ĐỖ MAI THÀNH
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong nguồn vốn quan trọng trong đầu tư phát triển kinh tế tại Việt Nam. Tuy nhiên, để thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này như thế nào cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước lại là một bài toán không đơn giản.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong nguồn vốn quan trọng trong đầu tư phát triển kinh tế tại Việt Nam. Tuy nhiên, để thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này như thế nào cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước lại là một bài toán không đơn giản.
1 – Những kết quả đạt được
Việt Nam là một nước đang phát triển nên
nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế rất cao. Cùng với quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào
Việt Nam trong những năm qua đã tăng lên đáng kể và có đóng góp nhất
định cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Tính đến nay đã có 43 quốc gia và vùng
lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Tổng số dự án FDI được cấp phép
từ năm 1988 đến năm 2008 đã lên tới 10.981 dự án, đạt tổng số vốn đăng
ký là hơn 163,607 tỉ USD. Riêng năm 2007, Việt Nam thu hút được 21,347
tỉ USD, trong đó giải ngân được 8,030 tỉ USD; trong các năm 2008 và
2009 kết quả đạt được trong lĩnh vực này thứ tự là 64 tỉ USD (vốn thực
hiện gần 12 tỉ USD) và 21,482 tỉ USD (thực hiện được 10 tỉ USD); còn 4
tháng đầu năm 2010 thu hút được 5,92 tỉ USD (thực hiện được 3,4 tỉ
USD), tăng 36% so với cùng kỳ năm 2009.
Có thể nói, trong bối cảnh khủng khoảng
kinh tế toàn cầu và cạnh tranh gay gắt thì kết quả đạt được trong việc
thu hút FDI của năm 2009 là một cố gắng nỗ lực lớn của Việt Nam trong
vận động xúc tiến đầu tư và cải thiện môi trường đầu tư (chỉ tiêu dự
kiến trong năm 2009 là 20 tỉ USD vốn cam kết và 8 tỉ USD vốn thực
hiện), bởi tuy vốn cam kết đạt được của năm 2009 giảm sút so với năm
2008, nhưng chỉ tiêu quan trọng là vốn thực hiện thì chỉ bị giảm 13% (ở
nhiều nước trong khu vực vốn này bị giảm tới 20% – 30%).
Không chỉ đạt được kết quả đáng ghi nhận
về tốc độ giải ngân trong bối cảnh vốn thu hút mới và vốn tăng thêm sụt
giảm mà chúng ta còn tăng được số dự án, quy mô vốn của dự án. Nếu quy
mô vốn bình quân của 1 dự án FDI năm 2007 chỉ là 12,12 triệu USD, thì
đến năm 2008 quy mô đó đạt 51,47 triệu USD, năm 2009 đạt 19,43 triệu
USD.
Các đối tác đầu tư cũng có sự thay đổi
theo hướng tích cực từ những quốc gia và vùng lãnh thổ châu á sang các
nước thuộc châu Âu, Mỹ. Hiện nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam là Mỹ với
tổng số vốn đăng ký là 9,8 tỉ USD (chiếm 45,6% tổng vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam); tiếp theo là Quần đảo Cay-man: 2,02 tỉ USD (chiếm
9,4%); Samoa: 1,7 tỉ USD (chiếm 7,9%); Hàn Quốc: 1,66 tỉ USD (chiếm
7,7%). Ngoài ra đã có một số tập đoàn xuyên quốc gia lớn đầu tư vào
Việt Nam với những dự án quy mô lớn có tổng vốn đăng ký trên 1 tỉ USD.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã góp
phần đưa nền kinh tế Việt Nam vượt qua đáy suy giảm, duy trì tốc độ
tăng trưởng dương với mức tăng 5,32%. Xuất khẩu của khu vực này trong
năm 2009 (kể cả dầu khí) đạt 29,9 tỉ USD, bằng 86,6% so với năm 2008 và
chiếm 52,7% tổng xuất khẩu của cả nước. Nếu không tính dầu thô, khu
vực có vốn FDI xuất khẩu được 23,6 tỉ USD, chiếm 41,7% tổng xuất khẩu
và bằng 98% so với năm 2008. Về nhập khẩu, năm 2009 khu vực FDI đạt
24,8 tỉ USD, bằng 89,2% so với năm 2008 và chiếm 36,1% tổng nhập khẩu
cả nước. Các doanh nghiệp có vốn FDI còn đóng góp rất lớn trong việc
giải quyết vấn đề công ăn việc làm tại Việt Nam, thu hút được 1,7 triệu
lao động, tạo ra 17,5% GDP, 43,4% giá trị sản xuất công nghiệp trong
năm 2009.
