Chuyên đề 3
SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC GIA ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ – So sánh Pháp và Việt Nam
Giới thiệu
Bản Quy Tắc và Thực Hành
Thống Nhất về tín dụng chứng từ (UCP) không có tính chất áp dụng bắt
buộc. Nó chỉ được áp dụng trong quan hệ thư tín dụng khi các bên lựa
chọn hay với vai trò là tập quán quốc tế. Tuy nhiên, bản quy tắc này đã
bộc lộ nhiều thiếu sót, bất cập, không đáp ứng được yêu cầu của thực
tiễn thương mại. Do đó, các chủ thể trong quan hệ tín dụng chứng từ có ý
định vận dụng quy định của luật quốc gia trong lĩnh vực này.
Theo giáo sư Legeais, « bên cạnh UCP, việc áp dụng các quy định khác chỉ xảy ra trong ba trường hợp. Thứ nhất,
vấn đề cần điều chỉnh không được UCP quy định. Ví dụ như gian lận.
Ttrong trường hợp có nhiều bất đồng ý kiến về định nghĩa thế nào là gian
lận thì việc xác định luật áp dụng rất quan trọng vì thẩm phán sẽ xem
xét hành vi gian lận trên cơ sở luật áp dụng đối với quan hệ thư tín
dụng. Thứ hai, thư tín dụng hoàn toàn không chịu sự điều chỉnh của UCP. Thứ ba, các bên loại trừ việc áp dụng một số quy định cụ thể của UCP trong thư tín dụng ».
Một tác giả khác cũng ủng hộ quan điểm
của giáo sư Legeais « mặc dù UCP đã quy định khá chi tiết về tín dụng
chứng từ, việc dẫn chiếu áp dụng luật quốc gia vẫn rất cần thiết ». Tuy
nhiên, việc xác định luật áp dụng trên thực tế gặp nhiều khó khăn do sự
phức tạp của các quan hệ pháp lý trong giao dịch thư tín dụng.
Khi các bên không lựa chọn luật điều
chỉnh thư tín dụng (Chương I), thẩm phán sẽ áp dụng quy phạm xung đột
pháp luật để xác định hệ thống pháp luật phù hợp. Tuy nhiên, thực tế cho
thấy thẩm phán mất nhiều thời gian và công sức trong việc xác định luật
điều chỉnh. Vì thế, một câu hỏi đặt ra rằng liệu các bên có nên thỏa
thuận trong hợp đồng về luật áp dụng để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích
của mình hay không (Chương II).
CHƯƠNG I
SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC GIA
ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
KHI CÁC BÊN KHÔNG LỰA CHỌN LUẬT ÁP DỤNG
Trên thực tế, phần lớn các thư tín dụng
lưu thông trong thương mại quốc tế đều không có điều khoản dẫn chiếu áp
dụng luật quốc gia. Trong trường hợp đó, luật áp dụng sẽ được xác định
căn cứ vào quy phạm xung đột pháp luật trong các công ước quốc tế hoặc
trong pháp luật quốc gia. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu việc xác định luật
điều chỉnh trong theo pháp luật của Pháp và theo pháp luật Việt Nam.
I – Việc xác định luật áp dụng tại Pháp
Tiêu chí.
Thư tín dụng thực chất là một dạng hợp
đồng tín dụng. Do đó, chắc chắn thư tín dụng sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh
của Công ước Rome về luật áp dụng trong lĩnh vực hợp đồng[3].
Khi các bên có liên quan không lựa chọn luật áp dụng theo các quy định
của Công ước Rome thì hợp đồng sẽ do pháp luật của nước mà hợp đồng đó
có « mối liên hệ mật thiết nhất » điều chỉnh.
Nghĩa vụ đặc thù.
Khi các bên không lựa chọn luật áp dụng
thì theo Công ước Rome, hợp đồng sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật của
nước mà hợp đồng đó có mối liên hệ mật thiết nhất (điều 4, khoản 1).
Bên cạnh đó, Công ước Rome cũng quy định rằng hợp đồng có mối liên hệ
mật thiết nhất với quốc gia mà bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp
đồng có nơi cư trú hoặc trụ sở chính (điều 4, khoản 2). Vì thế, theo
Công ước Rome, luật áp dụng đối với hợp đồng là luật của nước mà bên
thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng có nơi cư trú hoặc trụ sở chính.
Như vậy, phải xác định chủ thể nào thực hiện « nghĩa vụ đặc thù » của
hợp đồng. Đối với giao dịch tín dụng chứng từ, để xác định nghĩa vụ đặc
thù thì trước tiên phải tìm ra mối quan hệ giữa các bên.
1- Trường hợp có một ngân hàng tham gia quan hệ thư tín dụng
Ngân hàng phát hành và người thụ hưởng.
