chứng cứ khác như hộ khẩu tại Việt Nam năm 1976 hay tờ khai gia đình của chế độ cũ nếu có ghi tên ông cùng vợ con. Khổ nỗi ông đã bị thất lạc hết các giấy tờ xưa mà tàng thư của công an địa phương cũ của ông cũng không còn lưu các hồ sơ đó. Còn một cách rất dễ chứng minh là xét nghiệm ADN của ông John và Hùng thế nhưng Hùng lại từ chối xét nghiệm ADN. Ông John hỏi tòa án liệu có thể ra quyết định cưỡng chế Hùng đi xét nghiệm ADN hay không thì tòa án cho biết không thể làm như vậy được.
Vụ việc trên có gỡ được? Chúng tôi sẽ theo dõi và thông tin tiếp đến bạn đọc.

DIỄN VIÊN LÝ HƯƠNG VÀ VỤ TRANH CHẤP NUÔI CON: TÒA ÁN VIỆT NAM VÀ MỸ ĐỀU … ĐÚNG?

Việt Nam và Mỹ chưa ký hiệp định tương trợ tư pháp nên khi xử lý các vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình thì nước nào áp dụng theo luật của nước đó.
Báo Tiền Phong ngày 4-6 cho biết liên quan đến vụ diễn viên Lý Hương (tên thật là Lý Thị Kim Hương, con gái của diễn viên Lý Huỳnh) bị bắt ở Mỹ, Cục Cảnh sát điều tra liên bang Mỹ (FBI) đã thông báo chính thức cho người có liên quan bằng fax để xác nhận hình ảnh đương sự.
Ngày 2-6, diễn viên Lý Huỳnh đã dẫn con của Lý Hương là Princess Lam (bảy tuổi) đến Tổng Lãnh sự quán Mỹ tại TP.HCM để giao cho cha cháu là ông Tony Lam (một doanh nhân Việt kiều, quốc tịch Mỹ) nuôi dưỡng. Một trong những tội danh mà Lý Hương bị FBI bắt giữ theo lệnh của tòa án Mỹ là có hành vi bắt cóc trẻ em (chính là con của Lý Hương – Princess Lam).
Kết hôn ở nước ngoài vẫn hợp pháp
Điều đặc biệt là trong chuyện ly hôn hy hữu giữa diễn viên Lý Hương với người chồng Tony Lam có tranh chấp quyền nuôi con, được tòa án Việt Nam và tòa án Mỹ xử gần như cùng lúc lại tuyên trái ngược nhau hoàn toàn về quyền nuôi cháu Princess Lam. Phóng viên Báo Pháp Luật TP.HCM đã tìm hiểu vụ ly hôn của cô Lý Hương tại Việt Nam.

Trong phiên xử sơ thẩm vào tháng 4-2007, Lý Hương (nguyên đơn) cùng chồng đều yêu cầu được quyền nuôi con. Tuy nhiên, TAND TP.HCM đã tuyên xử cho cô Hương ly hôn và giao cho cô Hương được nuôi con. Ông Tony Lam đã kháng cáo. Rất tiếc, trong phiên tòa xử phúc thẩm ông được triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM đã ra quyết định đình chỉ xét xử vụ án. Bản án ly hôn của tòa sơ thẩm có hiệu lực vào tháng 9-2007.
Ngay trong bản án sơ thẩm của TAND TP.HCM, luật sư bảo vệ ông Tony Lam cho rằng cần làm rõ việc cô Hương chưa thể hiện việc ghi chú vào sổ đăng ký hộ tịch việc kết hôn của cô và ông Tony Lam ở Mỹ vào tháng 2-2001. Hội đồng xét xử đã nhận định qua giấy chứng nhận kết hôn giữa cô Hương và ông Tony Lam tại quận Clack, bang Nevada (Mỹ) cùng với lời thừa nhận của các đương sự đã đủ cơ sở kết luận quan hệ vợ chồng giữa hai người là hợp pháp. Việc cô Hương chưa thể hiện ghi chú vào sổ hộ tịch việc kết hôn tại Mỹ, hội đồng xét xử cho rằng Nghị định 83 năm 1998 chỉ áp dụng cho các bên đều là công dân Việt Nam kết hôn ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài, nay về Việt Nam xin ly hôn chứ không áp dụng cho trường hợp một bên là công dân Việt Nam, một bên là công dân nước ngoài (theo Nghị quyết 01/2003).
Tòa hai nước đều… đúng?
Theo án sơ thẩm của TAND TP.HCM, luật sư của ông Tony Lam cũng lưu ý việc ông có xuất trình cho tòa một án lệnh của tòa án gia đình tại tiểu bang New York với nội dung tạm thời giao quyền giám hộ cháu Princess Lam cho ông Tony Lam. Về án lệnh của tòa án gia đình ở Mỹ, do chưa được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam, lại được ban hành sau khi TAND TP.HCM thụ lý đơn xin ly hôn của cô Hương nên không được chấp nhận.
Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Đoàn luật sư TP.HCM, cho biết căn cứ khoản 2 Điều 405, 410 Bộ luật Tố tụng dân sự, khi có đơn xin ly hôn của cô Hương là công dân Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc TAND TP.HCM. Bản án tòa tuyên giao cháu Princess Lam cho mẹ nuôi cũng hoàn toàn phù hợp với pháp luật Việt Nam.
Có luồng ý kiến khác cho rằng cháu Princess Lam mang quốc tịch Mỹ nên bản án của tòa án gia đình tiểu bang New York ra lệnh giao tạm thời cho cha cháu là đúng theo pháp luật của Mỹ. Một cán bộ Sở Ngoại vụ TP.HCM cho biết do Việt Nam và Mỹ chưa ký hiệp định tương trợ tư pháp nên khi xử lý các vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình thì nước nào áp dụng theo luật của nước đó.
Bà Nguyễn Thị Thọ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về người Việt Nam ở nước ngoài tại TP.HCM, phân tích: Do cháu Princess Lam là công dân Mỹ nên án lệnh của tòa án Mỹ tuyên là có hiệu lực. Lý Hương muốn giành quyền nuôi con thì phải sang Mỹ kiện, yêu cầu tòa án gia đình tiểu bang NewYork giao lại quyền nuôi con cho mình.
Sự việc này khá phức tạp, nếu cô Hương muốn giành quyền nuôi con thì phải chứng minh cho tòa án Mỹ thấy mình có đủ các điều kiện để nuôi dưỡng con tốt hơn. Theo pháp luật Mỹ, có trường hợp tòa án tuyên không phải giao con cho cha hoặc mẹ mà giao cho tổ chức nuôi dưỡng và buộc cha, mẹ phải đóng tiền trợ cấp nuôi con.
Thông tin về hộ chiếu là bí mật cá nhân
Ông Phan Quốc Thái, Phó Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh tại TP.HCM, cho biết cho đến hôm qua (4-6), chưa có cơ quan điều tra nào tìm hiểu về thời hạn visa nhập cảnh Việt Nam của cháu Princess Lam.
Theo ông Thái, thủ tục xin gia hạn visa rất đơn giản. Chỉ cần Lý Hương làm đơn gửi cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trình bày những lý do cần thiết của việc xin gia hạn visa cho con, xuất trình hộ khẩu, chứng minh nhân dân là có thể xin gia hạn visa cho con. Những thông tin về hộ chiếu là thông tin bí mật cá nhân, chỉ có các cơ quan điều tra mới có quyền yêu cầu Cục Quản lý xuất nhập cảnh cung cấp. Như vậy thì thông tin Princess Lam sống tại Việt Nam từ năm 2005 đến nay đã quá hạn visa là không đủ căn cứ.
Để lý giải cho việc tại sao cô Lý Hương có thể đi đi về về giữa Việt Nam và Mỹ, chúng tôi đã tham khảo ý kiến của ông Nguyễn Văn Anh, Trưởng phòng Quản lý xuất nhập cảnh (Công an TP.HCM). Ông Văn Anh cho biết công dân Việt Nam xuất cảnh hợp pháp hoặc bất hợp pháp rồi được nước ngoài cho phép định cư nếu muốn quay về Việt Nam thì bắt buộc phải có hộ chiếu Việt Nam còn thời hạn. Khi đó thì đương sự sẽ được công an cấp quận cho nhập hộ khẩu, cấp chứng minh nhân dân.
Nếu đương sự đã nhập quốc tịch nước sở tại, hộ chiếu Việt Nam đã hết hạn thì khi trở về Việt Nam bắt buộc phải xin visa nhập cảnh Việt Nam, nếu về định cư thì phải làm thủ tục hồi hương. Nếu họ xin cấp hộ chiếu mới hoặc gia hạn hộ chiếu tại cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước sở tại thì khi quay về Việt Nam sống không cần làm thủ tục hồi hương.
Nguồn: MINH TRÍ – BẢO PHƯỢNG – Pháp Luật.Tp