2 – Các hạn chế của nguồn vốn FDI
Cơ cấu phân bổ vốn FDI vào Việt Nam hiện
nay còn chưa hợp lý. Hiện tại lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống thu
hút sự quan tâm của các nhà đầu tư vốn FDI nhất (với 8,8 tỉ USD vốn cấp
mới và tăng thêm). Trong đó, có 32 dự án cấp mới (tổng vốn đầu tư là
4,9 tỉ USD) và 8 dự án tăng vốn (với số vốn tăng thêm là 3,8 tỉ USD).
Đứng thứ 2 là lĩnh vực bất động sản (7,6 tỉ USD vốn đăng ký mới và tăng
thêm), với nhiều dự án quy mô lớn được cấp phép như khu du lịch sinh
thái bãi biển rồng tại Quảng Nam, dự án Công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên Galileo Investment Group Việt Nam… Lĩnh vực công nghiệp chế
biến, chế tạo có quy mô vốn đăng ký đứng thứ 3 trong năm 2009 (với
2,97 tỉ USD vốn đăng ký, trong đó có 2,22 tỉ USD đăng ký mới và 749
triệu USD vốn tăng thêm). Với cơ cấu vốn FDI như thế thì rõ ràng FDI
vào lĩnh vực công nghệ chế tạo và chế biến đã bị giảm liên tục từ năm
2005 (70,4% năm 2005 xuống 68,9% năm 2006, 51% năm 2007, 36% năm 2008
và còn 13,6% năm 2009). Không những thế, trong lĩnh vực này, vốn đầu tư
chủ yếu tập trung vào công nghiệp lắp ráp nhằm tận dụng lao động rẻ,
có giá trị gia tăng thấp. Trong khi đó, đầu tư vào khai thác tài nguyên
và bất động sản tăng lên. Vốn FDI đầu tư vào khai thác mỏ đã tăng từ
0,8% năm 2005 lên 1,2% năm 2006 và lên tới 18,5% năm 2008; đầu tư vào
khách sạn, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng cũng tăng từ 0,9% năm 2005 lên tới
15,1% năm 2008. Song, đầu tư vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
vốn dĩ đã ít lại đang có xu hướng giảm (năm 2006 chiếm khoảng 6% tổng
vốn đăng ký, nhưng đến tháng 11-2008 chưa đạt tới 1%). Một cơ cấu đầu
tư như vậy hoàn toàn khó có thể bảo đảm cho quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của đất nước theo hướng bền vững.
Ngoài ra, một hạn chế khác của nguồn vốn
FDI vào Việt Nam là, loại trừ năm 2009, trong các năm khác, tỷ lệ vốn
thực hiện đạt được của nước ta còn rất thấp (năm 2007 đạt 38%, năm 2008
chỉ đạt 17% so với vốn đăng ký), phản ánh khả năng tiếp nhận nguồn vốn
này của Việt Nam còn thấp.
Về địa bàn đầu tư, mặc dù nguồn vốn FDI
đã phân bổ ở nhiều địa phương mới và có sự dịch chuyển từ các vùng kinh
tế trọng điểm Bắc Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam sang các tỉnh
thuộc Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung,… song những ưu đãi đối với
các dự án ở những địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa dường như vẫn
chưa phát huy được hiệu quả. Chẳng hạn, năm 2008 toàn vùng Tây Bắc chỉ
có 4 dự án (tổng số vốn 10,3 triệu USD), nhưng sang năm 2009 không có
dự án FDI nào được đăng ký mới hay bổ sung vốn.
