Sunday, January 5, 2014

Chuyên đề: PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN.

I. Khái niệm

1)     Ngân hàng thương mại cổ phần:

Theo Nghị Định 49/2000/CP quy định về tổ chức và họat động của ngân hàng thương mại, tại Mục 2 Điều 37 Khỏan 1 quy định “Ngân hàng thương mại cổ phần của Nhà nuớc và nhân dân (gọi tắt là ngân hàng thương mại cổ phần) là ngân hàng thuơng mại được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó doanh nghiệp nhà nuớc, tổ chức tín dụng nhà nước và tố chức khác, cá nhân cùng góp vốn theo quy định của Ngân hàng nhà nuớc”.

Từ khái niệm trên ta thấy rằng, pháp lệnh của Việt Nam đặt ra điều kiên bắt buộc là đối với ngân hàng thuơng mại cổ phần phải có vốn góp của Nhà nước. Và trên thực tế ngòai quy định về mô hình ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước và nhân dân, pháp luật hiện hành không có quy định các mô hình thuơng mại cổ phần nào khác.

Điều này càng chứng minh một điều: Ngân hàng là một trong những ngành độc quyền của nứơc ta. Theo số liệu của Ngân hàng Trung Ương – SBV, tính đến tháng 8/ 2008, cả nước có 47 ngân hàng; trong đó, có 37 ngân hàng là ngân hàng thương mại cổ phần.Và tính cho đến thời điểm hiện nay, có 2 ngân hàng thương mại cổ phần là Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) và Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) đã niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và TP HCM.

Có cơ chế quản lý và điều hành kinh doanh năng động, với mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận bảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư, cho nên họat động của ngân hàng thương mại cổ phần rất đa dạn, hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội. Vì vậy, mô hình này ngày càng chiếm thị phần lớn và giữ vai trò ngày càng quan trong trên thị trường tài chính tín dụng.

2)     Hoạt động huy động vốn:

Vì ngân hàng nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng là tổ chức tài chính trung gian nên họat động huy động vốn trong ngân hàng  là họat động thu hút vốn từ 1 chủ thể đang tạm thời thừa vốn sang 1 chủ thể đang tạm thời thiếu vốn.

II. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần.

Căn cứ theo Điều 3 Nghị định 49 quy định năm hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại.

1)     Hình thức huy dộng vốn bằng nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các lọai tiền gửi khác của ngân hàng thương mại cổ phần.

Đây là hình thức huy động vốn quan trọng và nó chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn huy động của mỗi tổ chức tín dụng cũng như ngân hàng thương mại cổ phần.

Theo khỏan 9 Điều 20 LCTCTD thì “tiền gửi” là số tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi có thể được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền.

a)     Tiền gửi không kỳ hạn:

Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi tiền (chủ tài khỏan) được sử dụng một cách chủ động và linh hoạt không bị rằng buộc về mặt thời gian.

Thông thường khách hàng sử dụng hình thức này nhằm phục vụ nhu cầu giao dịch, thanh toán như trả tiền hàng hóa, dịch vụ, rút tiền mặt từ ATM, chuyển tiền… cho nên, tài khỏan này còn được biết với tên là tài khỏan thanh toán. Vì nhu cầu sử dụng chính của hình thức này là thanh tóan, nên mức lãi suất trên tài khỏan tiền gửi không phải là mối quan tâm hàng đầu của khách hàng.

Tiền gửi không kỳ hạn được quản lý ở Ngân hàng thương mại cổ phần trên tài khỏan tiền gửi thanh toán hoặc tài khỏan vãng lai. Sở dĩ, tai khỏan thanh tóan còn được gọi là tải khỏan vãng lai vì trong hoạt động ngân hàng, một tài khoản vãng lai là một tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng hoặc tổ chức tài chính nào đó, với mục đích cung ứng một cách nhanh chóng và an toàn phương tiện tiếp cận thường xuyên tới các món tiền gửi theo nhu cầu, thông qua một loạt các kênh khác nhau.

Xét về tính chất thì tiền gửi không kỳ hạn không ổn định như tiền gửi có kỳ hạn mà biến động thường xuyên, nhưng trong thực tế ngân hàng vẫn sử dụng vào hoạt động cho vay và đầu tư trên cơ sở số dư ổn định.

b)     Tiền gửi có kỳ hạn:

Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà khách hàng chỉ có thế rút ra và được hưởng trọn vẹn lợi tức theo thời hạn đã quy định trước. Tuy nhiên, nhiều ngân hàng thương mại vẫn cho phép khách hàng rút tiền ra trước thời hạn, với điều kiện họ chỉ được hưởng mức lãi suất không kỳ hạn.

Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn tín dụng mang tính ổn định, nên các tổ chức tín dụng nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng thường chú trọng áp dụng các biện pháp kích thích để huy động loại tiền gửi này bằng việc đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau.

Đối với khách hàng mục đích gửi tiền có kỳ hạn khác với tiền gửi không kỳ hạn ở chỗ người gửi tiền nhắm tới khả năng sinh lời của tiền tệ, vì vậy đối với loại tiền gửi này, ngân hàng thương mại cổ phần phải trả lãi suất thỏa đáng cho khách hàng.

c)     Tiền gửi tiết kiệm:

Theo khoản 1 Điều 6 Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN về quy chế tiền gửi tiết kiệm: “ Tiền gửi tiết kiệm là khỏan tiền của cá nhân được gửi vào tài khỏan tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.”

Tiền gửi tiết kiệm có hai loại: tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.

  • Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là loại tiền gửi tiết kiệm mà khách hàng có thể gửi nhiều lần và rút ra bất kỳ lúc nào.

Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn khác với tiền gửi không kỳ hạn ở chỗ: Tiền gửi tiết kiệm không được sử dụng để phát hành séc và thực hiện các giao dịch thanh tóan bằng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt để chi trả cho người khác, trừ trường hợp tài khỏan tiền gửi tiết kiệm bằng Việt Nam đồng của người cư trú được sử dụng để chuyển khoản thanh tóan tiền vay của chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó; hoặc chuyển khoản sang tài khỏan khác do chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là chủ tài khỏan tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó.

Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là hình thức tiền gửi được rút ra sau một thời gian nhất định. Tuy nhiên, nếu khách hàng có nhu cầu lúc trước hạn cũng có thể được đáp ứng nhưng phải chịu lãi suất thấp.

Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn tương tự như tiền gửi có kỳ hạn chỉ khác ở chỗ tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thì người gửi tiền chỉ là cá nhân. Hai hình thức này là loại tiền gửi phi giao dịch. Chúng có cùng tính chất là được hưởng lãi cao và chủ tài khỏan không được phát hành séc.

Như vậy, với bốn hình thức trên và việc pháp luật quy định các loại tiền gửi và quyền huy động các khoản tiền gửi đối với từng tổ chức tín dụng nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng để nhằm mục đích:

+ Đối với ngân hàng: Đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh và khả năng chi trả bằng hoạt động huy động vốn hiệu quả. Thông qua đó nhà nước có thể kiểm soát hoạt động và hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.

        + Đối với khách hàng: Để người có tiền lựa chọn hình thức gửi thích hợp tùy thuộc vào mục đích, tính chất và khả năng nguồn vốn của người gửi tiền.

2)    Hình thức huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại cổ phần:

a)    Khái niệm:

Theo Khoản 1 Điều 4 07/2008/QĐ-NHNN về Quy chế phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng để huy động vốn trong nước : “Giấy tờ có giá là là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua.

b)     Phân lọai giấy tờ có giá trong hoạt động huy đông vốn của ngân hàng thương mại cồ phần

v     Giấy tờ có giá ngắn hạn: theo Điều 4 Khỏan 2 Quy chế 07 về Phát hành giấy tờ có giá quy định: ”là giấy tờ có giá có thời hạn dưới một 1 năm bao gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác”

+Kỳ phiếu là một loại chứng khoán, trong đó người ký phát cam kết sẽ trả một số tiền nhất định vào một ngày nhất định cho người hưởng lợi được chỉ định trên lệnh phiếu hoặc theo lệnh của người hưởng lợi trả cho một người khác.

 +Chứng chỉ tiền gửi là văn bản do ngân hàng phát hành để chứng nhận rằng người sở hữu văn bản đã gửi tiền vào ngân hàng. Chứng chỉ tiên gửi thực chất là lời hứa trả một lượng tiền nhất định cho người sở hữu nó vào một thời điểm nhất định trong tương lai. Như vậy, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn thì thời hạn tiền gửi sẽ dưới 1 năm

+ Tín phiếu: Ngân hàng thương mại cổ phần không được phép phát hành. Chỉ có Ngan hàng nhà nước mới có quyền phát hành và các ngan hàng khác có nghĩa vụ phải mua tín phiếu kho bạc với một khối lượng tín phiếu ấn định theo Quy định của pháp luật

v     Giấy tờ có giá dài hạn: theo Điều 4 Khoản 3 Quy chế 07 về Phát hành giấy tờ có giá quy định: ”là giấy tờ có giá có thời hạn từ một năm trở lên, bao gồm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác

+ Trái phiếu: theo Luật chứng khóan 2006 “Trái phiếu là loại chứng khóan xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành”

+Chứng chỉ tiền gửi dài hạn là chứng chỉ tiền gửi có thời hạn trên 1 năm.Ở Mỹ và Anh, nó là loại trái phiếu “có thể trao đổi”, nghĩa là có thể chuyển nhượng đơn giản bằng cách trao cho người mua. Vì vậy, chúng có khả năng thanh toán cao đối với người sở hữu, đồng thời đảm bảo nguồn vốn cho ngân hàng trong một thời gian. Lãi suất của chúng chỉ tiền gửi được trả sáu tháng một lần nếu chứng chỉ tiền gửi có thời hạn trên 1 năm

c)     Các yếu tố của giấy tờ có giá.

Hình thức hợp pháp chung cho các giấy tờ có giá được quy định tại Khoản 1 Điều 8 07/2008/QĐ-NHNN ,bao gồm các yếu tố sau:

- Tên tổ chức tín dụng phát hành

- Tên gọi giấy tờ có giá

- Mệnh giá là số tiền gốc được in sẵn hoặc ghi trên giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi trên giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với giấy tờ có giá phát hành theo hình thức ghi sổ.

- Thời hạn là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày đến hạn thanh toán.

- Ngày phát hành

- Ngày đến hạn thanh toán.

- Lãi suất

- Phương thức trả lãi, Thời điểm, địa điểm trả lãi,

- Địa điểm thanh toán tiền gốc giấy tờ có giá.

- Ghi rõ là giấy tờ có giá ghi danh hoặc vô danh.

Trường hợp là giấy tờ có giá ghi danh ghi rõ: Tên tổ chức, số giấy phép thành lập hoặc giấy phép đăng ký kinh doanh, địa chỉ của tổ chức mua giấy tờ có giá (nếu người mua là tổ chức); Tên, số chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, địa chỉ của người mua giấy tờ có giá (nếu người mua là cá nhân).

- Đối với phát hành trái phiếu chuyển đổi phải ghi rõ: Thời hạn chuyển đổi trái phiếu, tỷ lệ chuyển đổi trái phiếu.

- Đối với phát hành trái phiếu kèm chứng quyền phải ghi rõ: Điều kiện được mua cổ phiếu phổ thông của người sở hữu chứng quyền, số lượng cổ phiếu được mua của từng đơn vị chứng quyền, các quyền lợi và trách nhiệm khác của người nắm giữ chứng quyền.

- Chữ ký của Tổng Giám đốc hay người được ủy quyền và các chữ ký khác do tổ chức tín dụng quy định.

- Ký hiệu, số sê-ri phát hành.

- Các điều kiện, điều khoản về chuyển nhượng, chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá tại chính tổ chức tín dụng phát hành; Xử lý đối với các trường hợp rủi ro, các trường hợp không được thanh toán.

d)     Điều kiện để huy động vốn bằng phát hành các giấy tờ có giá .

Ngân hàng thương mại cổ phần muốn huy vốn bằng hình thức phát hành các giấy tờ có giá thì phải thỏa mãn các điều kiện sau:

  • Đối với giấy tờ ngắn hạn thì việc phát hành phải thoả điều 18  07/2008/QĐ-NHNN :“Tổ chức tín dụng được phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn khi tuân thủ đầy đủ các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.”

  • Đối với giấy tờ có giá dài hạn thì việc phát hành phải thỏa điều 22, 07/2008/QĐ-NHNN :“Tổ chức tín dụng được phát hành giấy tờ có giá dài hạn khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

    • Tuân thủ các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.

    • Có thời gian hoạt động tối thiểu là một năm kể từ ngày tổ chức tín dụng chính thức đi vào hoạt động.

    • Tổng lợi nhuận trước thuế so vốn chủ sở hữu của năm liền kề trước năm phát hành phải đạt từ 10% trở lên và tính đến thời điểm gần nhất phải có lãi.

    • Được sự chấp thuận của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc phát hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài chính của tổ chức tín dụng.”

e)     Trình tự và thủ tục phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại cổ phần

Ngân hàng thương mại cổ phần muốn phát hành giấy tờ có giá phải lập hồ sơ đề nghị phát hành ,gửi đến Ngân hàng Nhà nước Trung Ương (Vụ chính sách tiền tệ) hoặc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước cấp tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính đối với ngân hàng thương mại cổ phần.