CON TRAI ĐÒI TIỀN CÔNG NUÔI MẸ, VỤ KIỆN HY HỮU Ở VĨNH PHÚC

TTXVN - Khiếu kiện là quyền của công dân. Thế nhưng, còn một “Toà án lương tâm” ở mỗi con người. Những tháng ngày mang thai, nuôi con từ trứng nước đến khi trưởng thành, có bậc cha mẹ nào kể công?.
Toà dân sự TAND tỉnh Vĩnh Phúc vừa xử phiên phúc thẩm bác bỏ đơn kiện của ông Ngô Xuân Thành đòi mẹ đẻ mình bồi thường công ông nuôi dưỡng cụ. Toà cũng bác bỏ yêu cầu của ông Thành đòi mẹ mình phải chi trả cho ông giá trị 1/2 ngôi nhà tình nghĩa mà địa phương xây tặng cụ. Bản án đã tuyên nhưng ông Thành vẫn chưa “phục”, đang dự kiến đòi lại “lẽ công bằng ” (!?) ở cấp cao hơn!
Ông Thành là con trai cả của hai cụ Nguyễn Thị Trước và Ngô Văn Thái ở xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1997, hai cụ làm di chúc giao cho ông Thành quản lý toàn bộ tài sản của các cụ khi các cụ qua đời. Tuy nhiên, năm 1998, cụ ông mất, ông Thành và cụ bà mâu thuẫn nên cụ bà đã xin huỷ bỏ bản di chúc, không cho ông Thành hưởng số tài sản như đã ghi.
Việc làm của cụ Trước là đúng luật và Toà án cũng đã phán quyết như vậy. Cụ Trước là mẹ liệt sĩ nên năm 2005, địa phương quyết định xây tặng cụ ngôi nhà tình nghĩa. Ông Thành không cho xây dựng nhà trên đất của hai cụ mà ông cho rằng đang thuộc quyền sử dụng của ông, bất chấp việc Toà án đã phán quyết huỷ bản di chúc. Địa phương lại cấp cho cụ Trước 100 m2 đất ở chỗ khác và xây tặng cụ ngôi nhà tình nghĩa trị giá khi đó 17 triệu đồng.
Tự thấy thiệt thòi, bức xúc, ông Thành liền kiện, đòi cụ Trước phải chi trả công ông nuôi dưỡng cụ từ 7/7/1997 đến ngày 8/7/2005 là ngày cụ bà không ở trên đất của hai cụ nữa. Ông Thành tính mỗi ngày 50 ngàn đồng, tổng cộng là 146 triệu 50 ngàn đồng tiền nuôi cụ. Ông cũng đòi cụ Trước muốn ở ngôi nhà tình nghĩa thì phải trả cho ông 8,5 triệu đồng là 1/2 giá trị ngôi nhà vì theo ông đây là nhà chung của cả bố ông nên đòi được hưởng một nửa!
Khiếu kiện là quyền của công dân. Thế nhưng, còn một “Toà án lương tâm” ở mỗi con người. Những tháng ngày mang thai, nuôi con từ trứng nước đến khi trưởng thành, có bậc cha mẹ nào kể công?. Luật pháp cũng không quy định tiền công nuôi dưỡng cha mẹ và cha mẹ nuôi con cái. Dự luận địa phương không ai đồng tình mà lên án sự bất hiếu về đạo làm con của ông Thành./.