Về hiệu quả đầu tư, khu vực FDI vốn được
kỳ vọng là lực lượng giải quyết công ăn việc làm cho người lao động,
tạo vốn và kích thích quá trình chuyển giao, đổi mới công nghệ để nâng
cao năng suất, hiệu quả cho nền kinh tế, nhưng nhiều chuyên gia kinh tế
hiện đang lo ngại về hiệu quả thực của khu vực này. Bởi, thứ nhất, chỉ
số ICOR (tỷ số gia tăng vốn và đầu vào) của khu vực có vốn FDI hiện
nay trong nền kinh tế đang là cao nhất (7,91 so với 7,76 và 3,54 của
khu vực nhà nước và khu vực tư nhân). Thứ hai, chỉ số TFP (hệ số năng
suất các nhân tố tổng hợp) lại là thấp nhất (-17,6 so với 8,6 và 3,1
của khu vực kinh tế nhà nước và khu vực tư nhân) mà lẽ ra 2 con số đó
cần phải ngược lại(1). Từ đó cho thấy sự tăng trưởng của khu vực có vốn
FDI chủ yếu dựa vào yếu tố lao động rẻ, chứ không phải do công nghệ
tiên tiến tạo ra. Trên thực tế ở nhiều doanh nghiệp FDI máy móc và công
nghệ được đối tác nhập vào Việt Nam phần nhiều là cũ và lạc hậu. Thứ
ba, nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang gây nhiều thất thoát về nguồn
thu thuế của Nhà nước qua hiện tượng chuyển giá trong hoạt động thương
mại giữa nội bộ công ty nhằm chuyển thu nhập và lợi nhuận về nước. Cụ
thể bằng việc định giá quá cao các nguyên liệu, máy móc nhập khẩu đầu
vào từ công ty mẹ, trong khi lại bán hàng hóa sản xuất ra cho công ty
mẹ với giá quá thấp, nên các doanh nghiệp này đã luôn ở tình trạng
“thua lỗ”, không những không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, mà
còn được hoàn thuế giá trị gia tăng. Chẳng hạn, theo số liệu thống kê
của Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh về kết quả kinh doanh năm 2009 của
doanh nghiệp FDI trên địa bàn, gần 60% số doanh nghiệp báo cáo thua lỗ
(một kết quả không phải là bất thường so với những năm trước nên không
thể đổ lỗi cho hậu quả của khủng khoảng kinh tế thế giới). Hay, theo
ông Đỗ Duy Thái, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Thép Việt, những năm
trước, hầu như doanh nghiệp thép trong nước nào cũng có lãi, thậm chí
lãi khá lớn, nhưng một công ty nước ngoài hoạt động ở Bình Dương, suốt
mười mấy năm hoạt động ngành thuế hầu như không thu được một đồng thuế
thu nhập doanh nghiệp nào. Vì vậy có hiện tượng các doanh nghiệp có vốn
FDI “lỗ” nhưng vẫn bung ra về quy mô và số lượng, còn phần đóng góp
của doanh nghiệp FDI cho ngân sách nhà nước lại giảm (năm 2009 giảm
11,2% so với kế hoạch, trong khi khu vực tư nhân trong nước chỉ giảm
4,4%, doanh nghiệp nhà nước tăng 6,2%). Và, điều này không chỉ gây tình
trạng tăng nhập siêu của Việt Nam, mà nguy hiểm hơn là nếu tình trạng
này kéo dài sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh, cạnh tranh không bình
đẳng với các doanh nghiệp trong nước.
Còn nói về việc sử dụng lao động, tạo
công ăn việc làm thì hiện nay khu vực có vốn FDI tuy đã sử dụng tới 1,7
triệu lao động, nhưng điều đáng chú ý là có tới 1,1 triệu người trong
số đó lại là lao động nữ, không được đào tạo hoặc chỉ đào tạo ngắn
ngày, nên có người đã ví doanh nghiệp có vốn FDI chẳng khác gì một phân
xưởng của công ty mẹ ở nước ngoài. Đây chính là điều mà chúng ta cần
tiếp tục suy nghĩ để làm sao cho vốn FDI vào Việt Nam thật sự đem lại
hiệu quả kinh tế.
3 – Nguyên nhân những hạn chế của nguồn vốn FDI
Có thể khẳng định nguyên nhân chủ yếu là
do những yếu kém trong nội tại nền kinh tế của nước ta. Trước hết, quy
mô nền kinh tế của Việt Nam còn nhỏ bé, sức hấp thụ vốn hạn chế nên
thực tế này là rào cản lớn cho việc giải ngân để chuyển số vốn đăng ký
thành vốn thực hiện như mong muốn của chúng ta.
Ngoài ra, hệ thống pháp luật, chính sách
về đầu tư vẫn thiếu sự đồng bộ, nhất quán. Chính sách đầu tư, cũng như
các thủ tục đầu tư của chúng ta còn bị các nhà đầu tư coi là rườm rà,
chi phí cao, thiếu tính minh bạch, trong khi đó, hệ thống tòa án, thực
thi pháp luật cũng còn nhiều hạn chế.
Hạn chế về kết cấu hạ tầng là một trong
những nguyên nhân chính làm chậm các dự án đầu tư, nhất là sự yếu kém
của hạ tầng giao thông làm các nhà đầu tư rất quan ngại bởi sẽ gây ra
nhiều khó khăn trong việc làm ăn và làm giảm lợi nhuận kỳ vọng của họ
khi đầu tư vào Việt Nam.
Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào, giá
rẻ, song nhân lực có trình độ quản lý và tay nghề cao lại rất thiếu.