Theo giáo sư Legeais, « khi chỉ có một
ngân hàng tham gia quan hệ thư tín dụng thì sẽ có hai lựa chọn cho luật
áp dụng : luật của ngân hàng phát hành và luật của nước nơi thực hiện
thư tín dụng. Lựa chọn thứ hai tỏ ra có lợi cho người thụ hưởng và cũng
được nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tín dụng chứng từ ủng hộ. Tuy
nhiên, một số ý kiến khác[4]
lại cho rằng nếu áp dụng luật của nước nơi thực hiện thư tín dụng thì
điều đó không phù hợp với quy định của điều 4, khoản 2, Công ước Rome.
Do đó, áp dụng luật của ngân hàng phát hành hợp lý hơn ». Các thẩm phán
Pháp nghiêng về quan điểm này. Bản án của Tòa phúc thẩm Versailles dưới
đây là tranh chấp đầu tiên ở Pháp liên quan đến xung đột pháp luật trong
giao dịch thư tín dụng dự phòng.
Án lệ.
Trong vụ việc này, Egyptair đã bán cho
một công ty Ai-len mười bốn chiếc máy bay. Các bên thỏa thuận giao hàng
trong hai năm. Bên cạnh đó, nhà nhập khẩu Ai-len phải ký quỹ một khoản
là 15 008 000 USD, tức là 1 072 000 USD đối với mỗi chiếc máy bay. Việc
hoàn trả khoản tiền này được đảm bảo trong trường hợp hàng hóa giao
không phù hợp thỏa thuận, bởi một thư tín dụng dự phòng do Union des
Banques Arabes et Françaises, ở Paris phát hành theo yêu cầu của
Egyptair. Trong trường hợp này, mục đích của thư tín dụng nhằm đảm bảo
việc hoàn trả khoản tiền ký quỹ trên và người yêu cầu mở thư tín dụng là
công ty Egyptair. Các bên thỏa thuận rằng thư tín dụng này do UCP điều
chỉnh. Người mua Ai-len có quyền yêu cầu trả vào một tài khoản tại New
York, một khoản tiền là 1 072 000 USD đối với mỗi chiếc máy bay, với
điều kiện xuất trình một hối phiếu trả ngay và bằng chứng cho thấy rằng
Egyptair đã không giao máy bay đúng theo điều kiện của hợp đồng. Nhà
nhập khẩu Ai-len khẳng định rằng luật điều chỉnh quan hệ này là luật của
bang New York, cụ thể là Bộ luật Thương mại thống nhất (Uniform commercial code),
phần V về thư tín dụng. Việc áp dụng luật của bang New York sẽ mang lại
lợi ích cho nhà nhập khẩu Ai-len vì điều 5-114 quy định rằng ngân hàng
phát hành phải thanh toán thư tín dụng trong trường hợp phát hiện gian
lận trong khi đó theo Tòa án Pháp thì có dấu hiệu lạm dụng, lừa dối.
Đối với tranh chấp này, Tòa phúc thẩm
Versailles phải giải quyết hai vấn đề. Tuy nhiên, chúng ta chỉ phân tích
lập luận của của thẩm phán liên quan đến luật áp dụng đối với tranh
chấp có sự tham gia của các công ty có trụ sở tại nhiều quốc gia. Ba lựa
chọn được đặt ra : luật của bang New York có thể được áp dụng bởi đó là
luật của nước nơi thư tín dụng được thanh toán ; luật của Ai Cập là nơi
người yêu cầu mở thư tín dụng có trụ sở (công ty Egyptair) ; luật của
Pháp là nơi ngân hàng phát hành có trụ sở. Tuy nhiên, Tòa án nhận định
rằng « các bên đã thỏa thuận chọn UCP để điều chỉnh thư tín dụng, do đó
phải áp dụng luật của Pháp, là nơi thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp
đồng tín dụng (tức là hành động từ chối hoặc chấp nhận thanh toán của
ngân hàng phát hành sau khi kiểm tra chứng từ, không phải là hành động
chuyển tiền « thực chất » vào tài khoản). Hơn nữa, Pháp cũng đồng thời
là nơi đóng trụ sở của ngân hàng phát hành và là nơi ký kết hợp đồng.
Việc áp dụng luật của Mỹ, nơi thanh toán thư tín dụng là không hợp lý vì
thư tín dụng được thanh toán bằng đô la Mỹ nên số tiền của thư tín dụng
được chuyển vào một tài khoản ở Mỹ »[6].
Các thẩm phán cho rằng Pháp là nước có mối liên hệ mật thiết nhất với
giao dịch tín dụng chứng từ. Do đó, luật của Pháp, nơi ngân hàng phát
hành có trụ sở, sẽ được áp dụng. Hơn nữa, việc áp dụng luật của Pháp sẽ
dẫn đến việc áp dụng một hệ thống pháp luật thống nhất và giúp bảo đảm
tính an toàn cho các giao dịch ngân hàng trong lĩnh vực này.
Ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng.
Để bảo vệ tốt hơn lợi ích của mình, người
thụ hưởng luôn mong muốn một ngân hàng khác xác nhận thư tín dụng.