VỤ ÁN: CHA CHỒNG, CON DÂU ĐI NHÀ NGHỈ

HOÀNG VÂN
Cha chồng và nàng dâu lén lút “đi lại”, vi phạm đạo đức luân thường nhưng pháp luật lại không thể “đụng” tới.
Đã ở cái tuổi 64 nhưng ông Q. ở Gia Lâm (Hà Nội) vẫn một mực đề nghị TAND huyện này cho vợ chồng ông ly hôn. Lý do mà ông đưa ra là vợ ông không quan tâm chăm sóc, bắt ông ăn riêng, ngủ riêng, nhiều lần còn đóng đinh vào vỏ xe máy của ông để ngăn ông đi lại, làm mất quyền tự do của ông. Đã từ lâu ông bà sống ly thân. Bà ở tầng dưới, ông ở tầng trên, mỗi người một bếp. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, ông muốn chia tay để an phận tuổi già, đồng thời để hai bên khỏi cãi vã, gây mất trật tự khu phố…
Vì… cô con dâu
Tuy nhiên theo vợ ông Q., vợ chồng bà chung sống đầm ấm, hạnh phúc mấy chục năm qua và đã có với nhau năm mặt con, cháu nội, cháu ngoại cũng đủ đầy. Việc chồng bà muốn ly hôn lại xuất phát từ… cô con dâu.
Vợ ông Q. kể: Sau khi con trai mất, ông Q. và nàng dâu của họ đã lén lút qua lại với nhau. Chính bà đã nhiều lần thấy chồng và nàng dâu quan hệ với nhau tại căn nhà sát nhà ông bà mà cô con dâu ở. Vì ông bà đều đã già và “người thứ ba” lại là con dâu nên bà nhiều lần đóng cửa khuyên nhủ hai người nhưng cũng không ăn thua.
Bất lực, bà đem chuyện ra nói với con cái. Ban đầu chúng không tin, cho là bà ghen quá. Nhưng đến một ngày ông Q. đi xa, không gọi điện thoại về cho bà mà liên tục gọi về cho nàng dâu, xưng “anh”, “em” với những lời lẽ yêu đương thắm thiết. Do điện thoại được bí mật liên thông giữa hai nhà nên nhiều người cùng nghe thấy và té ngửa rằng chuyện này có thật.
Giông tố trong gia đình này sau đó đã lên đến đỉnh điểm khi người nhà và công an bắt quả tang ông Q. cùng nàng dâu đang ở chung phòng trong một nhà nghỉ ở tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, cô con dâu đã phải viết bản kiểm điểm, thừa nhận “hành vi trên là phạm pháp, phạm đạo đức” và hứa sẽ không “tái phạm”.
Sau khi việc đã hai năm rõ mười, vợ ông Q. cho cô con dâu về nhà bố mẹ ruột để nhờ gia đình bên đó khuyên bảo, cũng là để ông Q. và nàng dâu “ở xa nhau cho tình cảm nguôi ngoai”. Tuy nhiên, cô con dâu thuê nhà và tiếp tục mối quan hệ lén lút với chồng bà. Không chỉ thế, cô con dâu còn xúi giục ông Q. bỏ bà nên giữa bà và cô này đã có nhiều phen “đốp chát” nảy lửa…
Tòa bác đơn ly hôn
Chuyện của ông bà Q., địa phương đã nhiều lần tổ chức hòa giải nhưng không thành. Tại phiên xử sơ thẩm vừa qua tại TAND huyện Gia Lâm, ông Q. vẫn khăng khăng biện bạch là do vợ cấm đoán, không cho nói chuyện với nàng dâu nên hai người phải tìm chỗ kín đáo (nhà nghỉ) để… nói chuyện chứ không hề có gì mờ ám. Theo ông, con trai ông mất sớm, để lại vợ con thì ông “phải có trách nhiệm quan tâm, giúp đỡ”.
Tuy bầm gan tím ruột, vợ ông Q. vẫn tha thiết đề nghị tòa bác đơn xin ly hôn của chồng vì nếu không sẽ “tiếp tay cho mối quan hệ bất chính kia tiếp tục tồn tại”. Bà bảo sẵn sàng tha thứ mọi lỗi lầm của chồng và thấy rằng ông bà tuổi đã cao thì nên tu nhân, tích đức cho con cháu.
Xét thấy mâu thuẫn giữa hai ông bà chưa đến mức trầm trọng, vợ ông Q. vẫn còn tình cảm, các con ông bà cũng có đơn bày tỏ ý nguyện không muốn cha mẹ chia tay nên tòa đã bác đơn của ông Q. để tạo điều kiện cho họ quay về với nhau.
Pháp luật bó tay!
Tòa xử là vậy nhưng hiện bà H. vẫn rất lo lắng, vì theo bà, quan hệ giữa ông Q. và cô con dâu đã “ăn sâu bén rễ”, khó dứt ra được mà bà thì đã già yếu lắm rồi, không còn hơi sức đâu để theo dõi, ngăn cản nữa.
Xung quanh việc này, vấn đề đặt ra là liệu có thể xử lý hành chính hay hình sự chuyện “ăn vụng” của ông Q. và cô con dâu?
Theo Điều 8 Nghị định 87 ngày 21-11-2001 của Chính phủ (về xử phạt hành chính trong lĩnh vực hôn nhân-gia đình), người đang có vợ, có chồng bị phạt tiền từ 100 ngàn đồng đến 500 ngàn đồng nếu kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng. Nếu bố chồng và con dâu kết hôn với nhau thì cũng bị phạt tương tự.
Ở đây, giữa ông Q. và cô con dâu chỉ “quan hệ lén lút” chứ không phải là “chung sống như vợ chồng” (sống chung, lối xóm có chứng kiến, thừa nhận). Mặt khác, ông Q. cũng không kết hôn với cô con dâu. Do đó không thể xử phạt họ.
Hành chính đã thế, còn hình sự thì sao? Theo BLHS, ông Q. và cô con dâu không phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147) bởi tội này đòi hỏi việc ngoại tình phải có các yếu tố “chung sống như vợ chồng”, “gây hậu quả nghiêm trọng” hoặc “đã bị xử phạt hành chính về hành vi mà còn vi phạm”. Trong khi đó, ông Q. và nàng dâu không “chung sống như vợ chồng”, chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng và cũng chưa từng bị phạt hành chính.
Ngoài ra, cũng không thể xử lý hai người về tội loạn luân (Điều 150 BLHS) bởi chủ thể của tội này chỉ là những người cùng dòng máu về trực hệ, anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha.
Như vậy, hành vi của ông Q. và nàng dâu dù vi phạm luân thường đạo lý, trái đạo đức xã hội nhưng pháp luật cũng không thể “đụng” tới vì không quy định. Tuy nhiên, với mối tình bất chính ấy, họ đã và sẽ phải trả giá vì gia đình đổ vỡ và người đời lên án.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: ĐIỀU TRA CHƯA KỸ, ĐÃ VỘI PHÁN QUYẾT

DƯƠNG QUỲNH HƯƠNG
Anh Nguyễn Thế Tiếng (sinh 1964) và chị Nguyễn Thị Kim Sang (sinh 1969) chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999, quá trình chung sống hai người có 2 con chung. Trước khi chung sống với chị Sang ở thị xã Bạc Liêu, anh Tiếng sống ở thành phố Cà Mau và đã có một đời vợ, chị Tô Hồng Mai (ốm mất năm 1997) và hai con riêng là Nguyễn Thế Hiền (sinh 1986) và Nguyễn Thị Hồng Anh (sinh 1991); còn chị Sang sống ở tỉnh Đồng Tháp, đã có một đời chồng (ly hôn năm 1998) và một con trai riêng (chồng cũ nuôi).
Sau khi tự nguyện chung sống với nhau một thời gian, không đăng ký kết hôn, đến năm 2007 do mâu thuẫn trầm trọng nên hai bên không thể chung sống với nhau trong một nhà. Ngày 24.12.2007, TAND thị xã Bạc Liêu đã ra Quyết định số 26/2007/QĐST-HNGĐ về việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, theo đó giao hai con chung cho chị Sang nuôi dưỡng, anh Tiếng có trách nhiệm đóng góp nuôi dưỡng một cháu; về phần tài sản, giao cho anh Tiếng toàn bộ nhà, đất và các vật kiến trúc khác gắn liền với đất tọa lạc tại số B04/27A, khóm Trà Kha A, phường 8, thị xã Bạc Liêu (phần nhà, đất này anh Tiếng mua do bán nhà cũ ở thành phố Cà Mau), còn anh Tiếng có trách nhiệm giao chị Sang 25 lượng vàng 24k (vàng 9999) khi anh Tiếng chuyển nhượng dãy nhà trọ trên mảnh đất có cùng địa chỉ nói trên.
Đến ngày 13.6.2008, Chánh án TAND tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định kháng nghị số 01/2008/QĐKN-DS đối với Quyết định số 26 ngày 24.12.2007 của TAND thị xã Bạc Liêu, theo đó đề nghị Ủy ban Thẩm phán TAND tỉnh Bạc Liêu xét xử giám đốc thẩm hủy về phần tài sản đối với Quyết định nêu trên và giao hồ sơ cho TAND thị xã Bạc Liêu giải quyết lại, bởi vì anh Tiếng và chị Sang đều khai nhận nợ Ngân hàng Đông Á số tiền 600 triệu đồng chưa hết hạn hợp đồng nhưng cấp sơ thẩm không đưa ngân hàng tham gia tố tụng. Tiếp đến, ngày 22.10.2008, TAND thị xã Bạc Liêu ra Quyết định số 14/2008/QĐST-HNGĐ về thay đổi việc nuôi con, theo đó anh Tiếng có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung mà không yêu cầu chị Sang cấp dưỡng nuôi con.