Theo thống kê chỉ có gần 30% lực lượng lao động đã qua đào tạo. Chất
lượng lao động lao động không chỉ thấp mà còn chưa đồng đều chính là
những khó khăn khi nhà đầu tư muốn quan tâm tới các dự án công nghệ cao
tại Việt Nam.
Các thủ tục hành chính, hệ thống thuế,
hải quan… còn bất cập, không đồng bộ cũng là những yếu tố góp phần làm
nản lòng nhà đầu tư khi hoạt động tại Việt Nam.
Nói về hiệu quả đầu tư, Báo cáo nghiên
cứu đánh giá giữa kỳ dựa trên kết quả kế hoạch phát triển kinh tê – xã
hội 5 năm 2006- 2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã nhận định: Để có thể
chọn lọc được các dự án FDI phù hợp với lợi ích dài hạn của quốc gia
cần phải có bộ máy thẩm định, đánh giá có năng lực. Tuy nhiên, không
phải địa phương nào cũng có đủ năng lực đánh giá dự án. Trách nhiệm về
việc ra quyết định phê duyệt dự án sai cũng ít bị truy cứu và có biện
pháp xử lý thích đáng. Công tác giám sát của các cơ quan quản lý nhà
nước còn những bất cập. Do đó, việc phân cấp quản lý đầu tư và xây dựng
cho các bộ, ngành, địa phương hiện nay mặc dù được coi là rất đúng
đắn, nhưng lại đang tiềm ẩn những rủi ro, hạn chế hiệu quả của dòng vốn
FDI.
4 – Làm gì để vốn FDI đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế đất nước?
Nguồn vốn FDI từng được coi là an toàn
hơn so với vốn đầu tư gián tiếp bởi cùng với những bảo đảm pháp luật có
tính quốc tế, các nước chủ nhà có thể sử dụng những chiếc “van” như
thuế, tài chính… để hướng luồng vốn này vào những nơi, những lĩnh vực
theo kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước một cách đúng
lúc, lại tránh được những khó khăn ban đầu về thị trường, kinh nghiệm
quản lý, kinh doanh quốc tế… Tuy nhiên, nếu thu hút và sử dụng nguồn
vốn này không hợp lý, hiệu quả thì chẳng những không đem lại những lợi
ích như mong muốn, mà còn gây ra những hậu quả bất lợi như có hại cho
các nguồn lực tăng trưởng kinh tế (vì nước chủ nhà bị mất đi chi phí về
tài chính, nhân lực), tăng nhập siêu, làm mất cân đối tài khoản vãng
lai của nước tiếp nhận, đó là còn chưa nói tới những tác hại lâu dài về
môi trường sống. Bởi vậy, mặc dù tiến triển về tình hình thu hút và sử
dụng vốn FDI gần đây đang diễn ra tốt đẹp, song một số chuyên gia kinh
tế vẫn cảnh báo cần thận trọng với những nguy cơ đang tiềm ẩn quanh
khu vực này, bao gồm: sự “thổi phồng” về vốn và lợi nhuận; việc sử dụng
quá nhiều nguồn lực khan hiếm hoặc đang thiếu trầm trọng như đất đai,
năng lượng, tài nguyên thiên nhiên; hủy hoại và gây ô nhiễm môi trường;
nguy cơ không phù hợp với quy hoạch phát triển dài hạn, hoặc gây mất
cân đối về cơ cấu trong quá trình phát triển dài hạn; sử dụng công nghệ
lạc hậu, thải loại; khả năng “cướp vốn” của khu vực kinh tế tư nhân
trong nước; và cuối cùng là nguy cơ gây thiếu hụt ngoại tệ và rủi ro tỷ
giá.
Nguồn vốn FDI vào Việt Nam trong năm 2010
và những năm tiếp theo sẽ phụ thuộc nhiều vào việc các nước giải quyết
tốt những vấn đề kinh tế – xã hội sau khủng khoảng. Nhiều nhà kinh tế
vẫn đánh giá rất lạc quan về triển vọng thu hút FDI vào Việt Nam đi
cùng với sự phục hồi và tăng trưởng cao hơn các năm trước, chất lượng
của các dự án FDI cũng được nâng lên. Có những lý do cho sự lạc quan
này. Đó là, triển vọng tăng trưởng kinh tế của năm 2010 có thể đạt tới
6,5%, cao hơn năm 2009; Việt Nam nằm trong 15 nước được đánh giá cao về
môi trường đầu tư có sự ổn định chính trị, xã hội, với một thị trường
hấp dẫn, đầy tiềm năng; các chính sách của Chính phủ về cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước, chuyển đổi hoạt động của các tổng công ty, tập
đoàn nhất là thông qua việc bán một số doanh nghiệp cho các nhà đầu tư
nước ngoài… sẽ tạo điều kiện để dòng vốn FDI chảy mạnh vào Việt Nam;
thế và lực của Việt Nam được nâng lên trong khu vực và trên thế giới
trong thời gian tới do thực hiện các cam kết quốc tế trong khung khổ
WTO, AFTA và hướng tới cộng đồng ASEAN vào năm 2015.