  • Trường hợp muốn phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn thì hồ sơ đề nghị phát hành bao gồm:

 

  • Điều lệ và giấy phép hoạt động(đối với ngân hàng cổ phần thương mại lần đầu)

  • Đơn đề nghị phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn trong năm tài chính

  • Kế hoạch phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn.Trong đó nêu rõ; mục đích phát hành, phương án sử dụng, tổng số dư giấy tờ có giá ngắn hạn đầu năm tài chính,tổng mệnh giá phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn trong năm tài chính,số đợt, thời điểm dự kiến phát hành, đồng tiền phát hành)

  • Các báo cáo tài chính của 2 năm liên tục gần nhất và tính đến thời điểm có đơn đề nghị phát hành.

  • Kế hoạch kinh doanh trong năm tài chính.

  • Các thay đổi về bộ máy tổ chức và thay đổi khác nếu có.

Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại cổ phần thì ngân hàng nhà nước có quyết định chấp thuận hoặc không chấp thuận đề nghị trên.

  • Trường hợp muốn phát hành giấy tờ có giá dài hạn thì hồ sơ đề nghị phát hành bao gồm:

  • Điều lệ và giấy phép hoạt động(đối với ngân hàng cổ phần thương mại lần đầu)

  • Mẫu giấy tờ có giá phá hành

  • Đơn đề nghị phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn trong năm tài chính hoặc dài hạn

  • Kế hoạch phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn.Trong đó nêu rõ; mục đích phát hành, phương án sử dụng, tổng mệnh giá phát hành, mệnh giá,tên gọi của giấy tờ có giá, thời hạn lãi suất, phạm vi phát hành,cách thức địa điểm trả gốc và lãi

  • Các điều kiện về quyền và nghĩa vụ của ngân hàng thương mại cổ phần và người mua

  • Các báo cáo tài chính của 2 năm liên tục gần nhất và tính đến thời điểm có đơn đề nghị phát hành.

  • Kế hoạch kinh doanh trong năm tài chính

  • Các thay đổi về bộ máy tổ chức và thay đổi khác nếu có

Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại cổ phần thì ngân hàng nhà nước có quyết định chấp thuận hoặc không chấp thuận đề nghị trên.

Thời điểm ngân hàng thương mại cổ phần phát hành giấy tờ có giá dài hạn là chậm nhất không quá 45 ngày kể từ ngày Thống đốc Ngân hàng nhà nước chấp thuận.

Trước khi phát hành thì phải công bố công khai trên thông tin đại chúng trong thời gian tối thiểu 5 ngày về việc phát hành giáy tờ có giá.

 Đặc điểm của hình thức huy động vốn bằng giấy tờ có giá:

 

Về phương diện kinh tế, giao dịch phát hành giấy tờ có giá được hiểu là một nghiệp vụ huy động vốn của tổ chức tín dụng. Nghiệp vụ này được thực hiện thông qua việc tổ chức tín dụng phát hành ra công chúng các giấy tờ có giá dưới dạng chứng khoán nợ để vay tiền của công chúng, với cam kết hoàn trả số tiền đó kèm theo một khoản lãi vào ngày đáo hạn. Số vốn huy động bằng việc phát hành các chứng khoán nợ ra công chúng được coi là một thành tố quan trọng trong cấu trúc tài sản Nợ của tổ chức tín dụng, cùng với các bộ phận khác của tài sản Nợ như tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn, hay tiền gửi tiết kiệm, các khoản vay Ngân hàng Trung ương và vay của các định chế tài chính phi ngân hàng khác…

Về phương diện pháp lý, giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng được hiểu là hành vi pháp lý theo đó tổ chức tín dụng cam kết vay tiền của khách hàng là tổ chức, cá nhân trong một thời hạn nhất định với điều kiện sẽ hoàn trả cho khách hàng số tiền ghi trên chứng thư nhận nợ do tổ chức tín dụng phát hành.

Giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Một là, về bản chất pháp lý, việc phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng ra công chúng thực chất là một hành vi vay tiền của khách hàng chứ không phải là hành vi “bán” giấy tờ có giá cho khách hàng. Sở dĩ có thể khẳng định như vậy là bởi vì, trong quan hệ giao dịch này, tổ chức tín dụng không hề có quyền sở hữu đối với các giấy tờ có giá mà nó dự định phát hành, nên không thể đóng vai trò là người bán. Mặt khác, trước khi các giấy tờ có giá được tổ chức tín dụng chuyển giao cho khách hàng sở hữu như một chứng thư xác nhận quyền chủ nợ và tổ chức tín dụng cũng chưa nhận được nguồn vốn tiền tệ do khách hàng chuyển giao thì các chứng thư này thực chất chưa hề có giá trị thực tế, nghĩa là không thể hoán đổi chúng thành tiền hay các tài sản khác có giá trị tương đương với số tiền ghi trên mệnh giá của chứng thư. Điều đó cho thấy, chỉ khi nào khách hàng chấp nhận trao đổi chứng thư đó với tổ chức tín dụng bằng số tiền tương đương mệnh giá của chứng thư thì khi đó, chứng thư này mới thực sự là có giá trị và mới phản ánh đúng tên gọi của nó là “giấy tờ có giá” hay “tư bản giả”.