Ngày 13.1.2009, TAND thị xã Bạc Liêu ra Bản án sơ thẩm số 02/2009/HNGĐ-ST về chia tài sản sau hôn nhân đã quyết định: không chấp nhận yêu cầu của chị Sang đòi anh Tiếng phải chia tài sản nhà, đất và tiện nghi vật dụng tại địa chỉ B04/27A, khóm Trà Kha A, phường 8, thị xã Bạc Liêu, do các tài sản này được anh Tiếng tạo lập riêng trước khi hai người sống chung với nhau, các giấy tờ về quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất đều đứng tên anh Tiếng; anh Tiếng có trách nhiệm giao trả chị Sang 20 lượng vàng, vì biên bản hòa giải thành ngày 24.12.2007 chị Sang xác định anh Tiếng mượn 20 lượng vàng chứ không phải 25 lượng vàng.
Do bản án nêu trên có kháng cáo, ngày 23.4.2009, TAND tỉnh Bạc Liêu ra Bản án phúc thẩm số 06/2009/HN và GĐPT sửa một phần án sơ thẩm, theo đó không chấp nhận yêu cầu của chị Sang đòi anh Tiếng phải chia tài sản nhà, đất và tiện nghi vật dụng nhưng chấp nhận yêu cầu của chị Sang đòi anh Tiếng phải trả 25 lượng vàng. Căn cứ Bản án phúc thẩm số 06 nói trên, ngày 7.5.2009, Trưởng thi hành án thị xã Bạc Liêu đã ra Quyết định số 181/QĐ-THA buộc anh Tiếng phải trả chị Sang 25 lượng vàng; ngày 19.1.2010, Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bạc Liêu đã tổ chức cưỡng chế kê biên tài sản là nhà và đất của anh Tiếng.
Sau khi có bản án phúc thẩm, các con của anh Tiếng (với chị Mai) là Thế Hiền và Hồng Anh đã liên tục khiếu nại Bản án phúc thẩm số 06 đề nghị xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, bởi họ là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng lại không được bản án đề cập tới. Lý do là, tài sản do anh Tiếng mua gồm nhà, đất ở thị xã Bạc Liêu là tiền do anh Tiếng bán căn nhà chung của anh Tiếng và chị Mai (vợ cũ) ở số 07 Lê Lai (Trần Hưng Đạo cũ), thành phố Cà Mau. Trước khi chị Mai mất, ngày 15.4.1997 trước sự chứng kiến của thân tộc hai bên, anh Tiếng và chị Mai thỏa thuận và cam kết (bằng văn bản) khẳng định căn nhà số 7 Trần Hưng Đạo và các tài sản khác trong căn nhà đó là tài sản chung của hai vợ chồng được tạo dựng sau nhiều năm làm ăn; nếu chị Mai chết thì toàn bộ tài sản nói trên được để lại cho hai con là Thế Hiền và Hồng Anh để nuôi chúng khôn lớn; trong trường hợp anh Tiếng xây dựng gia đình mới thì đề nghị gia đình hai bên đứng ra quản lý số tài sản này. Vì vậy, để bán được căn nhà số 07 Trần Hưng Đạo và di chuyển cả gia đình về thị xã Bạc Liêu sinh sống, ngày 6.5.2000 anh Tiếng phải cam kết (bằng văn bản) với hai họ nội ngoại: toàn bộ số tiền bán nhà này là của hai con Thế Hiền và Hồng Anh, anh Tiếng hứa “tôi sẽ không lấy một đồng nào, tất cả cho hai đứa con tôi học hành thành tài và có cuộc sống yên ổn như những lời mẹ hai đứa trăng trối”.
Tuy nhiên, khi xét xử tòa án cấp sơ thẩm, cũng như tòa án cấp phúc thẩm đều không xác minh làm rõ tài sản riêng của anh Tiếng được tạo lập từ nguồn bán nhà số 7 Trần Hưng Đạo, ngoài anh Tiếng còn có đồng chủ sở hữu nào nữa không, qua đó xác định chính xác người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Có thể nói, việc hai cấp xét xử không đưa hai con của anh Tiếng (với chị Mai) là Thế Hiền và Hồng Anh vào tham gia tố tụng trong vụ án này là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, dẫn đến việc bản án phúc thẩm kết luận anh Tiếng có toàn quyền sở hữu đối với khối tài sản ở thị xã Bạc Liêu là không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án. Điều đáng nói là, có đối tượng không phải là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng trong bản án sơ thẩm, phúc thẩm đều xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, như Ngân hàng Đông Á chi nhánh Bạc Liêu -  vì có việc, anh Tiếng và chị Sang trước kia có vay của Ngân hàng Đông Á số tiền 600 triệu đồng. tuy nhiên trên thực tế, tòa án không phải xem xét vấn đề này vì hợp đồng vay mượn tiền đã được thanh lý (từ 7.5.2007) khá lâu trước khi vụ án được tòa án giải quyết.
Về việc anh Tiếng phải trả chị Sang 25 lượng vàng, Bản án sơ thẩm số 02 căn cứ vào “Tờ cam kết” ngày 15.10.2007 giữa anh Tiếng và chị Sang để quyết định anh Tiếng phải trả cho chị Sang 20 lượng vàng, còn Bản án phúc thẩm số 06 lại căn cứ vào Quyết định số 26 về việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự để quyết định anh Tiếng phải trả cho chị Sang 25 lượng vàng. Vấn đề đặt ra phải làm rõ là, giữa anh Tiếng và chị Sang có hay không có việc cho nhau vay mượn tài sản có giá trị tương đương 20 hoặc 25 lượng vàng. Thực chất vấn đề này là giữa anh Tiếng và chị Sang sau một thời gian chung sống có hai con chung, nhưng càng về sau mâu thuẫn về lối sống càng gay gắt, không thể hàn gắn nổi. Để giải quyết nhanh việc chia tay ai về nhà nấy, hai bên thống nhất thỏa thuận tại “Tờ cam kết” ngày 15.10.2007 có sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn Túy, theo đó chị Sang có trách nhiệm nuôi hai con chung mà không cần sự chu cấp nuôi dưỡng của anh Tiếng, đổi lại anh Tiếng tự nguyện đưa chị Sang 20 lượng vàng để phụ giúp việc nuôi dưỡng hai con chung. Thực tế hoàn toàn không có việc anh Tiếng mượn chị Sang số tài sản gồm 2 xe Honda (dream) và một số nữ trang khoảng 20 lượng vàng vào thời điểm năm 1999 như trong “Tờ cam kết” ghi nhận. Tại “Giấy xác nhận” ngày 18.1.2010, ông Nguyễn Văn Túy – người chứng kiến thỏa thuận nói trên khẳng định một lần nữa hoàn toàn không có việc chị Sang cho anh Tiếng vay mượn tài sản để làm ăn. Điều đáng lưu ý là về phần tài sản của chị Sang trước khi đến chung sống với anh Tiếng vào năm 1999 được thể hiện tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 07/QĐTTLH ngày 23.5.1998 của TAND huyện Tam Nông (Đồng Tháp) công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Sang với chồng cũ, theo đó về phần tài sản đã ghi rõ là không có.
Với mong muốn thúc đẩy nhanh và giải quyết dứt điểm việc chia tay, tại biên bản hòa giải thành ngày 14.12.2007, anh Tiếng cũng đồng ý trả chị Sang 25 lượng vàng (thêm thỏa thuận giúp đỡ về nơi ở sau ly hôn) với điều kiện chị Sang vẫn phải tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung (đây là căn cứ để TAND thị xã Bạc Liêu ra Quyết định số 26 yêu cầu anh Tiếng giao chị Sang 25 lượng vàng). Tuy nhiên, do chị Sang không thực hiện trách nhiệm nuôi dưỡng hai con chung như cam kết ngày 15.10.2007, mà trả các con chung để anh Tiếng nuôi dưỡng, vì vậy anh Tiếng không chấp nhận việc đưa chị Sang 20 (hoặc 25) lượng vàng.
Qua diễn biến của vụ việc cho thấy, hoàn toàn không có chứng cứ nào chứng minh anh Tiếng có mượn tài sản của chị Sang, Bản án phúc thẩm số 06 quyết định anh Tiếng trả chị Sang 25 lượng vàng chỉ căn cứ vào cam kết của anh Tiếng mà cam kết này chỉ được thực hiện khi chị Sang có trách nhiệm nuôi dưỡng hai con chung, giải quyết như vậy là phiến diện dẫn đến quyết định của bản án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án.
Chính vì những lý do nêu trên, Bản án phúc thẩm số 06 ngày 23.4.2009 của TAND tỉnh Bạc Liêu cần phải được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm để bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự
SOURCE: BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN
Trích dẫn từ:

