Showing posts with label Tranh chap Bien Dong va chu quyen cua Viet Nam. Show all posts
Showing posts with label Tranh chap Bien Dong va chu quyen cua Viet Nam. Show all posts

Wednesday, January 22, 2014

Tuyên Bố của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải ngày 4 tháng 9 năm 1958

(Được thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958)
Bản dich tiếng Anh
Declaration of The Government of The People's Republic of China on the Territorial Sea

(Approved by the 100th Session of the Standing Committee of the National People's Congress on 4th September, 1958)

The People's Republic of China hereby announces:

(1) This width of the territorial sea of the People's Republic of China is twelve national miles. This provision applies to all Territories of the People's Republic of China, including the mainland China and offshore islands, Taiwan (separated from the mainland and offshore islands by high seas) and its surrounding islands, the Penghu Archipelago, the Dongsha Islands, the Xisha islands, the Zhongsha Islands, the Nansha Islands and other islands belonging to China.

(2) The straight lines linking each basic point at the mainland's coasts and offshore outlying islands are regarded as base lines of the territorial sea of the mainland China and offshore islands. The waters extending twelve nautical miles away from the base lines are China's territorial sea. The waters inside the base lines, including Bohai Bay and Giongzhou Strait, are China's inland sea. The islands inside the base lines, including Dongyin Island, Gaodeng Island, Mazu Inland, Baiquan Island, Niaoqin Island, Big and Small Jinmen Islands, Dadam Island, Erdan Island and Dongding Island, are China's inland sea islands.

(3) Without the permit of the government of the People's Republic of China, all foreign aircrafts and military vessels shall not be allowed to enter China's territorial sea and the sky above the territorial sea.
Any foreign vessel sailing in China's territorial sea must comply with the relevant orders of the government of the People's Republic of China.

(4) The above provisions (2) and (3) also apply to Taiwan and its surrounding islands, the Penghu Islands, the Dongsha Islands, the Xisha Islands, the Zhongsha Islands, the Nansha Islands and other islands belonging to China.
Taiwan and Penghu are still occupied with force by the USA. This is an illegality violating the People's Republic of China's territorial integrity and sovereignty. Taiwan and Penghu are waiting for recapture. The People's Republic of China has rights to take all appropriate measures to recapture these places in due course. It is China's internal affairs which should not be interfered by any foreign country.

 Trích từ nguồn: http://law.hku.hk/clsourcebook/10033.htm
Bản dich tiếng Việt
Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải

(Được thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958) 

Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố: 

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Điều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc. 

(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Đại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc. 

(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc 

(4) Điều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc. 
Đài Loan và Penghu hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Đây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Đài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lai. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc.

Chú thích: Quần đảo Tây Sa (tên tiếng Tàu) = Quần đảo Hoàng Sa = Paracel Islands Quần đảo Nam Sa (tên tiếng Tàu) = Quần đảo Trường Sa = Spratly Islands   
Báo Nhân Dân đề cập đến Công Hàm


CHÍNH PHỦ NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ CÔNG NHẬN QUYẾT ĐỊNH VỀ HẢI PHẬN CỦA TRUNG-QUỐC
Sáng ngày 21.9.1958, đồng chí Nguyễn-Khang, Đại sứ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tại Trung-quốc, đã gặp đồng chí Cơ Bàng-phi, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa và đã chuyển bức công hàm sau đây của Chính phủ ta:

Thưa đồng chí Chu Ân-lai,
Tổng lý Quốc vụ viện nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa,

Chúng tôi xin trân trọng thông báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:
Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.
Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa trên mặt biển.
Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958
PHẠM VĂN ĐỒNG
Thủ tướng Chính phủ
nước Việt-nam dân chủ cộng hoà


Dưới đây là tai liệu do Bộ Ngoọi Giao Hoa Kỳ soạn thảo ngày 1 tháng 7 năm 1972.

STRAIGHT BASELINES: PEOPLE'S REPUBLIC OF CHINA
The Government of the People's Republic of China (PRC) on September 4, 1958, publicly claimed a 12-nautical mile territorial sea to be measured from straight baselines. The Peking Review text of September 9, 1958, states:
DocumentDeclaration on China's Territorial Sea
The Government of the People's Republic of China on September 4 issued the following declaration on China's territorial sea:
The Government of the People's Republic of China declares:
1) The breadth of the territorial sea of the People's Republic of China shall be twelve nautical miles. This provision applies to all territories of the People's Republic of China, including the Chinese mainland and its coastal islands, as well as Taiwan and its surrounding islands, the Penghu Islands and all other islands belonging to China which are separated from the mainland and its coastal islands by the high seas.
2) China's territorial sea along the mainland and its coastal islands takes as its baseline the line composed of the straight lines connecting basepoints on the mainland coast and on the outermost of the coastal islands; the water area extending twelve nautical miles outward from this baseline is China's territorial sea. The water area inside the baseline, including Pohai Bay and Chiungchow Straits, are Chinese inland waters. The islands inside the baseline, including Tungyin Island, Kaoteng Island, the Matsu Islands, the Paichuan Islands, Wuchiu Island, the Greater and Lesser Quemoy Islands, Tatan Island, Erhtan Island and Tungting Island, are islands of the Chinese inland waters.
3) No foreign vessels for military use and no foreign aircraft may enter China's territorial sea and the air space above it without the permission of the Government of the People's Republic of China.
4) The principles provided in paragraphs 2) and 3) likewise apply to Taiwan and its surrounding islands, the Penghu Islands, the Tungsha Islands, and Hsisha Islands, the Chungsha Islands, the Nansha Islands, and all other islands belonging to China.
    The Taiwan and Penghu areas are still occupied by the United States by armed force. This is unlawful encroachment on the territorial integrity and sovereignty of the People’s Republic of China. Taiwan, Penghu and such other areas are yet to be recovered, and the Government of the People's Republic of China has the right to recover these areas by all suitable means at a suitable time. This is China's internal affair, in which no foreign interference is tolerated.