Hai là, về đối tượng của giao dịch, mặc dù tên gọi của giao dịch là “phát hành các giấy tờ có giá” nhưng đối tượng của giao dịch này không phải là các giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành, mà chính là các khoản tiền vốn do khách hàng đồng ý chuyển quyền sở hữu cho tổ chức tín dụng với điều kiện tổ chức tín dụng phải hoàn trả cho khách hàng sau một thời hạn nhất định, kèm theo khoản lãi do các bên thoả thuận. Về lý thuyết, tuy không phải là đối tượng của giao dịch nhưng các chứng thư này được coi là hình thức pháp lý của giao dịch, đồng thời là chứng cứ chứng minh quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên trong quan hệ giao dịch. Mặt khác, xét về phương diện kinh tế, các chứng thư này cũng được coi là một loại “tiền ngân hàng” nhưng không phải là tiền do Ngân hàng Trung ương phát hành, mà là tiền được tạo ra bởi tổ chức tín dụng trong quá trình huy động vốn, thông qua chức năng “tạo tiền” của tổ chức tín dụng. Trên thực tế, các chứng thư nhận nợ do tổ chức tín dụng phát hành ra công chúng có thể là chứng khoán nợ ngắn hạn – có thời hạn thanh toán dưới 1 năm, ví dụ chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn; kỳ phiếu ngân hàng hay tín phiếu của tổ chức tín dụng, hoặc là chứng khoán nợ dài hạn (có thời hạn thanh toán từ 1 năm trở lên, ví dụ chứng thư tiền gửi dài hạn hoặc trái phiếu ngân hàng…).

Sự phân biệt giữa hai loại chứng thư nhận nợ này chủ yếu nhằm xác định cơ chế phát hành và lưu thông chúng như thế nào sau khi đã được phát hành trên thị trường bởi tổ chức tín dụng (phát hành và bán lại cho ai, ở đâu và bằng cách nào?).

Ba là, về tư cách pháp lý, khi phát hành các giấy tờ có giá để vay nợ của khách hàng, tổ chức tín dụng có tư cách là người vay hay người mắc nợ, còn khách hàng “mua” giấy tờ có giá có tư cách là người cho vay hay chủ nợ của tổ chức tín dụng. Mặc dù có tư cách là người cho vay nhưng do giao dịch này được tổ chức tín dụng và khách hàng xác lập, thực hiện thông qua một hợp đồng cho vay có thời hạn xác định nên về nguyên tắc, khách hàng cho vay không thể rút vốn về trước kỳ hạn như trong trường hợp họ gửi tiền có kỳ hạn tại tổ chức tín dụng (bằng cách chịu lãi suất phạt với tổ chức tín dụng nhận tiền gửi). Nếu muốn thu hồi vốn về trước kỳ hạn, cách duy nhất là người sở hữu giấy tờ có giá (bên cho vay) ký hợp đồng chuyển nhượng chứng thư đó cho người khác (chẳng hạn, có thể “bán” cho ngân hàng thương mại theo phương thức chiết khấu hoặc bán cho các tổ chức, cá nhân khác theo phương thức thông thường trên thị trường tiền tệ hoặc thị trường chứng khoán).

Những đặc trưng pháp lý trên đây cho ta thấy, việc phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng là một loại hình giao dịch huy động vốn khá đặc biệt. Tính chất đặc biệt này còn được phản ánh cả trong cơ chế hình thành quyền, nghĩa vụ của các bên trong giao dịch phát hành giấy tờ có giá.

3)     Hình thức vay vốn của ngân hàng thương mại cổ phần đối với tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tố chức tín dụng nước ngoài

a)     Khái niệm và đặc điểm:

“Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng là việc cấp tín dụng dưới hình thức cho vay của tổ chức tín dụng (bên cho vay) cho một tổ chức tín dụng khác (bên vay)” theo quy định tại Điều 47 Luật các tổ chức tín dụng.

Ngoài việc huy động vốn của dân cư và của các tổ chức kinh tế xã hội, pháp luật còn cho phép ngân hàng thương mại cổ phần được vay vốn của các tổ chức tín dụng khác trong và ngoài nước (theo khoản 3 Điều 3 NĐ 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại).