TRANH CHẤP CHA, MẸ, CON: CÔ GÁI CÂM KIỆN ANH CHĂN VỊT

THANH THIÊN
Tòa đã ba lần mời anh chăn vịt đi giám định gien nhưng anh này đều không chịu đi nên có nghĩa đã mặc nhiên thừa nhận đứa bé là con mình?
Mới đây, TAND huyện Cai Lậy (tỉnh Tiền Giang) vừa xử sơ thẩm vụ chị H. (câm, điếc bẩm sinh) kiện đòi một anh thanh niên phải cấp dưỡng cho con. Dù không nghe, nói được nhưng chị này biết chữ nên đã viết kể tường tận mối quan hệ giữa hai người…
Tác giả là anh chăn vịt
Theo đơn kiện và trình bày của người đại diện cho chị H., khoảng đầu năm 1996, chị thường đi ruộng vào ban đêm. Một anh thanh niên cùng xóm, nuôi vịt gần nhà, thấy chị hay tới lui nên đến làm quen. Lâu dần hai người trở thành thân…
Mấy tháng sau, chị H. ra dấu chỉ vào bụng. Người nhà thấy dáng vẻ chị là lạ nên vội vàng chở đi khám. Kết quả chị đã mang thai khoảng năm tháng.
Người nhà ra dấu hỏi lại chị mang thai với ai. Dù bị tật nhưng chị này vẫn học được chữ nên đã lấy giấy bút viết ra tên người thanh niên chăn vịt. Biết được “thủ phạm”, người nhà chị này liền báo với ấp mời anh này đến hỏi nguồn căn. Tuy nhiên, anh này lắc đầu, không chịu hợp tác.
Sau đó, ấp đã mời nhiều thanh niên lại để cho chị H. nhận mặt ai là tác giả của cái thai. Không chút ngần ngừ, chị chỉ ngay vào anh chăn vịt! Chị cho biết đã quan hệ với anh chăn vịt bảy lần và bào thai trên là kết quả của những lần hai người gần gũi…
Phải có nghĩa vụ cấp dưỡng
Ít lâu sau, chị H. sinh em bé. Sau nữa, chị yêu cầu anh chăn vịt cấp dưỡng cho con nhưng anh này không đồng ý. Do vậy, chị H. phải khởi kiện ra tòa…

Vừa rồi, tòa phải xử vắng mặt anh chăn vịt vì đã triệu tập hợp lệ theo quy định nhưng anh này không đến.
Tòa cho biết những lời khai trước đây anh này đều khẳng định con chị H. không phải con mình. Thế nhưng tòa đã ba lần ra thông báo đi giám định gien để làm rõ đứa bé có phải con của anh hay không, anh này đều không chịu đi.
Tòa nhận định anh này không chịu đi giám định nghĩa là mặc nhiên thừa nhận đứa bé trên là con mình.
Ngoài ra, nhiều người làm chứng cũng xác định đứa bé là con anh chăn vịt chứ không phải của ai khác. Bởi từ trước đến nay, mỗi lần được hỏi, chị H. đều chỉ vào anh này và chị cũng không quan hệ yêu thương ai ngoài anh này.
Cuối cùng tòa quyết đứa bé là con của anh chăn vịt. Tuy nhiên, tòa vẫn giao con cho chị H. tiếp tục nuôi dưỡng. Còn anh chăn vịt phải cấp dưỡng nuôi con. Chị H. yêu cầu anh phải cấp dưỡng 300.000 đồng/tháng là hợp lý vì so với điều kiện sinh hoạt, giá cả thị trường hiện nay thì không cao và thấp hơn 1/2 mức lương tối thiểu. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 12-1996 cho đến khi cháu bé thành niên và có khả năng lao động. Anh chăn vịt được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Viết giấy trả lời tòa
Tại phiên sơ thẩm, do chị H. không thể nghe, nói được nhưng biết chữ nên tòa đã viết câu hỏi ra giấy rồi đưa xuống cho chị này xem. Những câu hỏi đơn giản thì chị ra dấu để trả lời. Còn những câu hỏi phức tạp thì chị này viết lại gửi cho tòa. May nhờ vậy mà tòa đã không gặp khó khăn gì khi xét xử.
Thực ra, nhiều tòa đã khổ sở khi xét xử những bị cáo có khuyết tật như trên. Trước đây, có phiên tòa bị cáo bị lãng tai, chủ tọa nói bình bình thì đương sự không nghe rõ. Tòa đành phải mở âm lượng hết cỡ, đương sự mới loáng thoáng nghe nhưng có nhiều câu trả lời đâu đâu, không ăn nhập nội dung. Kết thúc phiên xử, cả tòa mệt nhoài.
Nhiều phiên khác tòa phải mời người phiên dịch cho những người câm, điếc thì mới có thể xét xử được.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TRANH CHẤP NGHĨA VỤ CỦA CHA MẸ VỚI CON SAU LY HÔN: ĐÒI CHỒNG CŨ CẤP DƯỠNG NUÔI CON