    Supplemental transmissions expanded slightly on the original text and elaborated on certain motives which may have underlain the original declaration.
    Peking NCNA in English Morse to Pyongyang at 1334 GMT September 4 also carried the statement of The Chinese People's Republic regarding establishment of a 12-mile limit in adjacent seas:
"2-China's territorial sea along the mainland and its coastal islands takes as its baseline the line comprising straight lines connecting basepoints on the mainland coast and those on the coastal islands on the outer fringe, and the water area extending 12 nautical miles outward from the baseline is China's territorial sea. The water areas inside the baseline, including the Pohai Bay and the Chuingchow Straits, are Chinese inland waters. The islands inside the baseline, including the Tungyin Island, the Kaoteng Island, the Matsu Islands, the Paichuan Islands, the Wuchiu Island, the Greater and Lesser Quemoy Islands, the Tatan Island, the Erhtan Island, and the Tungting Island are islands of the Chinese Inland waters."

The English Broadcast version said this in its final paragraph:
    The Taiwan and Penghu areas are still occupied by the United States by armed force. This is an unlawful encroachment on the territorial integrity and sovereignty of the People's Republic of China.
Taiwan, Penghu, and such other areas are yet to be recovered, and the Government of the People's Republic of China has the right to recover these areas by all suitable means at a suitable time. This is China's internal affair, in which no foreign interference is tolerated."
    Additional specific details on the PRC attitudes towards the law of the sea and the exploitation of the seabed are sparse. One major article, printed in Peking in 1959, conversations with foreign diplomats, ship incidents, "serious warnings" and "notices to mariners" constitute the principal source of our information on the subject.

Straight Baselines
    Due to the non-specific language of the PRC declaration and of the Convention on the Territorial Sea and Contiguous Zone, which authorizes straight baselines, it is not possible to draft a single authoritative system for the mainland. The language is subject to interpretation. Moreover, the Convention, to which the PRC is not party, requires the printing of the lines on charts to which due publicity must be given. The two attached maps illustrate a system which, while hypothetical in many places, may be substantiated in documents and in practice. Further, it should be noted that all islands mentioned in the PRC declaration are either occupied by the armed forces of the Republic of China (ROC) or their sovereignty is disputed with other states. Many of these islands are so situated, however, that they indicate the PRC position toward the drafting of straight baselines.
    Basically, Peking appears to have taken a realistic and non-expansive attitude in drafting its straight baselines. Rather than stating that the lines join the outermost points of the outer islands, the declaration notes that mainland points intervene. This decision would act to shorten the length of straight baseline segments and hence to diminish the claim to internal waters and to territorial sea.

Gulf of Pohai
    Fu Chu wrote in "Concerning the Question of our Country's Territorial Sea", Peking 1959, that Pohai may be closed: 1) as a normal bay, 2) by straight baselines, and 3) by a claim to historic waters. According to the Convention on the Territorial Sea and Contiguous Zone, the first claim is out of the question because of the width of the bay mouth; the second represents a distinct possibility since the mouth is fringed with islands; the third point, however, goes to the heart of the matter. While the bay has not been listed in standard compilations of historic bays, geographically Pohai is totally enclosed by Chinese territory and the entrance would be completely enveloped by normal 12-nautical mile sea arcs. Fu Chu also notes that “if bays or gulfs have important interest with respect to the national defense and economy of the coastal states and for a long time the coastal states have repeatedly exercised jurisdiction over the bays or gulf, they may be regarded as historic bays.... The famous Gulf of Pohai, Hanchow Bay, Gulf of Chu River mouth are important internal bays of our country. The reason for mentioning the Gulf of Pohai in the Declaration on the Territorial Sea is that it is the largest bay ... of our country ... it has been constantly under the practical jurisdiction of our country and not only has our country always considered it as an internal sea, but also [such a fact] is internationally recognized. For instance, in 1864 when Prussia and Denmark were at war .... A Prussian gunboat Gazelle captured a Danish ship in the Gulf of Pohai, the then Chinese Government protests ... on the ground that Pohai is internal waters and compelled the Prussian Government to free the Danish ship."
    He further stated that a 45-mile line would cJose the Gulf. The straight baselines represented on the attached map, which connect the islands by the shortest possible segments, measures very nearly 45 nautical miles. It must be assumed that, since no other 45-mile line could be drawn, that the PRC Government intended to use the chain of islands as a natural closing line of the Gulf as a historic bay.

South China Sea Islands
    The declaration of 1958 applies the straight baseline principle to the Tungsha (Pratas), Hsisha Islands (Paracels), the Chungsha (Macclesfield Bank) and the Nansha (Spratly Islands).
    Pratas, under ROC administration, is a small atoll which does not tend itself to straight baselines.
Warnings against intrusions into claimed PRC territorial waters of the Paracels indicate that the straight baseline alignment shown on the attached maps is accurate in the north and east. However, the inclusion of Triton island (claimed by the PRC) with the system is not clear. In addition to Triton, South Vietnamese forces occupy Robert and Pattle islands in the Crescent Group of the western Paracels. These islands may be excluded from any system by the PRC on an adhoc basis.
    Macclesfield Bank is a submerged feature which does not qualify as a basepoint.
The Spraty Islands, because of their small size and wide dispersion, defy any logical system of straight baselines. Since these islands are not normally occupied by the PRC, intrusions have not been protested except for the Philippine occupation of Nanshan, Thitu, and Flat islands. ROB forces have been in charge of Itu Aba. A straight baseline system has no basis in fact
    The straight baseline system of the PRC, if it were in fact drawn as indicated on the attached charts, could be subject to protest by the United States Government- the U.S. would certainly object to any mid-oceanic archipelago lines on the grounds they could interfere with navigation. The United Kingdom, which protested the straight baselines shortly after they were declared, has subsequently drawn its own system. Presumably the U.K. would no longer object to reasonable straight baselines drawn by the PRC. With the exception of the Spratly Islands, the straight baselines shown on the attached charts would probably be quite consistent with international state practices. However, the possibility exists that the PRC may have drawn loner straight baselines than have been indicated. These longer lines would include a much higher ratio of water to land within the baselines and might not, as a result, be viewed as acceptable.