Quan hệ vay vốn này được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ, và những cam kết khác được các bên thỏa thuận.

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì đối tượng vay và cho vay là tất cả các tổ chức tín dụng được thành lập, hoạt động ở Việt Nam theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, bao gồm:

+Ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác.

+Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam; Ngân hàng liên doanh.

+Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

+Quỹ tín dụng nhân dân.

Về nguyên tắc, khi thực hiện việc cho vay, đi vay các bên phải bảo đảm các nguyên tắc: i) Bên vay phải hoàn trả nợ gốc, lãi tiền vay và các loại phí (nếu có) đúng hạn cho bên cho vay. ii) Việc cho vay, đi vay giữa các bên phải bảo đảm an toàn, phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.

Về lãi suất, do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật. Các bên có thể thoả thuận áp dụng lãi suất quá hạn đối với số tiền vay không hoàn trả đúng hạn và không được bên cho vay gia hạn. Lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất cho vay.

Về thời hạn cho vay, các bên có thể thỏa thuận cho vay ngắn hạn: tối đa đến 12 tháng, cho vay trung hạn: từ trên 12 tháng đến 60 tháng, cho vay dài hạn: từ trên 60 tháng.

Về biện pháp bảo đảm, các bên thoả thuận việc áp dụng hoặc không áp dụng hình thức bảo đảm đối với khoản vay trong từng trường hợp cụ thể. Hình thức bảo đảm cho khoản vay bao gồm bảo đảm bằng tài sản, bảo lãnh của một tổ chức tín dụng khác. Việc áp dụng hình thức bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Về phương thức cho vay, các bên thoả thuận áp dụng phương thức cho vay từng lần, theo hạn mức tín dụng hoặc các phương thức khác phù hợp với các quy định của pháp luật.

Về đồng tiền giao dịch, các tổ chức tín dụng được thực hiện cho vay, đi vay lẫn nhau bằng ĐồngViệt Nam. Tổ chức tín dụng được cho vay bằng ngoại tệ hoặc đi vay bằng ngoại tệ hoặc được thực hiện cả cho vay và đi vay bằng ngoại tệ, trên cơ sở phạm vi hoạt động ngoại hối được Ngân hàng Nhà nước cho phép.

b)     Về quyền và nghĩa vụ các bên:

  • Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay

  • Yêu cầu bên vay cung cấp các tài liệu cần thiết liên quan đến khoản vay; từ chối yêu cầu xin vay của bên vay nếu thấy không đủ điều kiện cho vay;

  • Có quyền yêu cầu bên vay có bảo đảm bằng tài sản đối với khoản cho vay;

  • Gia hạn khoản vay, điều chỉnh các kỳ hạn trả nợ; giảm lãi suất cho vay, chuyển nợ quá hạn;

  • Yêu cầu bên vay trả nợ trước hạn nếu các bên có thoả thuận về việc trả nợ trước hạn, các điều kiện làm phát sinh nghĩa vụ phải trả nợ trước hạn của bên vay và bên vay vi phạm một trong các điều kiện đó;

  • Khi đến hạn trả nợ mà bên vay, bên bảo lãnh không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình, nếu các bên không có thoả thuận nào khác, thì bên cho vay có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay hoặc khởi kiện bên vay, bên bảo lãnh theo quy định của pháp luật;

  • Thực hiện các cam kết đã thoả thuận với bên vay.

  • Quyền và nghĩa vụ của bên vay

  • Trả nợ đầy đủ và đúng hạn cả gốc, lãi và các loại phí (nếu có) theo thoả thuận;

  • Cung cấp trung thực các thông tin, tài liệu có liên quan theo yêu cầu của bên cho vay;

  • Có quyền trả nợ trước hạn nếu hai bên có thoả thuận hoặc khi được bên cho vay chấp thuận;

  • Thực hiện các cam kết khác đã thoả thuận với bên cho vay;

  • Khởi kiện bên cho vay theo quy định của pháp luật nếu bên cho vay vi phạm các cam kết đã thoả thuận.

  • Tổ chức tín dụng phải tổng hợp, báo cáo Ngân hàng Nhà nước tình hình thực hiện cho vay và đi vay với các tổ chức tín dụng khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Khi tổ chức tín dụng thỏa mãn các điều kiện mà pháp luật quy định thì có thể vay vốn của các tổ chức tín dụng nước ngòai. Hoạt động vay vốn của các tổ chức tín dụng nước ngòai do tổ chức tín dụng thực hiện thuộc diện quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Qua thị trường tiền tệ liên ngân hàng, Ngân hàng thương mại cổ phần có thể khai thác các khoản vốn nhàn rỗi từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng khác. Hoạt động vay mượn này nhằm mục đích điều hòa nhu cầu vốn khả dụng và đảm bảo nguồn vốn lưu chuyển thông suốt liên tục trong hệ thống ngân hàng.