PHẠM THÁI QUÍ
Con sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ ngày bản án, quyết định của tòa xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực là con chung của hai người. Tòa buộc người vợ phải chứng minh cháu bé sinh ra sau khi ly hôn là con của chồng cũ là không phù hợp.
Hơn 10 năm trước, anh T. kết hôn với chị L. rồi sinh được một bé trai. Do chị L. làm hướng dẫn viên du lịch nên nay đây mai đó khiến anh T. thường nghi vợ không chung thủy.
Sinh con sau sáu tháng ly hôn
Sự nghi ngờ này khiến cho hai vợ chồng luôn xung đột. Đến đầu năm 2006, anh T. gửi đơn ra tòa đòi ly hôn. Do chị L. cũng đồng ý nên ngày 10-5-2006, tòa ra quyết định công nhận việc thuận tình này…
Sáu tháng sau, chị L. sinh thêm một bé gái. Làm giấy khai sinh cho con chị vẫn khai tên cha là anh T. Được một thời gian, do hoàn cảnh khó khăn, chị L. yêu cầu anh T. góp thêm tiền để nuôi bé thứ hai. Anh T. không đồng ý vì cho rằng bé không phải con mình.
Thấy anh T. dây dưa từ chối trách nhiệm của người cha, chị L. làm đơn khởi kiện yêu cầu TAND huyện T. (tỉnh Quảng Bình) giải quyết buộc anh T. phải cấp dưỡng nuôi bé.
Sau khi xem xét đơn khởi kiện, tòa cho rằng chị L. sinh cháu bé sau khi đã ly hôn nên để có cơ sở buộc anh T. cấp dưỡng nuôi con, chị phải làm đơn yêu cầu tòa án xác định cháu bé này là con anh T. Sau khi có kết quả, tòa mới xem xét giải quyết vụ kiện đòi cha cấp dưỡng…

Vẫn là con chung
Với tình huống khởi kiện của chị L. đã có hai luồng quan điểm trái ngược nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng Tòa án huyện T. buộc chị L. phải có yêu cầu xác định cha cho con là cần thiết, đúng quy định. Bởi chị L. sinh cháu bé sau khi đã ly hôn chồng. Trong quyết định giải quyết việc ly hôn trước đó đã không đề cập, không xác định người con này là con của ai. Chính vì vậy, để có cơ sở quyết định việc chăm nom, cấp dưỡng nuôi con thì chị L. phải yêu cầu tòa án xác định cha cho con.
Ngược lại, quan điểm thứ hai bảo yêu cầu trên của tòa là không cần thiết vì vấn đề này đã được pháp luật quy định. Theo Điều 63 Luật Hôn nhân và Gia đình, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng… Trường hợp nào được coi là người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân thì Điều 21 Nghị định 70 (ngày 3-10-2001 của Chính phủ, quy định chi tiết Luật Hôn nhân và Gia đình) cũng quy định cụ thể: “Con sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ ngày người chồng chết hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của tòa án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật thì được xác định là con chung của hai người”. Như vậy, trường hợp này tòa án phải thụ lý giải quyết đơn kiện của chị L. vì cháu bé sinh ra trong vòng 300 ngày sau khi vợ chồng chị L. có quyết định ly hôn.
Những người theo quan điểm thứ hai phân tích thêm, tòa án chỉ phải xác định cháu bé là con của ai trong trường hợp anh T. không thừa nhận cháu là con. Tuy nhiên, lúc này anh T. phải có yêu cầu nhờ tòa giải quyết. Tòa buộc chị L. phải yêu cầu tòa án xác định đó là con chung của hai người là không phù hợp.
Việc tồn tại quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân hoặc ngoài thời kỳ hôn nhân là một thực tế của xã hội từ xưa đến nay. Chính vì vậy mà pháp luật hôn nhân và gia đình đã dự liệu bằng việc đưa ra khung pháp lý xác định cha, mẹ cho con trong giai đoạn này. Quan điểm thứ hai nêu trong bài báo là phù hợp, đúng pháp luật, tôi đồng tình với quan điểm này.
Người chồng có thể cho rằng đó không phải là con mình. Cũng có thể có lý. Nhưng như vậy anh phải yêu cầu tòa xác định… Trên thực tế sẽ có hai kết quả, một là cháu bé không phải là con anh, hai là con của anh. Việc cháu không phải con anh, anh từ chối cấp dưỡng là không sai. Tuy nhiên, nếu là con anh thật thì anh phải có trách nhiệm chăm lo, nuôi dưỡng con, không tránh đi đâu được.
Luật sư PHAN THANH SƠN, Đoàn Luật sư tỉnh Dăk Lăk
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN: ỦY QUYỀN VỀ TÀI SẢN TRONG ÁN LY HÔN?

HỒNG TÚ
Luật quy định đối với “việc ly hôn” đương sự không được ủy quyền cho người khác nhưng “việc ly hôn” là gì thì lại đang có nhiều cách hiểu khác nhau.
Khi ly hôn, đương sự có được ủy quyền cho người khác thay mình tham gia phiên tòa phúc thẩm nếu hai bên chỉ còn tranh chấp về phần tài sản chung hay không? Luật quy định chưa rõ nên tòa lúng túng, các chuyên gia thì mỗi người một ý…
Năm 1995, anh NCH đăng ký kết hôn với chị HCU. Sau đó, hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Xung đột lên đến đỉnh điểm vào năm 2004 khi anh H. cho rằng đứa con thứ hai không phải là con mình. Do không thể hàn gắn, tháng 4-2008, chị U. đã nộp đơn ra TAND một huyện thuộc tỉnh Đồng Nai để yêu cầu tòa chấp thuận cho mình ly hôn với anh H.
Định ủy quyền về phần tài sản
Tháng 3-2010, TAND huyện này xử sơ thẩm đã tuyên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị U., giao hai con cho chị U. nuôi dưỡng. Về phần tài sản, tòa giao quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cho chị U. nhưng chị U. phải có nghĩa vụ thanh toán cho anh H. số tiền bằng phần giá trị tương đương với phần của anh H.
Không đồng ý, anh H. kháng cáo về phần nuôi con và phần tài sản. Sau khi TAND tỉnh Đồng Nai thụ lý, làm việc với tòa, anh H. đã thay đổi yêu cầu kháng cáo. Anh không kháng cáo phần con chung nữa mà chỉ kháng cáo yêu cầu TAND tỉnh Đồng Nai xem xét phần chia tài sản chung.
Sau đó do vụ án chưa được giải quyết dứt điểm, trong khi bản thân chuẩn bị phải xuất cảnh ra nước ngoài, chị U. đã dự định ủy quyền cho người khác đại diện mình tham gia quá trình xét xử phúc thẩm.