Tuesday, January 21, 2014

Tiểu Luận bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của Vệt Nam – Những vấn đề còn tồn tại và hướng khắc phục”



Trong chiến lược phát triển kinh tế của nước ta hiện nay và trong tương lai, biển Đông ngày càng chiếm một vị trí quan trọng. Đi cùng với những thuận lợi nhất định thì chúng ta cũng gặp phải rất nhiều khó khăn và hàng loạt vấn đề đặt ra trong quá trình khai thác các tiềm năng của biển đông hiện nay. Một trong những khó khăn tồn tại là việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của nước ta.
 Nhằm có 1 cách nhìn sâu sắc và toàn diện về vấn đề này chúng em xin đi sâu phân tích vấn đề: “Bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của Vệt Nam – Những vấn đề còn tồn tại và hướng khắc phục”
1.     Những vùng biển thuộc chủ quyền của nước ta.
Bằng việc gia nhập Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển (25/7/1994), Việt Nam đã có cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xác định chủ quyền trên biển. Theo công ước thì vùng biển thuộc chủ quyền của nước ta bao gồm:
1.1. Nội thủy (Internal waters)
 Nội thủy là vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở (baseline) giáp với bờ biển. Đường cơ sở này do quốc gia ven biển quy định vạch ra. Từ đó trở vào gọi là nội thủy. Theo Tuyên bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì đường cơ sở của Việt Nam là những đường thẳng gãy khúc nối liền 11 điểm. Vùng nước nội thủy về mặt pháp lý đã nhất thể hóa với lãnh thổ đất liền nên có chế độ pháp lý đất liền, nghĩa là đặt dưới chủ quyền toàn vẹn, đầy đủ và tuyệt đối của nước ta.
1.2. Lãnh hải (Territorial sea)
   Lãnh hải là lãnh thổ biển, nằm ở phía ngoài nội thủy. Ranh giới ngoài của lãnh hải được coi là đường biên giới quốc gia trên biển. Công ước quốc tế về Luật biển 1982 quy định chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia ven biển tối đa là 12 hải lý tính từ đường cơ sở. Tuyên bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý, ở phía ngoài đường cơ sở” (điểm 1)
1.3 Vùng biển thuộc các đảo có chủ quyền của Việt Nam.
Các đảo và quần đảo có thuộc chủ quyền của nước ta có chế độ pháp lý như đất liền. Việt Nam có trên 3000 đảo lớn nhỏ với 2 quần đảo lớn là Hoàng Sa và Trường Sa. Vì vậy, những vùng biển thuộc những đảo và quần đảo này đều thuộc chủ quyền của nước ta với một diện tích lớn như vậy việc bảo vệ chủ quyền gặp rất nhiều khó khăn.
2.     Vấn đề bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của nước ta.
2.1             Những thuận lợi mà chúng ta có được.
Từ thuở xa xưa, nghề biển đã là 1 nghề quan trọng của cha ông ta, vấn đề khai thác và khẳng định chủ quyền biển đã được cha ông ta quan tâm. Các truyền thuyết, truyện dân gian đã phần nào nói lên điều đó. Đến thời nhà Nguyễn, chủ quyền nước ta đã được khẳng định trên các quần đảo xa bờ như Hoàng Sa, Trường Sa…Như vậy tư tưởng bảo vệ chủ quyền biển đã tự bao đời hình thành trong nhân dân ta như 1 truyền thống quý báu trong cộng đồng, trong mỗi người dân Việt Nam.
Với việc trở thành thành viên của công ước “ Liên hợp quốc về luật biển 1982” chúng ta đã có 1 công cụ pháp lý quốc tê hữu hiệu để bảo vệ chủ quyền trên biển. Đồng thời với việc ban hành Luật biên giới 2003 và nhiều văn bản pháp luật khác về vấn đề biển, chúng ta đã có những cơ sở pháp lý trong việc bảo vệ chủ quyền trên biển.
Đảng và nhà nước ta dành sự quan tâm lớn đến việc bảo vệ và khẳng định chủ quyền trên biển Đông. Lực lượng Hải quân Việt Nam ngày càng được tăng cường cả về quân số cũng như trang bị, như gần gần đây nhà nước ta đã kí hợp đồng với Nga để mua sáu chiếc tàu ngầm hạng Kilo ,tổng trị giá gần 2 tỷ đôla và nhiều trang thiết bị, vũ khí hiện đại để trang bị cho lực lượng này.. Trong đường lối đối ngoại của nước ta luôn khẳng định độc lập chủ quyền đối với các vùng biển của chúng ta…. Việc kí các hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan với các nước liên quan đã góp phần giải quyết tốt vấn đề về chủ quyền trên 2 khu vự này, góp phần vào công cuộc khẳng định và bảo vệ chủ quyền trên biển Đông.
2.2 Những vấn đề còn tồn tại trong việc bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của nước ta.
a. Chúng ta chưa xây dựng được một cơ sở pháp lý vũng chắc cho việc bảo vệ chủ quyền trên những vùng biển thuộc chủ quyền.
Trong thời đại ngày nay, khi mà pháp luật ngày càng có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh quan hệ quốc tế thì việc có 1 cơ sở pháp lý vững chắc là điều hết sức cần thiết cho việc bảo vệ chủ quyền trên biển. Hiện nay, Việt Nam đã xây dựng được những cơ sở pháp lý nhất định cho việc bảo vê chủ quyền trên biển nhưng vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn đặt ra và bộc lộ nhiều hạn chế nhất định. Các văn bản pháp lý hiện hành của Việt Nam mới chỉ nêu những nguyên tắc chung về xác định phạm vi, chế độ pháp lý của các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, chưa cụ thể hoá công tác quản lý nhà nước về biển, nên hiệu lực pháp lý còn thấp. Hơn nữa, Nhà nước ta chưa có một văn bản luật mang tính tổng thể xác định phạm vi, chế độ pháp lý của từng vùng biển thuộc chủ quyền; quy định các nội dung quản lý nhà nước về biển; bảo vệ chủ quyền, vấn đề bảo vệ quốc phòng, an ninh, kinh tế – xã hội, giữ gìn và bảo vệ môi trường biển. Các quy định tiến bộ của luật biển quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển 1982 mà nước ta là thành viên từ năm 1994 chưa được nội luật hoá. Tuyên bố 1977 và Tuyên bố 1982 mới chỉ là văn bản cấp Chính phủ hiệu lực chưa cao. Mộ số nội dung quy của các văn bản pháp luật về biển còn chưa thực sự phù hợp với công ước về luật biển quốc tế 1982. Việc quy định phạm vi quản lý, bảo vệ, hoạt động giữa các lực lượng chức năng (Hải quân, cảnh sát biển…) còn chồng chéo, chưa cụ thể do vậy công tác quản lý bảo vệ chủ quyền chưa đạt hiệu quả cao. Cùng với đó việc hệ thống hóa, sửa đổi bổ sung hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật và công tác phổ biến, tuyên truyền về luật biển cũng chưa được tiến hành thường xuyên rộng khắp. Thực trạng trên hiện là những tồn tại và khó khăn của chúng ta trong việc tiến hành bảo vệ vững chắc và toàn vẹn chủ quyền trên biển.