Thông thường ngân hàng thông báo đồng thời là ngân hàng xác nhận. Trong
trường hợp đó, ngân hàng này sẽ cam kết thanh toán trực tiếp và độc lập
cho người thụ hưởng. Quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng
cũng giống như quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng. Do
vậy, việc xác định luật áp dụng sẽ tương tự như quan hệ trên. Trên thực
tế, khi ngân hàng xác nhận tham gia vào giao dịch thư tín dụng thì luật
điều chỉnh quan hệ giữa ngân hàng và người thụ hưởng sẽ là luật của nước
nơi ngân hàng có trụ sở.
Theo một phán quyết của Tòa án liên bang
Thụy Sỹ, « cam kết của ngân hàng xác nhận dành cho người thụ hưởng tương
tự như cam kết của ngân hàng phát hành. Quan hệ giữa ngân hàng xác nhận
và người thụ hưởng sẽ chịu sự điều chỉnh của luật của nước nơi ngân
hàng có trụ sở ». Các thẩm phán của Anh cũng tuân theo nguyên tắc này
với nhận định rằng « luật áp dụng trong trường hợp có tranh chấp liên
quan đến cam kết của ngân hàng xác nhận thư tín dụng quốc tế là luật của
nước nơi thư tín dụng được thực hiện ».
Ở Pháp, chúng tôi không tìm thấy án lệ về
vấn đề này. Tuy nhiên các học giả của Pháp cũng ủng hộ quan điểm của
các thẩm phán Anh và Thụy Sỹ với quan điểm rằng « đối với giao dịch tín
dụng chứng từ, quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng chịu
sự điều chỉnh của luật của nước nơi ngân hàng có trụ sở, nếu không có
thỏa thuận khác ». Giáo sư Vasseur cho cho rằng « đối với việc xác nhận
thư tín dụng, luật áp dụng là luật của nước nơi ngân hàng xác nhận có
trụ sở ».
2- Trường hợp có nhiều ngân hàng tham gia quan hệ thư tín dụng
Giới thiệu.
Vấn đề về luật áp dụng trở nên phức tạp
hơn khi có sự tham gia của nhiều ngân hàng vào giao dịch tín dụng chứng
từ. Chúng ta có thể nghĩ đến một giải pháp duy nhất và áp dụng luật của
nước nơi ngân hàng phát hành có trụ sở cho tất cả mối quan hệ phát sinh
từ thư tín dụng. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lại cho rằng mỗi quan hệ
cần phải chịu sự điều chỉnh của một hệ thống pháp luật riêng. Trên thực
tế có rất nhiều tranh chấp về thư tín dụng có sự liên quan của nhiều
ngân hàng ở các quốc gia khác nhau. Phán quyết của tòa án Anh sau đây là
một ví dụ.
Án lệ. Phán quyết này
của thẩm phán Justice Mance liên quan đến luật điều chỉnh thư tín dụng
thương mại theo Công ước Rome ngày 19 tháng 6 năm 1980. Tuy đây là một
bản án của Anh nhưng vì nó áp dụng Công ước Rome và Pháp cũng là thành
viên của Công ước này nên việc nghiên cứu phán quyết của thẩm phán Anh
sẽ giúp chúng ta tích lũy nhiều kinh nghiệm quý báu.
Một ngân hàng tại Ấn Độ, theo yêu cầu của
nhà nhập khẩu Ấn Độ, đã phát hành một thư tín dụng cho người thụ hưởng
là một công ty có trụ sở tại London (Anh) nhằm thanh toán hợp đồng mua
bán sản phẩm luyện kim. Thư tín dụng được xác nhận bởi một ngân hàng Ấn
Độ, chi nhánh tại London. Ngân hàng xác nhận đã thanh toán khoản tiền
theo thư tín dụng. Sau đó, ngân hàng phát hành phát hiện ra rằng các
chứng từ do người thụ hưởng xuất trình là giả mạo và do đó từ chối trả
tiền cho ngân hàng xác nhận. Tranh chấp này sẽ do pháp luật quốc gia nào
điều chỉnh ? Vì có nhiều mối quan hệ phát sinh trong giao dịch tín dụng
chứng từ trên nên sẽ có nhiều giả thiết về luật áp dụng được đặt ra.
Quan hệ giữa ngân hàng phát hành và ngân
hàng xác nhận là hợp đồng đại diện với nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng là
việc xác nhận thư tín dụng. Đó là mục đích mà ngân hàng xác nhận tham
gia vào giao dịch này. Luật áp dụng là luật của Anh bởi vì chi nhánh
ngân hàng tại Anh cam kết xác nhận thư tín dụng. Theo thẩm phán Mance,
quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng cũng do luật của Anh
điều chỉnh căn cứ vào điều 4, khoản 2, Công ước Rome.
Mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành tại
Ấn Độ và người thụ hưởng tại Anh sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật
quốc gia nào? Theo điều 4, khoản 2, luật áp dụng là luật của Ấn Độ. Do
vậy, có thể nhận định rằng một quan hệ tín dụng chứng từ có thể do hai
hệ thống pháp luật khác nhau điều chỉnh, tùy thuộc vào việc người thụ
hưởng yêu cầu ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận thanh toán.