Khi chị U. trao đổi về dự định ủy quyền này, thẩm phán thụ lý vụ án cũng băn khoăn, không biết có nên chấp thuận hay không bởi đây là một tình huống mới trong thực tiễn xét xử án hôn nhân và gia đình. Về nguyên tắc, ly hôn là quyền nhân thân, các đương sự không được ủy quyền cho người khác mà phải trực tiếp tham gia tố tụng. Tuy nhiên, ở đây các đương sự đã không còn tranh chấp về việc ly hôn hay nuôi con chung nữa mà chỉ tranh chấp về tài sản.
Luật có cho phép?
Chúng tôi đã đem tình huống trên đi hỏi một số chuyên gia pháp luật và nhận được hai luồng quan điểm khác nhau.
Theo luật sư Nguyễn Văn Hưng (Đoàn Luật sư TP.HCM), chị U. có thể ủy quyền cho người khác đại diện tham gia phiên tòa phúc thẩm. Luật sư Hưng lý giải: Pháp luật chỉ không cho phép ủy quyền trong những trường hợp liên quan đến quyền nhân thân. Cụ thể, theo Điều 10 Nghị định 158 ngày 27-12-2005 của Chính phủ, việc ủy quyền chỉ không được phép thực hiện trong trường hợp đăng ký kết hôn, yêu cầu ly hôn, đăng ký việc nuôi con nuôi, đăng ký giám hộ… Như vậy, nếu cấp phúc thẩm phải xem xét cả những tranh chấp liên quan đến quyền nhân thân như yêu cầu ly hôn, quyền nuôi con thì chị U. không thể ủy quyền cho người khác được. Tuy nhiên, một khi cấp phúc thẩm chỉ phải xem xét giải quyết tranh chấp tài sản chung thì việc ủy quyền của chị U. hoàn toàn được và không làm ảnh hưởng đến việc xét xử của tòa.
Ngược lại, luật sư Nguyễn Anh Dũng (Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai) khẳng định chị U. phải tự tham gia phiên tòa phúc thẩm. Theo luật sư Dũng, trong một vụ ly hôn, đương sự thường có ba yêu cầu cụ thể để yêu cầu tòa giải quyết: yêu cầu xin được ly hôn, yêu cầu nuôi con chung và việc cấp dưỡng, yêu cầu chia tài sản chung. Khoản 3 Điều 73 BLTTDS đã quy định rất rõ: “Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng”. Như vậy, cho dù chỉ là quan hệ tranh chấp về phần tài sản chung thì đương sự cũng không được ủy quyền cho người khác vì đây là một trong ba yêu cầu của một vụ ly hôn mà tòa đang giải quyết.
Theo luật sư Dũng, luật đã quy định như vậy thì phải tuân thủ. Tuy nhiên, về lâu dài thì nên sửa luật để tạo điều kiện cho đương sự được linh hoạt trong việc bảo vệ quyền lợi của mình khi tranh chấp tài sản chung. Bởi lẽ xét cho cùng, yêu cầu chia tài sản chung trong một vụ án ly hôn không dính dáng gì đến quyền nhân thân nên việc ủy quyền sẽ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử.
Có thể ủy quyền
Trong một vụ án ly hôn, chỉ có yêu cầu xin ly hôn là yêu cầu bắt buộc phải do tòa xem xét, giải quyết là chấp thuận hay bác bỏ. Các vấn đề khác như quyền nuôi con và cấp dưỡng, chia tài sản chung, nếu như vợ chồng tự thỏa thuận được thì tòa không xem xét, giải quyết.
Như vậy, luật chỉ không cho phép ủy quyền trong việc ly hôn chứ không cấm ủy quyền trong các vấn đề khác. Thực tế, nếu các đương sự không đề cập đến việc chia tài sản chung trong vụ án ly hôn, sau đó mới khởi kiện bằng một vụ án khác để nhờ tòa giải quyết thì một trong các bên vẫn có thể ủy quyền cho người khác làm đại diện.
TS NGUYỄN VĂN TIẾN, giảng viên Trường ĐH Luật TP.HCM
Được ủy quyền về phần tài sản
Do anh H. chỉ kháng cáo phần chia tài sản chung nên tòa sẽ căn cứ vào quy định của BLDS để giải quyết. Luật chỉ không cho phép ủy quyền trong trường hợp tranh chấp về quan hệ nhân thân, còn tranh chấp về tài sản thì luật không cấm. Do vậy, chị U. hoàn toàn có thể ủy quyền cho người khác để đại diện tham gia giải quyết trong phạm vi tranh chấp chia tài sản chung.
Luật sư CAO QUANG THUẦN, Đoàn Luật sư TP.HCM
Cần hướng dẫn cụ thể
Khoản 3 Điều 73 BLTTDS quy định “việc ly hôn” là chưa rõ ràng, có thể khiến cho mọi người hiểu theo hai ý: Thứ nhất là vụ án ly hôn, thứ hai là yêu cầu ly hôn trong một vụ án ly hôn. Nếu hiểu theo ý thứ nhất thì đương sự không được ủy quyền gì cả, dù là tranh chấp tài sản chung cũng vậy. Còn nếu hiểu theo ý thứ hai thì đương sự chỉ không được ủy quyền đối với yêu cầu ly hôn mà thôi.
Tôi nghĩ những người có thẩm quyền cần xem xét điều chỉnh lại quy định này hoặc có văn bản hướng dẫn cụ thể để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.
Một kiểm sát viên VKSND quận Bình Thạnh (TP.HCM)
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: ĐÒI TIỀN … LÀM VỢ