4)     Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại khỏan 1 Điều 30 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

a)      Điều kiện để được vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Trung Ương

            Trong quá trình hoạt động kinh doanh, một Ngân hàng thương mại cổ phần cũng khó tránh những rủi ro, có thể thiếu vốn ngắn hạn để chi trả hoặc quá kẹt tiền mặt. Với vai trò là Ngân hàng của các ngân hàng, ngận hàng Trung Ương là cứu tinh của các ngân hàng nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng trong những hòan cảnh như trên, và là nguổn vay cuối cùng.

Vai trò của Ngân hàng Trung Ương là quản lý Nhà nước về mặt tiền tệ cũng như giúp cho việc lưu thông tiền tệ được trôi chảy nguồn vốn của ngân hàng Trương Ương phải điều phối liên tục, vì vậy Ngân hàng thương mại cổ phần chỉ được phép vay vốn ngắn hạn từ Ngân hàng Trung Ương..

            Đặc biệt, trong trường hợp Ngân hàng thương mại cổ phần tạm thời mất khả năng chi trả, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống tiền tệ của các tổ chức tín dụng thì các Ngân hàng Thương mại cổ phần có thể được Ngân hàng Nhà nước cho vay khôi phục chi trả khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận. Khoản vay đặc biệt này sẽ được ưu tiên hoàn trả trước tất cả các khoản nợ khác của Ngân hàng thương mại cổ phần.(Điều 96 Luật các tổ chức tín dụng 1997, K2 Điều 30 Luật  Ngân hàng Nhà nước 2003)

b)     Các loại hình cho vay vốn của Ngân hàng Trung Ương với Ngân hàng thương mại cổ phần:

            Các Ngân hàng thương mại vổ phần có thể được Ngân hàng Nhà nước cho vay với các loại hình sau :

  • Hình thức tái cấp vốn

            Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng.Theo Điều 17 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2004, công cụ tái cấp vốn được Nhà nước sử dụng dưới các hình thức như:

  • Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá ngắn hạn.

  • Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác.

  • Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng.

+ Trong tài chínhchiết khấu là quy trình xác định giá trị hiện tại của một lượng tiền tệ tại một thời điểm trong tương lai và việc thanh toán tiền dựa trên cơ sở các tính toán giá trị thời gian của tiền tệ.

+Tái chiết khấu là việc ngân hàng thương mại hoặc ngân hàng trung ương thực hiện việc mua lại các giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán và đáng tin cậy thuộc sở hữu của các ngân hàng khác theo tỉ suất tái chiết khấu nhất định. Các giấy tờ có giá này đã được các ngân hàngchiết khấu, tái chiết khấu trên thị trường cấp.

+ Thương phiếu, theo  “Pháp lệnh thương phiếu và Nghị định số 32/2001/NĐ CP ngày 5-7-2001của Chính phủ hướng dẫn thi hành của Pháp lệnh thương phiếu” :

“1- Thương phiếu là chứng chỉ ghi nhận sự cam kết thanh toán vô điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định.

 2- Thương phiếu theo Luật này gồm hối phiếu và lệnh phiếu.”

  • Hình thức cho vay thanh toán

              Khi các Ngân hàng Thương mại cổ phần tham gia hệ thống thanh toán bù trừ (Bao gồm cả thanh toán bù trừ thủ công và thanh toán bù trừ điện tử) nếu Ngân hàng nào thiếu vốn để thanh toán, thì sẽ được Ngân hàng Nhà nước tạm thời cho vay để đảm bảo các khoản giao dịch thanh toán bù trừ được thực hiện. Nhờ loại vay này mà hệ thống thanh toán bù trừ được tiến hành một cách thuận lợi, trôi chảy.