b. Việc bảo vệ chủ quyền biển trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc mà chưa thể khắc phục ngay được.
Vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam có một diện tích lớn, bờ biển kéo dài, giầu tài nguyên, gần với những tuyến đường hàng hải quan trọng trên thế giới do vậy phát sinh rất nhiều vấn đề phức tạp trong công tác quản lý và bảo vệ biển. Để có thể khẳng định và bảo vệ vững chắc chủ quyền, chúng ta cần phải xây dựng, phát triển sâu và rộng các hoạt động kinh tế - quốc phòng trên biển để khẳng định chủ quyền của quốc gia. Tuy nhiên thực tế hiện nay, chúng ta mới tiến hành được các hoạt động này ở một quy mô và chừng mực nhất định do vậy mà công tác bảo vệ chủ quyền biển còn nhiều vấn đề tồn tại trên thực tế.    
Nếu tính tổng diện tích các vùng biển thuộc chủ quyền thì diện tích đó lớn hơn diện tích đất liền rất nhiều, ngoài ra còn tiếp giáp với các vùng biển của nhiều nước trong khu vực, gần đường hành hải quốc tế do vậy việc qua lại của tàu thuyền quốc tế diễn ra sôi động. Hiện nay có 2 lực lượng đóng vai trò chủ yếu trong việc bảo vệ chủ quyền trên biển đó là lực lượng hải quân và cảnh sát biển với các phương tiện vật chất kĩ thuật vẫn hạn chế, việc tuần tra kiểm soát chưa thực sự được sát sao và toàn diện. Do vậy việc xâm phạm chủ quyền, buôn lậu vẫn chưa được ngăn chặn triệt để, việc các tàu nước ngoài xâm nhập vùng biển của Việt Nam bất hợp pháp vẫn còn diễn ra khá phổ biến…
Do điều kiện và hoàn cảnh kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, mặc dù đã được đầu tư phát triển trong những năm gần đây nhưng tiềm lực quốc phòng trên biển của ta vẫn chưa thể thể sánh ngang với 1 số nước trong khu vực biển Đông đặc biệt là Trung Quốc. Hiện nay lực lượng này gồm 13.000 quân chủ yếu được xây dựng theo hướng phòng thủ là chính, sức mạnh tấn công tương đối hạn chế, măt khác ngân sách quốc phòng hàng năm của nước ta còn hạn chế do vậy việc tăng cường tiềm lực cho hải quân ngay lập tức là không thể.
Đội ngũ chuyên gia biển của chúng ta vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đặt ra trong việc nghiên cứu biển đông cũng như trong lĩnh vực nhiên cứu và bảo vệ chủ quyền. Ngư dân chưa có ý thức pháp luật đầy đủ trong việc bảo vệ chủ quyền biển, chưa thấy rõ được vai trò và trách nhiệm của bản thân trong công tác giữ gìn bảo vệ chủ quyền vùng biển của đất nước.
Việc tiến hành các hoạt động phát triển kinh tế, khai thác biển của ta cũng còn gặp nhiều khó khăn về vốn khoa học kĩ thuật và việc khai thác phát triển xa bờ vẫn chưa mạnh mẽ. Tất cả những vấn đề trên hiện là những tồn tại trên thực tế trong viêc bảo vệ chủ quyền hàng ngày. Vì vậy muốn thực hiện tốt công tác bảo vệ vững chắc toàn vẹn chủ quyền biển chúng ta phải nhanh chóng có những biện pháp để giải quyết những tồn tại này.
c. Sự gia tăng ảnh hưởng của các nước trong vùng biển Đông và những tranh chấp về chủ quyền các vùng biển với các nước trong khu vực đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến chủ quyền, cũng như công việc bảo vệ chủ quyền  trên các vùng biển của Việt Nam.    
- Tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa vùng biển thuộc quần đảo giữa Việt Nam với Trung Quốc và Đài Loan: Quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, chúng ta có đầy đủ các chứng cứ để chứng minh chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa. Tuy nhiên năm 1974 và cho đến nay, Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm các đảo ở quần đảo Hoàng Sa. Đã nhiều lần xung đột bằng vũ lực giữa Việt Nam và Trung Quốc nổ ra ở khu vực này. Những hành động của Trung Quốc đang xâm phạm trực tiếp đến chủ quyền trên biển của Việt Nam đối với vùng biển khu vực Hoàng Sa và các vùng lân cận.
- Tranh chấp chủ quyền toàn bộ hay một phần Trường Sa và vùng biển khu vực này giữa Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei: Không chỉ dùng vũ lực để chiếm lấy quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc còn tiếp tục nổ súng đánh chiếm quần đảo Trường Sa, hiện nay Trung Quốc đang chiếm giữ 5 đảo phía bắc và đang có âm mưu chiếm hết quần đảo này của Việt Nam. Không chỉ Trung Quốc mà Philippines, Malaysia và Brunei, Đài Loan cũng đã chiếm 1 số đảo ở đây và tuyên bố chủ quyền của mình.
- Âm mưu độc chiếm biển Đông của Trung Quốc với ranh rới “đường lưỡi bò” trên biển: Phần diện tích trong đường lưỡi bò này chiếm khoảng 75% diện tích trên Biển Đông, để lại khoảng 25% cho tất cả các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, và Việt Nam, tức mỗi nước được trung bình 5%. Năm 2007, Trung Quốc đưa ra quy định theo đó tất cả bản đồ Trung Quốc phải vẽ ranh giới lưỡi bò này cùng với rất nhiều hành động vi phạm pháp luật quốc tế khác. Những động thái của Trung Quốc cùng với sự ra tăng sức mạnh và tiềm lực kinh tế cũng như quốc phòng của Trung Quốc không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc bảo vệ chủ quyền của ta mà còn thực sự là mối đe dọa lớn cho chủ quyền trên biển không chỉ của Việt Nam mà còn là mối đe dọa với các nước trong khu vực. Ranh rới đường lưỡi bò của Trung Quốc là sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế về luật biển.