HOÀNG YẾN
Ra tòa, người vợ đặt điều kiện với chồng rằng muốn ly hôn thì phải bồi thường “tiền làm vợ” trong bốn năm nay.
TAND một quận tại TP.HCM đang giải quyết một vụ ly hôn khá hi hữu khi người vợ đòi chồng phải trả “tiền làm vợ” trong thời gian chung sống vì bà đã “hy sinh hết mực” cho chồng.
Chồng đòi chia tay, vợ nhất quyết không chịu
Trước đó, giữa tháng 4, ông K. nộp đơn ra tòa xin ly hôn. Trong đơn, ông trình bày rằng ông kết hôn với bà H. từ năm 2007. Quá trình sống chung, do có mâu thuẫn về tính cách nên họ không còn thương yêu, quan tâm nhau nữa. Cảm thấy hôn nhân không còn ý nghĩa, ông quyết định đường ai nấy đi. Giữa hai người không có con chung, còn tài sản chung chỉ có một căn nhà mua trong thời kỳ hôn nhân. Ông K. yêu cầu tòa giải quyết cả việc phân chia căn nhà.
Thụ lý vụ án, tòa mời hai bên đến hòa giải. Trái với ông K., bà H. khăng khăng không chịu ly hôn. Bà nói vẫn thương yêu chồng, cuộc sống gia đình vẫn đang rất hạnh phúc. Để làm bằng chứng, bà H. trình cho tòa những tấm ảnh vợ chồng âu yếm chụp chung trong chuyến đi du lịch gần đây. Đặc biệt, trong các phiên hòa giải, bà luôn tranh thủ nhẹ nhàng hỏi chồng: “Em có làm gì mình buồn không, mình nói để em sửa”. Vợ thủ thỉ gì, ông K. cũng một mực im lặng. Khi tòa hỏi đến, ông vẫn nói là muốn ly hôn vì không thể sống chung nữa.
Bất ngờ đòi tiền… làm vợ
Thấy lạ, người thẩm phán giải quyết vụ việc cố công tìm hiểu nguyên nhân đích thực dẫn đến việc ông K. một hai đòi ly hôn nhưng cả hai vợ chồng đều kín như bưng, không ai tiết lộ gì. Cuối cùng, qua nhiều lần hòa giải không thành, mới đây tòa phải đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên xử, bà H. bất ngờ ra điều kiện là nếu muốn ly hôn thì ông K. phải bồi thường tiền… làm vợ cho bà. Bà nói suốt thời gian chung sống, bà chẳng có lỗi lầm gì, chỉ biết hy sinh hết mực cho chồng. Nay ông K. đã quyết đoạn tình thì phải trả giá.
Khổ nỗi, đưa ra yêu cầu như vậy nhưng bà H. lại bảo chưa thể tính được số tiền là bao nhiêu, cần có thời gian và đề nghị tòa hoãn xử. Thực chất, tòa vẫn chưa tìm ra nguyên nhân thật sự khiến ông K. đòi chia tay nên quyết định hoãn xử để tìm hiểu thêm.
Nguyên nhân đích thực
Sau đó, một lần đến làm việc với tòa, bà H. nức nở cho biết ông K. là mối tình đầu của bà. Yêu ông, bà vẫn quyết định đến với ông dù ông hơn bà rất nhiều tuổi, từng có một đời vợ với hai con riêng. Những tưởng hôn nhân hạnh phúc, bà chờ đợi một kết quả của tình yêu giữa hai người thành hình. Thế mà nhiều năm, dù quan hệ vợ chồng rất tốt, bà vẫn không có con. Đi khám, bác sĩ nói với bà mọi việc bình thường, không có gì đáng lo. Không nghĩ là nguyên nhân có thể từ phía chồng nên bà vẫn tiếp tục chờ đợi. Nhưng một lần, bà tình cờ biết được ông K. đã làm phẫu thuật triệt sản từ lâu và giấu nhẹm không cho bà biết.
Quá uất ức vì thấy mình bị lừa dối, từ đó bà nhiều lúc nặng lời, hằn học với ông dù vẫn còn yêu chồng. Rồi một ngày, nhận được giấy triệu tập từ tòa, biết ông muốn ly hôn, bà bị sốc, không muốn chấp nhận thực tế bởi theo bà, lỗi hoàn toàn thuộc về phía ông.
Đến đây, vị thẩm phán đã hiểu nguyên nhân sâu xa gây ra mâu thuẫn của họ. Ông mời ông K. đến làm việc rồi nói muốn tâm sự như hai người bạn. Ban đầu ông K. ngỡ ngàng không nói gì. Một lúc lâu, ông mới lên tiếng kể về đời mình. Hôn nhân không hạnh phúc, ông quyết định chia tay với người vợ đầu. Tài sản mất sạch về tay vợ, quá ngán ngẩm chuyện tình cảm, ông quyết tâm không đến với ai nữa, chỉ chí thú làm ăn để lo cho hai con. Trong thời gian suy sụp này, ông đã đi phẫu thuật triệt sản. Và đó chính là chuyện khiến ông phải ân hận hiện nay. Bởi lẽ trái tim ông rung động trở lại khi gặp bà H. Bà chung tay giúp ông từ công việc làm ăn cho đến gia đình. Thương sự đảm đang cũng như tấm lòng của bà, ông quyết định tiến tới hôn nhân lần nữa.
Vợ chồng sống với nhau rất hạnh phúc nhưng mọi chuyện trở nên buồn bã từ khi bà biết ông đã triệt sản. Dù vẫn yêu thương bà nhưng ông nghĩ mình phải ra đi bởi bà cần một đứa con mà ông thì không thể cho bà được. Ông đã từng nghĩ bù đắp cho bà bằng cách chiều chuộng hết mực nhưng những điều đó cũng không giúp bà thôi nghĩ về một đứa con chung giữa họ. Vì thế, ông cương quyết ly hôn để đôi bên không phải đau khổ thêm.
Nghe những lời tâm sự ấy, vị thẩm phán đã khuyên ông về nói chuyện thật bình tĩnh với vợ để hai bên có thể thấu hiểu nhau rồi mới quyết định mọi chuyện. Trong thâm tâm, vị thẩm phán rất muốn họ đoàn tụ nhưng nếu một bên cương quyết chia tay thì tòa cũng phải đưa ra xét xử.
Khi nào thì được ly hôn?
Theo Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, nếu xét thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì tòa quyết định cho ly hôn.
Trên thực tế, khi giải quyết yêu cầu ly hôn, tòa phải xem xét từng trường hợp cụ thể. Trong quá trình giải quyết, nếu xét thấy những mâu thuẫn giữa hai vợ chồng chỉ là nhất thời, không đáng, có thể khắc phục được thì tòa sẽ bác đơn. Hoặc khi một bên cương quyết đòi ly hôn với lý do chồng (vợ) có quan hệ tình cảm với người khác mà không có căn cứ rõ ràng hoặc người chồng (vợ) đó đã sửa sai thì thẩm phán cũng tạo điều kiện cho hai bên đoàn tụ. Ngoài ra, tòa cũng bác đơn đối với những người xin ly hôn với lý do không chính đáng, chẳng hạn như đã sống chung hàng chục năm mà lại nói là tính tình không hòa hợp…
Dù vậy, gặp trường hợp xin ly hôn vì các lý do tế nhị như đời sống chăn gối không hòa hợp hay một bên vô sinh, các thẩm phán cũng không thể bác đơn một cách cứng nhắc mà còn tùy trường hợp, tùy ý chí của hai bên mới quyết định.
Một thẩm phán Tòa Dân sự TAND TP.HCM

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code