Theo thẩm phán Mance, giải pháp này sẽ gặp nhiều bất cập. Trên thực tế,
ngân hàng xác nhận đã thanh toán cho người thụ hưởng và yêu cầu ngân
hàng phát hành trả tiền lại cho mình, tranh chấp này sẽ do luật của Anh
điều chỉnh. Nhưng nếu người thụ hưởng yêu cầu ngân hàng phát hành tại Ấn
Độ thanh toán thi tranh chấp này do luật của Ấn Độ điều chỉnh.
Để vụ việc sáng tỏ hơn, thẩm phán Mance
căn cứ vào điều 4, khoản 5 của Công ước Rome theo đó : « Các quy định
tại khoản 2, 3 và 4 sẽ không được áp dụng trong trường hợp hợp đồng có
mối liên hệ mật thiết nhất với một nước khác ». Do đó, trong trường hợp
thư tín dụng được xác nhận theo yêu cầu của ngân hàng phát hành thì mối
quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng sẽ do luật của Anh
điều chỉnh vì hợp đồng tín dụng đó có mối liên hệ mật thiết nhất với
London, nơi có trụ sở của ngân hàng xác nhận.
Án lệ (tiếp).
Năm 1992, Tòa thương mại Paris cũng giải
quyết một vụ việc phức tạp tương tự. Công ty Total (Liban) ký hợp đồng
mua một tàu chở dầu với một công ty của Panama, thanh toán bằng thư tín
dụng do một ngân hàng tại Liban phát hành. Khoản tiền của thư tín dụng
được thanh toán tại tại Geneva (Thụy Sỹ). Ngân hàng Liban yêu cầu ngân
hàng Saradar (Pháp) xác nhận thư tín dụng và ngân hàng Bruxelles-Lambert
đóng vai trò vừa là ngân hàng thông báo vừa là ngân hàng xác nhận. Như
vậy, có hai ngân hàng tại Pháp và Thụy Sỹ xác nhận thư tín dụng trên.
Ngày 24 tháng 10, người thụ hưởng xuất
trình bộ chứng từ tại ngân hàng Bruxelles-Lambert và ngày 29 tháng 10,
ngân hàng Saradar thông báo cho ngân hàng Bruxelles-Lambert rằng các
chứng từ hoàn toàn phù hợp và họ đồng ý thanh toán lại cho ngân hàng
Thụy Sỹ vào ngày 16 tháng 12. Do đó, ngân hàng Bruxelles-Lambert đã
thanh toán khoản tiền của thư tín dụng cho người thụ hưởng. Về phía
người yêu cầu mở thư tín dụng, sau khi nhận được các chứng từ, công ty
Total (Liban) nhận lô hàng vào ngày 5 tháng 12.
Đến ngày 12 tháng 12, tức là đã vượt quá «
thời hạn hợp lý » để từ chối chứng từ theo quy định của UCP, ngân hàng
Saradar thông báo cho ngân hàng Bruxelles-Lambert rằng phát hiện điểm
bất hợp lệ trong bộ chứng từ và từ chối thanh toán. Ngân hàng Thụy Sỹ
khởi kiện ra Tòa thương mại Paris và ngân hàng của Pháp buộc phải thanh
toán cho ngân hàng Thụy Sỹ. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là luật quốc gia nào
sẽ áp dụng cho tranh chấp giữa hai ngân hàng này ?
Ngân hàng Bruxelles-Lambert cho rằng luật
áp dụng là luật Thụy Sỹ vì « nghĩa vụ đặc thù trong giao dịch tín dụng
chứng từ là việc thanh toán thư tín dụng, được thực hiện tại Thụy Sỹ ».
Hơn nữa, các quy định của luật Thụy Sỹ về thư tín dụng sẽ có lợi cho
ngân hàng Bruxelles-Lambert hơn là luật của Pháp. Tòa án Pháp nhận định
rằng, trong mối quan hệ giữa ngân hàng Bruxelles-Lambert (Thụy Sỹ) và
ngân hàng Saradar (Pháp), ngân hàng thực hiện nghĩa vụ đặc thù là ngân
hàng Saradar vì đó là « nghĩa vụ của ngân hàng thực hiện việc thanh toán
sau khi kiểm tra bộ chứng từ hoặc từ chối nếu chứng từ không phù hợp ».
Trong vụ việc này, ngân hàng Saradar có nghĩa vụ thanh toán lại cho
ngân hàng Bruxelles-Lambert khoản tiền mà ngân hàng này đã trả cho người
thụ hưởng.
Nhận xét. Công ước Rome
có vai trò rất quan trọng trong việc xác định luật áp dụng trong các
tranh chấp tại Pháp. Nó thay thế hoàn toàn cho các quy phạm xung đột
trong pháp luật quốc gia. Hơn nữa, do sự phức tạp của những mối quan hệ
hợp đồng phát sinh từ giao dịch thư tín dụng, các tiêu chí của Công ước
cần phải được vận dụng một cách riêng biệt. Cần lưu ý rằng việc áp dụng
những tiêu chí này có thể dẫn đến áp dụng một hệ thống luật cho nhiều
quan hệ.
II – Việc xác định luật áp dụng tại Việt Nam
Văn bản pháp luật.