3. Hướng khắc phục cho những tồn tại trong việc bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của Việt Nam
3.1 Xây dựng một cơ sở pháp lý vững chắc phục vụ việc bảo vệ chủ quyền trên biển.  
Trong tình hình hiện nay, Việt Nam cần sớm nâng cấp các tuyên bố của chính phủ lên tầm luật quốc gia và cụ thể hóa công tác quản lý nhà nước về biển. Tiến hành rà soát hệ thống hóa toàn bộ các văn bản pháp luật biển để sửa đổi bổ sung các văn bản không phù hợp, phải xem xét lại một số văn bản pháp luật chưa phù hợp với nội dung công ước về luật biển 1982. Nhằm từng bước xây dựng cho được một hệ thống đồng bộ pháp luật  về  biển. Hơn nữa chúng ta cần sớm ban hành luật các vùng biển Việt Nam làm khung pháp lý thống nhất cho pháp luật về biển, văn bản này phải mang tính tổng thể xác định phạm vi, chế độ pháp lý của từng vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam; quy định các nội dung quản lý nhà nước về biển; bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, và lợi ích quốc gia trên biển; vấn đề bảo vệ quốc phòng, an ninh, kinh tế – xã hội, giữ gìn và bảo vệ môi trường biển. Tiến hành việc chuyển hóa các quy định của công ước về luật biển 1982  vào hệ thống pháp luật Việt Nam cùng với đó là phải tiến hành nội luật hóa các quy định của công ước này.
3.2 Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tăng cường tiềm lực kinh tế, chú trọng phát triển quốc phòng, đảm bảo an ninh trên biển.
Muốn bảo vệ vững chắc và bền vững độc lập chủ quyền biển thì đây được coi là biện pháp mang tính chiến lược và lâu dài. Nhân dân ta có truyền thống nghề biển. Vì vậy vần phải khơi gợi thuyền thống ý thức về chủ quyền biển và giáo dục cho mọi người dân Việt Nam về vai trò, vị trí của biển Đông cũng như chủ quyền của Việt Nam trên biển. Tuyên truyền phổ biến pháp luật về biển cho ngư dân, giáo dục tuyên truyền tư tưởng đường lối trước sau như 1 của đảng và nhà nước về vấn đề chủ quyền của biển Đông, tuyên truyền công tác bảo vệ chủ quyền phối hợp với nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền trên biển.
          Song song với nhiệm vụ này, chúng ta phải tăng cường tiềm lực kinh tế, phát huy nội lực, khẳng định sức mạnh trên thực tế. Tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng, mở rộng quy mô nền kinh tế. Từ đó mới có thể tăng cường lực lượng cũng như trang thiết bị cho quốc phòng, an ninh trên biển. Kết hợp đảm bảo an ninh – quốc phòng kết hợp với phát triển kinh tế biển. Hiện nay lực lượng Hải quân của ta đang được đầu tư, hiện đại hóa và phát triển theo hướng hiện đại. Nhưng so với các nước trong khu vực và Trung Quốc thì sức chiến đấu của ta còn hạn chế, chưa thể sánh ngang với một số nước. Mặt khác đây là lực lượng chủ yếu trong việc giữ gìn và bảo vệ chủ quyền trên biển. Do vậy, xây dựng 1 lực lượng hải quân hùng mạnh và sẵn sàng đối phó với mọi tình huống là yêu cầu cấp thiết và thực tế đáp  ứng việc bảo vệ chủ quyền biển.
           Một vấn đề quan trọng trong công tác bảo vệ chủ quyền biển đó là giữ gìn an ninh trật tự cũng như đảm bảo việc thi hành pháp luật cũng như công tác tuần tra kiểm soát phải được tiến hành 1 cách thường xuyên, liên tục đảm bảo việc chấp hành pháp luật cũng như đảm bảo được quyền tối cao của nhà nước đối với lãnh thổ biển.
3.3 Tăng cường chiến lược ngoại giao và truyền thông. Kêu gọi các nước tranh chấp đàm phán dựa trên nguyên tắc của luật biển quốc tế, tiến hành việc quốc tế hóa tranh chấp biển Đông
Là nước nhỏ, trong chiến lược của chúng ta phải tận dụng biện pháp ngoại giao, chúng ta không thể đòi lại những vùng biển đảo bị chiếm hay giải quyết tranh chấp bằng vũ lực do vậy ngoại giao sẽ là biện pháp để chúng ta bảo vệ quyền lợi của mình. Vì vậy thông qua con đường ngoại giao, chúng ta cần vận động sự qua tâm và ủng hộ của dư luận quốc tế cho 1 giải pháp công bằng và hòa bình cho các tranh chấp chủ quyền ở biển Đông. Quốc tế sẽ ủng hộ chúng ta khi thấy công lý và lẽ phải thuộc về ta. Mặt khác đường lưỡi bò của Trung Quốc xâm phạm đến chủ quyền của các nước khác trong ASEAN. Do vậy, trong khuôn khổ ASEAN, Việt Nam cần phải tận dụng ưu thế thành viên của mình để vận động cho một tiếng nói chung.
Với việc là thành viên của công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982, chúng ta đã có trong tay công cụ pháp lý hữu hiệu để bảo vệ chủ quyền biển. Vì vậy, hiện nay việc đàm phán dựa trên nguyên tắc của luật quốc tế với các nước tranh chấp là giải pháp hữu hiệu nhất cho chúng ta giải quyết tranh chấp và lấy lại những vùng biển thuộc chủ quyền của mình. Tuy nhiên cần phải xác định rằng đây là công việc không hề đơn giản, phức tạp, khó khăn và kéo dài. Vì vậy Đảng và nhà nước ta phải giữ thái độ cứng rắn, nhưng khôn khéo dung hòa lợi ích các bên. Cần xây dựng 1 chiến lược lâu dài và cụ thể, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cũng như các chứng cứ và lý lẽ để có thể viễn dẫn pháp luật quốc tế để bảo vệ quyền lợi của quốc gia.
          Vấn đề quốc tế hóa tranh chấp biển Đông, đưa các tranh chấp ở khu vực này ra trước LHQ là 1 biện pháp cho Việt Nam có thể giải quyết tranh chấp và đấu tranh chống lại những yêu cầu vô lý của Trung Quốc. Gần đây Philippines đề nghị đưa tranh chấp ra LHQ vừa là một đề nghị hợp lý và là một cơ hội tốt mà Việt Nam không nên bỏ qua. Với vị rí của mình tại LHQ, Việt Nam cần ủng hộ đề nghị này của Philippines.
4. Kết luận.
Trước những diễn biến phức tạp trong việc bảo vệ chủ quyền trên biển, chúng ta cần phân tích rõ những khó khăn và thuận lợi để đưa ra những chính sách và biện pháp phù hợp đảm bảo nguyên tắc lãnh hải và chủ quyền của tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng bất khả xâm phạm.