Tuy vậy, trong thời gian tới, để thu hút
và nâng cao hiệu quả của dòng vốn FDI tại Việt Nam chúng ta vẫn cần tập
trung giải quyết những hạn chế đang tồn tại hiện nay như sau:
Thứ nhất, thể chế kinh tế của nước ta
phải được hoàn chỉnh nhanh và đồng bộ. Cần công khai, minh bạch mọi cơ
chế, chính sách quản lý đầu tư, trong đó có rà soát lại những văn bản
pháp quy liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế để sửa đổi các văn bản
cho phù hợp với quy định của WTO.
Thứ hai, nâng cấp kết cấu hạ tầng, nhất
là các cảng biển, nhà máy điện, hệ thống đường bộ cao tốc, chất lượng
dịch vụ đường sắt, cơ sở y tế, trường học… Khuyến khích áp dụng những
hình thức đầu tư như BOT, BTO, BT, PPP trong đầu tư xây dựng các công
trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật. Sớm mở cửa một số lĩnh vực dịch vụ mà
nước ta có nhu cầu như bưu chính viễn thông, hàng hải, hàng không… để
nhà đầu tư có thể được sử dụng kết cấu hạ tầng tốt và đồng bộ phục vụ
sản xuất, kinh doanh của họ có hiệu quả.
Thứ ba, đẩy mạnh hơn nữa cuộc cải cách hành chính, xóa bỏ những giấy phép và thủ tục không cần thiết trong đầu tư.
Thứ tư, từng bước đổi mới hệ thống giáo
dục và đào tạo để phát triển nguồn nhân lực, tăng được nguồn lực có
trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của hội nhập và phát triển đất nước. Muốn
vậy, cần tránh việc đào tạo tràn lan nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu
cầu về chất lượng của thực tế như hiện nay. Cần có kế hoạch đào tạo lâu
dài, bài bản, tiên lượng được trước nhu cầu nhằm đủ về số lượng, hợp
lý về cơ cấu, đạt được chất lượng cao phục vụ cho sự phát triển lâu dài
của nền kinh tế.
Thứ năm, tăng cường các hoạt động xúc
tiến đầu tư nước ngoài như cập nhật, bổ sung nội dung thông tin mới về
môi trường, chính sách đầu tư, danh mục dự án gọi vốn FDI trên các
trang thông tin điện tử, sách, đĩa CDROM hay tổ chức các cuộc xúc tiến
tại các nước đang và có triển vọng trở thành nhà đầu tư lớn vào Việt
Nam, thường xuyên tổ chức các cuộc hỏi đáp và đối thoại với các nhà đầu
tư…
Thứ sáu, đối với lĩnh vực nông nghiệp là
lĩnh vực mà hiện nay vốn FDI đang bị giảm sút nhiều, thì rất cần xây
dựng một chiến lược tổng thể phát triển ngành cũng như định hướng đầu
tư của vốn FDI vào ngành để các nhà đầu tư có thể xác định được phương
hướng phát triển lâu dài và có những quyết định hợp lý. Ngoài ra phải
có chính sách ưu đãi đối với những nhà đầu tư quan tâm đến lĩnh vực này
như miễn thuế nhập khẩu đối với công nghệ, miễn thuế giá trị gia tăng,
ưu đãi tín dụng nhà nước, thuế sử dụng đất và các hỗ trợ đầu tư khác.
Thứ bảy, đối với vấn đề “lỗ giả, lãi
thật” hiện nay của các doanh nghiệp FDI, thì các cơ quan chức năng cần
tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhiều hơn. Gấp rút xây dựng một hệ thống
theo dõi giá cả thị trường thế giới và ngành thuế cần kiểm tra những
báo cáo tài chính, kiểm toán chặt chẽ hơn để tránh tình trạng “lách
luật” của các doanh nghiệp FDI.
___________________________________________________
(1) Theo Cảnh báo hiệu quả của FDI, đưa trên ATP Việt Nam, ngày 4-3-2010
SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN ĐIỆN TỬ SỐ 17 (209) NĂM 2010



7:03 PM
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 comments:
Post a Comment