Theo pháp luật Việt Nam,
khi các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì quyền và nghĩa vụ
của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực
hiện hợp đồng.
Do đó, cần xác định nơi thực hiện thư tín
dụng. Điều này quả thật không dễ dàng. Đối với hợp đồng tín dụng giữa
ngân hàng phát hành và người thụ hưởng hoặc giữa ngân hàng phát hành và
ngân hàng xác nhận/ngân hàng chiết khấu, nơi thực hiện hợp đồng ở địa
điểm nào ? Các quan hệ hợp đồng giữa các bên trong giao dịch tín dụng
chứng từ là khác nhau, vì thế nơi thực hiện hợp đồng tín dụng cũng sẽ
khác nhau.
Bên cạnh đó, trong trường hợp hợp đồng
không ghi nơi thực hiện thì việc xác định nơi thực hiện hợp đồng phải
tuân theo pháp luật Việt Nam. Điều 284, khoản 2(b) của Bộ luật dân sự
quy định rằng trong trường hợp không có thỏa thuận thì địa điểm thực
hiện nghĩa vụ dân sự là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối
tượng của nghĩa vụ không phải là bất động sản.
Bản án.
Để hiểu rõ hơn về những khó khăn trong
việc xác định nơi thực hiện thư tín dụng, chúng ta cùng lấy một ví dụ,
đó là tranh chấp do Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết
liên quan đến thư tín dụng giữa các công ty Việt Nam và Hàn Quốc.
Công ty L.G. (Hàn Quốc) và công ty
C&T (Việt Nam) ký kết hợp đồng mua bán dây đồng. Hợp đồng có điều
khoản quy định về việc mở thư tín dụng không hủy ngang cho người thụ
hưởng là công ty L.G. Ngân hàng V.H. phát hành thư tín dụng theo yêu cầu
của công ty C&T. Ngân hàng ABN-AMRO, chi nhánh Seoul là ngân hàng
thông báo. Thư tín dụng hết hiệu lực vào ngày 20 tháng 8 năm 1996 tại
Hàn Quốc.
Theo các điều khoản và điều kiện của thư
tín dụng, thư tín dụng có thời hạn 360 ngày, thanh toán bằng hối phiếu
tại ngân hàng V.H. Người thụ hưởng phải xuất trình bộ chứng từ tại ngân
hàng phát hành và nếu các chứng từ thể hiện trên bề mặt là phù hợp thì
ngân hàng có nghĩa vụ thanh toán cho người thụ hưởng khi đến hạn. Như
chúng ta đã tìm hiểu, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một
cam kết mà ngân hàng phát hành dành cho người thụ hưởng và người thụ
hưởng có quyền yêu cầu ngân hàng thanh toán cho mình số tiền trong thư
tín dụng với điều kiện chứng từ phù hợp. Theo điều 284, khoản 2(b), Bộ
luật dân sự, địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự là nơi có trụ sở của bên
có quyền, tức là tại nơi có trụ sở của công ty Hàn Quốc.
Tuy nhiên về các vụ việc có yếu tố tương
tự do tòa án Singapore giải quyết, thẩm phán Singapore lại nhận định
rằng « trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì luật áp dụng là
luật của nước có mối liên hệ mật thiết với hợp đồng. Đối với hợp đồng
tín dụng giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng, hợp đồng có mối
liên hệ mật thiết nhất với nơi thanh toán thư tín dụng. Do đó, quan hệ
giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng sẽ chịu sự điều chỉnh của
luật nơi thực hiện việc thanh toán ». Thẩm phán cho rằng người thụ hưởng
có nghĩa vụ xuất trình bộ chứng từ tại ngân hàng phát hành bởi thư tín
dụng chỉ được thanh toán khi ngân hàng phát hành chấp nhận hối phiếu.
Nếu nhìn nhận vụ việc trên theo quan điểm của các thẩm phán Singapore,
nơi thực hiện hợp đồng tín dụng sẽ là Việt Nam, vì thế luật Việt Nam sẽ
được áp dụng.
Xem xét các yếu tố khác của thư tín dụng
cho thấy ngân hàng thông báo được phép chiết khấu thư tín dụng. Do vậy,
ngân hàng ABN-AMRO, chi nhánh Seoul có thể tham gia với tư cách ngân
hàng thông báo và ngân hàng chiết khấu. Nó có quyền chiết khấu bộ chứng
từ nếu các chứng từ thể hiện trên bề mặt phù hợp với các điều khoản và
điều kiện của thư tín dụng. Giả sử người thụ hưởng Hàn Quốc không xuất
trình chứng từ tại ngân hàng phát hành Việt Nam mà xuất trình tại ngân
hàng ABN-AMRO. Sau khi kiểm tra, ngân hàng chiết khấu bộ chứng từ và
thanh toán cho người thụ hưởng. Sau đó, ABN-AMRO có quyền yêu cầu ngân
hàng phát hành hoàn trả lại số tiền đã thanh toán. Trong trường hợp này,
theo điều 284, khoản 2(b), nơi thực hiện nghĩa vụ hoàn trả giữa ngân
hàng Việt Nam và ngân hàng Hàn Quốc được xác định tại Hàn Quốc.