  

Danh mục tài liệu tham khảo
1.     Giáo trình luật quốc tế - Trường đại học luật Hà Nội
2.     Công ước Liên hợp quốc năm 1982 về luật biển
3.     Tuyên bố của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải
vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam năm 1977.
4.     Tuyên bố của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải năm 1982.
5.     Cùng một số thông tin trên internet.



Source: TaiLieuTongHop.Com


Wednesday, January 15, 2014

Góp ý với RFA về bài viết “Hóa giải công hàm Phạm Văn Đồng”

Trương Nhân Tuấn
Các “học giả, chuyên gia nghiên cứu Biển Đông” Việt Nam trong trong bài phỏng vấn cùng đồng ý với nhau ở điểm “công hàm Phạm Văn Đồng không có giá trị pháp lý ràng buộc”.
Công hàm Phạm Văn Đồng - 19958. Nguồn: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Công hàm Phạm Văn Đồng – 1958. Nguồn: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Tuy nhiên, lập luận của một số các học giả quốc tế thì không vậy.
Giáo sư Greg Austin trong tập “China’s Ocean Frontiers – International Law”, hayThomas Bradford, trong “The Spratly Island Imbroglio: a tangled web of conflict”, cùng cho rằng VN đã bị phạm nguyên tắc luật học “Estoppel”.
Theo Thomas Bradford, công hàm Phạm Văn Đồng có nội dung “tái xác nhận sự công nhận của Việt Nam về chủ quyền của Trung Quốc ở các quần đảo”, do đó VN bị “Estopped”.
Còn Greg Austin thì cho rằng công hàm của ông Phạm Văn Đồng có hiệu lực thuyết phục nhất trong việc khẳng định HS và TS thuộc TQ. Theo học giả này, Công hàm Phạm Văn Đồng là một văn kiện cấp quốc gia, của chính phủ này gởi đến một chính phủ khác. Quan trọng là vì là nhà nước VNDCCH không chỉ đã không có văn kiện phản đối về tuyên bố chủ quyền của TQ tại các đảo, mà nhà nước này lại còn ra tuyên bố ủng hộ nó.
Học giả này dẫn ý kiến nhiều luật gia để chứng minh rằng luật quốc tế rất rõ ràng về nguyên tắc “Estoppel”, trường hợp bị mất tố quyền. Tức là, khi một nước trong quá khứ đã thừa nhận chủ quyền của một nước khác tại một vùng lãnh thổ, nước này trong tương lai sẽ không được thụ lý để tranh dành chủ quyền tại vùng lãnh thổ đó nữa.
Học giả Monique Chemillier-Gendreau, trong tập “La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys”thì phản biện lại ý kiến cho rằng VN bị “Estopped”. Quí độc giả có thể đọc thêm bài viết ở đây.
Lập luận của bà là:
những lời tuyên bố hoặc lập trường nào đó của chính quyền miền Bắc Việt Nam không có hiệu lực gì đối với chủ quyền. Đây không phải là chính quyền có thẩm quyền trên quần đảo này. Người ta không thể chuyển nhượng những gì người ta không kiểm soát được…”
Câu “Người ta không thể bán hay cho cái mà mình không có” thấy viết trong bài báo đã dẫn, hay lập luận “Người ta không thể từ bỏ về cái mà người ta không có chủ quyền” thường thấy nhắc đi nhắc lại ở các bài viết của các học giả VN, đều bắt nguồn từ ý kiến này của bà Monique Chemillier-Gendreau.
Tuy nhiên học giả Monique Chemillier-Gendreau có nhắc một điều quan trọng khác, mà các học giả VN thường không nhắc tới: công hàm Phạm Văn Đồng có thể làm cho VN vướng vào nguyên tắc “acquiescement”.
Lập luận của bà Monique Chemillier-Gendreau cũng tương tự với học giả Greg Austin. Việc nhà nước VNDCCH đã im lặng trước sự khẳng định chủ quyền của TQ tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo nội dung tuyên bố 4-9, hoặc các tuyên bố của VNDCCH liên quan đến vùng nước của TQ tại Hoàng Sa, cũng như những bài viết trên báo Nhân Dân…có thể cấu thành yếu tố “acquiescement”, tức sự “đồng thuận”. Tức là nhà nước VNDCCH nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo hoàng Sa và Trường Sa trong một thời gian dài từ 1958 đến 1975. Bây giờ nhà nước VN không thể nói ngược lại.
Quí độc giả có thể đọc bài ở đây về nguyên tắc “acquiescement”. Nếu VN đưa vấn đề tranh chấp ra trước một trọng tài quốc tế, VN có thể bị xử thua kiện.
TS Trần Trường Thủy trong bài phỏng vấn cho rằng công hàm Phạm Văn Đồng chỉ nhằm công nhận lãnh hải 12 hải lý chứ không nói đến vấn đề chủ quyền.
Trong bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 của Trung Quốc có viết rõ rệt hiệu lực 12 hải lý không chỉ ở đất liền các hải đảo thuộc TQ mà còn ở “Tây Sa” và “Nam Sa” (tức HS và TS của VN). Các học giả quốc tế, kể cả học giả Monique Chemillier-Gendreau (là người bênh vực lập trường và thiết lập hồ sơ pháp lý cho VN), đều cho rằng sự im lặng của nhà nước VNDCCH về điều này đã khiến VN bị phạm nguyên tắc “Acquiescement”. Mặt khác, những tuyên bố, những bài báo trên Nhân Dân, hoặc sự im lặng của VNDCCH khi hải quân TQ đánh chiếm Hoàng Sa, đều củng cố yếu tố “acquiescement” (nếu không nói là estoppel).
Vấn đề là, VN hôm nay có thể nói ngược lại, là chỉ công nhận lãnh hải 12 hải lý của TQ ở mọi vùng lãnh thổ của TQ, mà không tôn trọng ở HS và TS, với lý do HS và TS thuộc VN hay không?