Tuy nhiên, trên thực tế, ngân hàng Korea
Exchange Bank đã chiết khấu chứng từ. Các học giả cho rằng « cho dù thư
tín dụng được phép chiết khấu bởi ngân hàng thông báo hoặc bởi bất kỳ
ngân hàng nào thì luật áp dụng cho quan hệ giữa ngân hàng phát hành và
ngân hàng chiết khấu không có gì thay đổi ». Nếu thư tín dụng được tự do
chiết khấu tại bất kỳ ngân hàng nào tại Hàn Quốc thì luật của Hàn Quốc
vẫn được áp dụng.
Do ngân hàng Việt Nam không có khả năng
thanh toán nợ đến hạn, ngân hàng chiết khấu Hàn Quốc đã kiện ngân hàng
Việt Nam tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Theo phân tích trên
đây, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng giữa ngân hàng Việt Nam và Hàn Quốc
được xác định tại Hàn Quốc. Tuy nhiên, thẩm phán đã áp dụng pháp luật
Việt Nam mà không có bất kỳ giải thích, lập luận nào.
Theo các tác giả Đỗ Văn Đại và Mai Hồng
Quỳ, « để giúp các bên và tòa án trong việc xác định pháp luật áp dụng
cho hợp đồng, chúng ta cần có những quy định cụ thể về nơi thực hiện hợp
đồng ». Chẳng hạn, chúng ta có thể quy định nơi thực hiện hợp đồng là
nơi thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng, tức là nơi đóng trụ sở của
bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù đó. Mặt khác, cần đưa ra một danh sách
nghĩa vụ đặc thù của những hợp đồng thông dụng như đối với hợp đồng mua
bán là nghĩa vụ của người bán, hợp đồng ủy thác là nghĩa vụ của người
nhận ủy thác, v.v… Cần lưu ý rằng trong quan hệ hợp đồng giữa ngân hàng
phát hành và người thụ hưởng, người thụ hưởng phải xuất trình bộ chứng
từ tại ngân hàng phát hành. Nếu các chứng từ phù hợp với yêu cầu của thư
tín dụng thì ngân hàng phải thanh toán khi đến hạn. Do đó, nghĩa vụ đặc
thù của hợp đồng tín dụng là nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng phát
hành, luật áp dụng là luật của Việt Nam. Trong quan hệ hợp đồng giữa
ngân hàng phát hành và ngân hàng chiết khấu, nghĩa vụ đặc thù do ngân
hàng chiết khấu thực hiện, luật áp dụng là luật của Hàn Quốc.
Nhận xét. Qua những phân
tích trên, chúng ta có thể kết luận rằng quan điểm của thẩm phán mỗi
nước có ý nghĩa quyết định đối với luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng
trong giao dịch tín dụng chứng từ. Do tính chất phức tạp của các quan hệ
hợp đồng trong thư tín dụng nên có thể dẫn đến nhiều luật áp dụng cho
một quan hệ hoặc mỗi quan hệ lại do một hệ thống pháp luật riêng biệt
điều chỉnh. Vì thế, nên chăng các bên thỏa thuận rõ ràng, cụ thể nơi
thực hiện hợp đồng trong giao dịch tín dụng thư ?
Nhận xét so sánh.
Hai hệ thống pháp luật
đều thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài đối với giao dịch
tín dụng chứng từ khi các bên không thỏa thuận về luật áp điều chỉnh.
Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, thẩm phán sẽ căn cứ vào quy phạm
xung đột để xác định luật điều chỉnh.
Trong luật của Pháp, các quy phạm xung
đột được quy định trong Công ước Rome ngày 19 tháng 6 năm 1980, theo đó
hợp đồng chịu sự điều chỉnh của luật của quốc gia mà hợp đồng đó có mối
liên hệ mật thiết nhất. Theo tinh thần của Công ước Rome, hợp đồng có
mối liên hệ mật thiết nhất với quốc gia có nơi cư trú hoặc trụ sở của
bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù vào thời điểm xác lập hợp đồng.
Căn cứ vào quy phạm xung đột của pháp
luật Việt Nam, được cụ thể hóa trong Bộ luật dân sự, quyền và nghĩa vụ
của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực
hiện hợp đồng. Do vậy, với những tiêu chí khác nhau, một quan hệ có thể
chịu sự điều chỉnh của một hệ thống luật khác nhau, tùy thuộc vào quy
định của từng quốc gia.
Tuy nhiên, các thẩm phán của Pháp và Việt
Nam đều phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình xác định nghĩa
vụ đặc thù và nơi thực hiện các nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở hợp đồng
tín dụng, đặc biệt trong trường hợp có nhiều ngân hàng tham gia vào giao
dịch tín dụng chứng từ.
Kết luận
Qua việc nghiên cứu các
vấn đề trong chương I, chúng ta nhận thấy rằng số lượng các bản án liên
quan đến xung đột pháp luật trong lĩnh vực thư tín dụng còn rất hạn chế,
trong khi đó, tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán được sử
dụng khá phổ biến trong thương mại quốc tế, những tranh chấp phát sinh
giữa các chủ thể tại nhiều quốc gia khác nhau có thể dẫn đến các vấn đề
xung đột pháp luật phức tạp.
Mỗi quan hệ hợp đồng trong thư tín dụng
có thể chịu sự điều chỉnh của một hệ thống pháp luật riêng biệt. Luật áp
dụng cho hợp đồng thương mại không thể được áp dụng đối với hợp đồng
tín dụng giữa ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận với người thụ
hưởng. Để xác định luật điều chỉnh phù hợp cho từng quan hệ, chúng ta
cần xem xét nhiều yếu tố.
Bên cạnh đó, có thể thấy rằng thẩm phán
gặp nhiều khó khăn trong việc xác định luật áp dụng đối với giao dịch
thư tín dụng do các bên liên quan thường bất đồng về vấn đề này, luôn
muốn tòa án áp dụng hệ thống luật có lợi cho mình. Từ đó, nên chăng đưa
vào thư tín dụng một điều khoản về luật áp dụng ? Chúng ta hãy tìm hiểu
khả năng này trong chương tiếp theo.
CHƯƠNG II
SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC GIA
ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
KHI CÁC BÊN LỰA CHỌN ÁP DỤNG
UCP thừa nhận lựa chọn áp dụng pháp luật quốc gia.
Theo giáo sư Stoufflet, «
việc UCP điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ không ngăn cản các bên
loại trừ những quy định của UCP mà họ cảm thấy không phù hợp với lợi ích
của mình. UCP đã quy định rõ ràng như vậy ». Do đó, các bên hoàn toàn
có quyền không áp dụng UCP để lựa chọn hệ thống pháp luật điều chỉnh
quan hệ thư tín dụng nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của mình. Pháp
luật của Pháp (Phân đoạn I) và pháp luật Việt Nam (Phân đoạn II) có
thừa nhận quyền lựa chọn này hay không ? Chúng ta cùng tìm câu trả lời.
I – Việc lựa chọn luật áp dụng tại Pháp
Khả năng lựa chọn.
Theo Công ước Rome, « hợp đồng do pháp
luật mà các bên lựa chọn điều chỉnh » và việc lựa chọn luật áp dụng «
phải rõ ràng và được quy định cụ thể trong hợp đồng » (điều 3, khoản 1).
Do vậy, có thể khẳng định rằng các bên có quyền chọn luật áp dụng. Lựa
chọn này phải được tôn trọng. Như chúng ta đã đề cập, thư tín dụng thực
chất là một hợp đồng, các quy định trên của Công ước Rome cũng được áp
dụng đối với giao dịch tín dụng chứng từ. Do đó, các bên có quyền chọn
lựa một hệ thống pháp luật phù hợp với quan hệ hợp đồng và ở đây « khi
tồn tại điều khoản về chọn luật áp dụng, sự lựa chọn này là bắt buộc ».
Cần lưu ý rằng điều khoản này của Công ước thừa nhận các bên có quyền
lựa chọn luật điều chỉnh cho toàn bộ hoặc một phần của hợp đồng.
Hiệu lực bắt buộc.
Khi các bên lựa chọn luật áp dụng thì lựa
chọn đó trở thành một bộ phận của hợp đồng. Các hành vi vi phạm luật
điều chỉnh tức là vi phạm hợp đồng. Thẩm phán và các bên liên quan đều
chịu sự ràng buộc của luật điều chỉnh hợp đồng. Theo một số học giả, «
trong hoạt động phát hành thư tín dụng, các ngân hàng thường đưa vào thư
tín dụng một điều khoản dẫn chiếu áp dụng UCP nhưng không hề nhắc đến
luật quốc gia điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ ». Trong thực tế,
việc lựa chọn pháp luật áp dụng vẫn chưa phổ biến. Chúng tôi không tìm
thấy bản án nào của Pháp liên quan đến thư tín dụng chứa đựng điều khoản
về dẫn chiếu luật áp dụng.
II – Việc lựa chọn luật áp dụng tại Việt Nam
Tự do lựa chọn.
Theo điều 769, khoản 1,
Bộ luật dân sự, « quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác
định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa
thuận khác ». Trong trường hợp các bên xác định luật áp dụng thì có thể
kết luận rằng các bên đã có thỏa thuận khác. Do vậy, pháp luật do các
bên lựa chọn sẽ được áp dụng đối với quan hệ hợp đồng của họ. Các văn
bản pháp luật khác của Việt Nam cũng thừa nhận quyền lựa chọn luật điều
chỉnh.
Có thể kết luận rằng pháp luật Việt Nam
cho phép các bên lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Tuy nhiên, các văn
bản trên lại không quy định rõ ràng thời điểm các bên thực hiện quyền
lựa chọn. Theo quan điểm của chúng tôi, các bên có thể lựa chọn luật
điều chỉnh trong quá trình xác lập hợp đồng hoặc một thời gian sau đó,
ví dụ khi phát sinh tranh chấp tại tòa án.