Theo các nguyên tắc luật học như “Estoppel” hay “Acquiescement”, việc này là không!
Nhưng nếu xem lại trả lời phỏng vấn trước đây của chính tác giả của công hàm, ông Phạm Văn Đồng, hay bộ tưởng bộ Ngoại giao VN thời đó là ông Nguyễn Mạnh Cầm, cả hai đều nhìn nhận nội dung công hàm nhằm ủng hộ chủ quyền của TQ tại HS và TS. Lý do được giải thích là vì thời chiến nên phải làm vậy.
Lập luận của TS Trần Trường Thủy trong bài phỏng vấn e rằng không phù hợp với thực tế.
TS Nguyễn Nhã thì cho rằng “công hàm Phạm Văn Đồng 1958 không có giá trị pháp lý mà chỉ mang ý nghĩa hậu thuẫn chính trị trong giai đoạn hai phe đối đầu ở Việt Nam.”
Có giá trị pháp lý hay không ta cần phải tìm hiểu về tập quán quốc tế và luật quốc tế có quan niệm thế nào về các tuyên bố, hay “công hàm” có nội dung tương tự như công hàm Phạm Văn Đồng, hay Tuyên bố về lãnh hải ngày 4 tháng 9 của TQ.
Tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Trung Quốc về lãnh hải quốc gia, là Tuyên bố đơn phương có hình thức “décision- quyết định” (hơn là hình thức “notification”). Tương tự như tuyên bố “notification” của Trung Quốc về Vùng nhận diện phòng không trong biển Hoa Đông (ADIZ) vừa rồi.
Theo tập quán quốc tế hiện nay, khi quốc gia ra tuyên bố về bề rộng lãnh hải của nước mình (hay về vùng ADIZ, thí dụ vậy), thường thông báo đến các quốc gia khác “lập trường” của nước mình qua hình thức “notification- thông báo “. Các nước khác, nếu công nhận lập trường này, sẽ gởi công hàm trả lời mang hình thức “reconnaissance – công nhận”. Trường hợp không đồng ý thì gởi công hàm “phản đối – protestation”.
Bất kể tuyên bố về lãnh thổ và hải phận của TQ mang hình thức “Désision – quyết định” (mang tính ép buộc cho phía nhận quyết định) hay “Notification – thông báo”, công hàm của ông Phạm Văn Đồng là một Tuyên bố đơn phương, công khai, mang hình thức “công nhận” tuyên bố của TQ. (Ở đây là công nhận tuyên bố chủ quyền lãnh thổ cũng như việc mở rộng lãnh hải 12 hải lý của TQ).
Theo quốc tế công pháp, các tuyên bố đơn phương nói trên đều có giá trị ràng buộc pháp lý.
Lập luận của TS Nguyễn Nhã như thế là không thuyết phục, vì không phản ảnh đúng tập quán cũng như luật pháp quốc tế. Có thể công hàm Phạm Văn Đồng phía VN bày tỏ lập trường “chính trị” ủng hộ TQ. Nhưng vấn đề tranh chấp HS đã có từ năm 1909, phía VNDCCH không thể nói là “không biết” để mà ra tuyên bố ủng hộ như vậy.
TS Nhã cũng nói rằng:
“Theo Hiệp định Geneve (1954) mà Trung Quốc đã ký, về mặt pháp lý quốc tế Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có trách nhiệm quản lý phần lãnh thổ phía Nam. Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, chính quyền đã tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam rồi. Về mặt pháp lý quốc tế phù hợp, chính quyền có thẩm quyền quản lý Hoàng Sa Trường Sa liên tục, từ nhà Nguyễn tới thời Pháp thuộc trong đó có nhiều chính phủ khác nhau và như vậy cho đến sau khi thống nhất các chính phủ có thẩm quyền đều khẳng định chủ quyền của mình và thực thi liên tục không đứt đoạn, vấn đề này thể hiện giá trị pháp lý quốc tế.”
Lập luận cho rằng “Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có trách nhiệm quản lý phần lãnh thổ phía Nam” của TS Nguyễn Nhã cần phải xét lại. Ý của TS Nhã như vậy có nghĩa là, vì không thuộc phạm vi quản lý của mình thì mình có thể tuyên bố thế nào cũng được, không có hiệu lực ràng buộc pháp lý?
Hiệp định Genève 1954 phân chia VN bằng vĩ tuyến 17 thành hai vùng lãnh thổ. Đường phân chia này chỉ có giá trị tạm thời nhằm tập kết quân sự. Điều 6 của Tuyên bố chung các nước tham gia về Hiệp đinh Genève khẳng định rằng, các bên không thể viện dẫn bất kỳ lý lẽ gì để đồng hóa đường phân chia quân sự tạm thời như là đường biên giới phân chia lãnh thổ hay chính trị.
Tức là, nội dung Hiệp định Genève 1954 khẳng định Việt Nam là một quốc gia duy nhất, tạm thời bị phân chia. Việc thống nhất sẽ được diễn ra bằng thể thức “dân chủ, tự do” chậm lắm là tháng 12 năm 1956.
Cho dầu cuộc bầu của thống nhất đất nước đã không diễn ra, nhưng đến thời điểm tháng 9 năm 1958 (hoặc cho đến tháng 4 năm 1975), hai miền VN đều thuộc về một quốc gia Việt Nam duy nhất.
Hiến pháp của VNDCCH, qua nhiều bản hiến pháp khác nhau, đều qui định lãnh thổ nước Việt Nam trải từ Lạng Sơn đến Cà Mau.
Do đó, trên danh nghĩa, cả hai bên VNDCCH hay VNCH, đều có trách nhiệm như nhau trong việc bảo vệ lãnh thổ, cho dầu lãnh thổ đó do bên này hay bên kia quản lý. Lý do đơn giản là vì hiến pháp đã qui định như vậy. Và đó cũng là nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia bị phân chia, như trường hợp Nam, Bắc Hàn hay Đông, Tây Đức.