Thực tế.
Vào thời điểm hiện tại, các thư tín dụng
do ngân hàng ở Việt Nam phát hành chỉ chứa đựng duy nhất điều khoản dẫn
chiếu áp dụng UCP mà không đề cập đến luật điều chỉnh thư tín dụng.
Dường như các ngân hàng không quan tâm đến khả năng áp dụng của pháp
luật quốc gia mà cho rằng mọi vấn đề liên quan đến thư tín dụng đều được
quy định trong UCP. Đó là một sai lầm bởi như chúng ta đã phân tích ở
trên, có nhiều tình huống mà việc áp dụng pháp luật quốc gia là cần
thiết, nhất là trong trường hợp gian lận.
Nhận xét so sánh.
Pháp luật của Pháp và Việt Nam đều cho
phép các bên trong hợp đồng lựa chọn luật áp dụng. Nhận thức rõ về những
khó khăn trong việc xác định luật áp dụng khi các bên không lựa chọn
luật điều chỉnh, nên chăng các bên thỏa thuận trước về vấn đề này nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Trên thực tế, việc đặt ra vấn đề lựa
chọn luật áp dụng không đơn giản. Lựa chọn luật áp dụng giúp bảo đảm
tính an toàn về pháp lý trong trường hợp phát sinh tranh chấp bởi các
bên liên quan đã tìm hiểu về hệ thống pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên
việc đưa ra vấn đề chọn luật từ thời điểm xác lập thư tín dụng có thể
gây ra sự hiểu lầm giữa các đối tác. Nếu các bên quyết định lựa chọn
luật áp dụng cho giao dịch tín dụng chứng từ thì họ có thể bổ sung vào
thư tín dụng điều khoản dẫn chiếu như sau : « Đối với mọi vấn đề liên
quan đến thư tín dụng này mà không được quy định trong Bản Quy Tắc và
Thực Hành Thống Nhất thì sẽ chịu sự điều chỉnh của các quy phạm thực
chất của pháp luật quốc gia nơi ngân hành phát hành có trụ sở », bởi như
chúng ta đã nghiên cứu, đối với hợp đồng tín dụng, ngân hàng phát hành
là chủ thể thực hiện nghĩa vụ đặc thù.
Kết luận
Theo quan điểm của chúng
tôi, sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với giao dịch tín dụng
chứng từ là cần thiết vì những lý do mà giáo sư Legeais đã nêu. Trong
đó, trường hợp gian lận có tầm quan trọng nhất bởi các vấn đề liên quan
đến gian lận không được UCP quy định.
Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích của
mình khi có tranh chấp phát sinh, các bên có thể chọn luật áp dụng cho
quan hệ hợp đồng bằng cách đưa vào thư tín dụng một điều khoản dẫn chiếu
về luật áp dụng. Các bên liên quan cũng có quyền loại trừ việc áp dụng
toàn bộ hoặc một số quy định của UCP mà họ cho rằng không có lợi cho
quan hệ hợp đồng.
Nên chăng các cơ quan lập pháp của Pháp
và Việt Nam ban hành văn bản pháp luật về giao dịch tín dụng chứng từ.
Các văn bản này sẽ quy định cụ thể các vấn đề không được đề cập trong
UCP.
Kết luận chung
Phần hai tập trung nghiên cứu sự điều
chỉnh của pháp luật quốc gia đối với tín dụng chứng từ. Có một số điểm
giống nhau giữa hai hệ thống pháp luật của Pháp và Việt Nam.
Pháp luật của hai nước đều thừa nhận khả
năng áp dụng của pháp luật quốc gia cho dù các bên có lựa chọn hay
không. Tuy nhiên, khi không có điều khoản dẫn chiếu trong hợp đồng, các
thẩm phán của Pháp và Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc xác định
luật áp dụng cho tranh chấp thư tín dụng.
Một điểm tương đồng nữa cần lưu ý, đó là
khi các bên trong giao dịch thư tín dụng không lựa chọn luật áp dụng thì
việc giải quyết tranh chấp tại tòa án sẽ khá phức tạp. Do đó, các bên
liên quan nên dự trù luật điều chỉnh trong quá trình xác lập thư tín
dụng.
Bên cạnh đó, cũng có
nhiều điểm khác biệt giữa pháp luật của Pháp và Việt Nam. Thẩm phán của
hai nước xác định luật áp dụng trên cơ sở những tiêu chí khác nhau. Ở
Pháp, đó là nguyên tắc hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với nước
có trụ sở của bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù. Ở Việt Nam, hợp đồng lại
chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng. Nên
chăng pháp luật Việt Nam quy định cụ thể nơi thực hiện nghĩa vụ theo hợp
đồng, chẳng hạn như là địa điểm thực hiện nghĩa vụ đặc thù.
Xuân Quỳnh
Khoa Quốc tế ĐH Luật TPHCM
Tháng 4-2007)
Khoa Quốc tế ĐH Luật TPHCM
Tháng 4-2007)
SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN



2:11 PM
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 comments:
Post a Comment