Về dữ kiện “Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, chính quyền đã tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam rồi” của TS Nhã, theo tôi cần kiểm chứng lại. Sau 30-4-1975, hai bên Chính phủ Lâm thời Cộng hòa MNVN cũng như chính phủ VNDCCH đều không có tuyên bố nào liên quan đến chủ quyền HS và TS.
Về lập luận của TS Nguyễn Nhã “chính quyền có thẩm quyền quản lý Hoàng Sa Trường Sa liên tục, từ nhà Nguyễn tới thời Pháp thuộc trong đó có nhiều chính phủ khác nhau và như vậy cho đến sau khi thống nhất các chính phủ có thẩm quyền đều khẳng định chủ quyền của mình và thực thi liên tục không đứt đoạn, vấn đề này thể hiện giá trị pháp lý quốc tế.” tôi nghĩ rằng có nhiều điều cần làm sáng tỏ.
Thứ nhất, vấn đề liên tục quốc gia. Người ta dễ dàng chấp nhận chủ quyền HS và TS từ tay của nhà nước phong kiến VN, chuyển sang nhà nước bảo hộ Pháp, sau đó chuyển sang VNCH. Việc này được thể hiện do việc kế thừa và sự liên tục quốc gia. Nhưng từ VNCH chuyển sang CHXHCNVN hiện nay thì có nhiều điều không rõ rệt. TS Nhã có thể cho biết chủ quyền của VNCH tại HS và TS “chuyển” sang CHXHCNVN từ khi nào? Việc “chuyển” này đã thể hiện ra sao?
Việc kế thừa sẽ đặt lại các vấn đề về bang giao quốc tế, gồm các việc tái xác định, hay phủ định, hiệu lực các kết ước, hay các tuyên bố đơn phương của nhà nước (hay quốc gia) tiền nhiệm đã thể hiện đối với các nước khác.
Sau 1975, chính phủ CMLT đã im lặng về tình trạng pháp lý ở HS và TS. Trong khi đó, nước CHXHCNVN, kế thừa VNDCCH, phải có nghĩa vụ tôn trọng những kết ước, những tuyên bố đơn phương về một vấn đề quốc tế… của nhà nước tiền nhiệm VNDCCH (như công hàm Phạm Văn Đồng).
Không thấy TS Nhã nói cụ thể. Riêng tôi có bài viết ở đây, nói về vấn đề “liên tục quốc gia và sự kế thừa”. Hy vọng được sự góp ý của TS Nguyễn Nhã.
Về lập luận của TS Hoàng Việt, giảng viên Luật quốc tế ở đại học Sài Gòn:
Không có ông nào ở miền Bắc lúc đó có quyền nói về công nhận Hoàng Sa Trường Sa được cả. Bởi vì lúc đó theo Hiệp định Geneve 1954 chia đôi hai miền Nam Bắc, rõ ràng là một bên từ vĩ tuyến 17 trở ra là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa; một bên từ vĩ tuyến 17 trở vào là Việt Nam Cộng Hòa. Rõ ràng hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa thuộc về Việt Nam Cộng Hòa còn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì có tư cách gì mà nói đến.
Theo tôi, thì đây là ý kiến thuộc về “tình cảm cá nhân” của ông Hoàng Việt chứ không phải là ý kiến của một giáo sư về Luật quốc tế hay là một học giả chuyên nghiên cứu Biển Đông.
Điều cốt lõi để tìm hiểu thẩm quyền của ông Phạm Văn Đồng trong lập luận này là hai thực thể VNDCCH và VNCH là hai “quốc gia” riêng biệt, tức có lãnh thổ, có dân chúng, có một nhà nước riêng biệt; hay là hai vùng lãnh thổ thuộc về một quốc gia bị phân chia? TS Hoàng Việt không nói rõ điều này.
Nếu VNDCCH và VNCH là hai quốc gia riêng biệt, tách ra từ một quốc gia thống nhất trước đó như trường hợp Pakistan với Ấn Độ, theo tôi ông Phạm Văn Đồng có tư cách để nói về HS và TS, là đưa ra lập trường của bên thứ ba, là nước VNDCCH, về tranh chấp giữa hai bên VNCH và Trung Quốc. Theo nội dung công hàm 1958, VNDCCH quan niệm HS và TS thuộc TQ.
Nếu VNDCCH và VNCH là hai vùng lãnh thổ của một quốc gia bị phân chia (như trường hợp Nam, Bắc Hàn hay Đông, Tây Đức), thì ông Phạm Văn Đồng cũng có thẩm quyền ra một tuyên bố về lập trường của một bên, liên quan đến một tranh chấp đã lưu cữu từ 50 năm qua, giữa Trung Hoa và nhà nước bảo hộ Pháp (sau đó chuyển qua VNCH).
Bài viết của tôi ở đây, với những dẫn chứng cho thấy ông Phạm Văn Đồng, với tư cách thủ tướng chính phủ, là người có thẩm quyền để ra một tuyên bố tương tự như công hàm 1958.
Bài báo kết luận:
Những phát biểu vừa nêu cho thấy các học giả, chuyên gia nghiên cứu Biển Đông có chung lập luận là công hàm Phạm Văn Đồng không có giá trị pháp lý ràng buộc. Nếu có tranh tụng ra Tòa án Quốc tế thì Trung Quốc sẽ không dành phần thắng. Bởi vì ông Phạm Văn Đồng qua công hàm đó không có sự cam kết rành mạch về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa, hơn nữa người sở hữu Hoàng Sa-Trường Sa lúc đó được quốc tế công nhận là VNCH. Và quan trọng hơn cả người ta không thể bán hay cho một cái gì mà mình không có.
Công hàm Phạm Văn Đồng có giá trị pháp lý hay không, nhiều học giả quốc tế đã nói. Các ý kiến, các lập luận của các học giả VN trong bài phỏng vấn này, theo tôi là không thuyết phục.
Nếu viết rằng “Nếu có tranh tụng ra Tòa án Quốc tế thì Trung Quốc sẽ không dành phần thắng”, câu hỏi đặt ra tại sao phía VN hiện nay không đề nghị với TQ để đưa vấn đề tranh chấp HS ra một tòa án quốc tế để giải quyết?
Nếu phía TQ từ chối, việc này chỉ củng cố thêm yêu sách chủ quyền của VN tại HS và TS.
Tại sao VN không kiện TQ (như Phi đã làm)?
Phải chăng phía VN lo ngại bị bác đơn, do hệ quả “Estoppel” đã nói ở trên?

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code