Thanh toán bù trừ là một phương thức thanh toán trong ngoại thương, trong đó tiền hàng không được thanh toán trực tiếp và ngay giữa người bán và người mua mà được ghi vào một tài khoản được gọi là tài khoản Clearing, đến cuối kỳ tiến hành bù trừ giữa tài khoản của hai bên. Cụ thể là, tài khoản Clearing được chia làm hai bên, bên Nợ và bên Có, thường là trong một năm xuất hiện nhiều thương vụ giữa bên A và bên B, khi bên A mua của bên B một lô hàng thì trị giá hàng sẽ được ghi vào bên Có của tài khoản bên A và Nợ vào tài khoản bên B, còn nếu bên B mua của bên A một lô hàng thì trị giá sẽ được ghi vào bên Có của tài khoản B và ghi vào bên Nợ của tài khoản A. Đến cuối năm sẽ tiến hành bù trừ giữa bên Có và Nợ của hai tài khoản, và theo nguyên tắc số liệu cuối cùng ở hai tài khoản phải trùng khớp nhau. Khi đó nếu tài khoản A có số dư bên Có, tức là tài khoản B sẽ có số dư bên Nợ, và số dư đó chính là số tiền mà bên B phải thanh toán cho bên A. Ngược lại, nếu tài khoản B có số dư bên Có, tức là tài khoản A có số dư bên Nợ, lúc đó số dư đó chính là khoản tiền mà bên A phải trả cho bên B

                Khi cho vay thanh toán, Ngân hàng Nhà nước có thể áp dụng một trong hai phương thức cho vay sau: Cho vay qua đêm ( Over night lend) hoặc cho vay thấu chi (overdrapt).

  • Cho vay qua đêm (Overnight lend)

+ “Cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng là việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho các ngân hàng vay có bảo đảm bằng cầm cố các giấy tờ có giá trong khoảng thời gian tính từ cuối ngày làm việc hôm trước đến 8 giờ 30 phút ngày làm việc liền kề tiếp theo.” Theo điều 2 khỏan 2 quyết định số 04/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nứơc về vay thấu chi và cho vay qua đêm.

+Theo đó, mục đích của vay qua đêm nhằm để tất toán khoản thấu chi tại thời điểm cuối ngày làm việc.

  • Cho vay thấu chi (overdrapt):

+Theo quyết định số 04/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nứơc về vay thấu chi và cho vay qua đêm, tại Điều 2 khỏan 1 quy định :”Thấu chi trong thanh toán điện tử liên ngân hàng là việc các ngân hàng được chi vượt số dư có trên tài khoản tiền gửi thanh toán của mình mở tại Sở Giao dịch – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ngày thanh toán.”

+Cho vay thấu chi là việc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản cho Ngân hàng thương mại cổ phần hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản vãng lai thanh toán của mình. Ngân hàng Nhà nước cấp cho Ngân hàng thương mại cổ phần một hạn mức sử dụng tiền trên tài khoản tại ngân hàng Trung Ương, với hạn mức thấu chi này, Ngân hàng đi vay có thể dùng tiền trong hạn mức này khi tài khoản không có số dư. Cho nên mục đích của vay thấu chi là để giúp Các ngân hàng được thấu chi để bù đắp thiếu hụt vốn thanh toán tạm thời trong ngày trong thanh toán điện tử liên ngân hàng(theo Điểu 3 khỏan 1 của Quyet định 04/2007)

+ Đặc điểm của hình thức cho vay thấu chi:

  • được thực hiện trên tài khoản vãng lai

  • chủ yếu nhằm mục đích cho vay đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng nảy sinh bất chợt, ngân hàng có thể tùy vào uy tín hoặc chính sách của mình mà cấp cho hạn mức thấu chi có tài sản đảm bảo hoặc không

  • lãi suất thấu chi rất cao, gấp 1,5 lần lãi suất vay thông thường.

Tuy nhiên, không phải bất kỳ ngân hàng thương mại cổ phần nào cũng được quyền vay thấu chi hay được vay qua đêm. Muốn thực hiện được hình thức cho vay thanh tóan này Ngân hàng Trung Ương đỏi hỏi Ngân hàng Thương mại cổ phần phải thỏa mãn những điều kiên nhât định như sau:

  • Có giấy đề nghị thấu chi và vay qua đêm được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp nhận;

  • Thừa nhận và chấp hành các quy định của Quyết định này;

  • Có tài sản cầm cố để thực hiện bảo đảm tiền vay.

5)     Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

-         Khoản vay đặc biệt :Điều 96 LTCTD “Trong trường hợp cấp bách để bảo đảm khả năng chi trả tiền gửi của khách hàng , TCTD có thể được các TCTD khác hoặc NHNN cho vay đặc biệt . Khoản vay đặc biệt này sẽ được ưu tiên hoàn trả trước các khoản nợ khác của TCTD”

 

-         Trong quá trình thực hiện chức năng trung gian thanh toán, Ngân hàng thương mại cổ phần có thực hiện nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt theo lệnh của khách hàng. Như vậy, NH đã huy động được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức: tiền ký quỹ (điều 360 cua Bộ Luật Dân Sự 2005) vào tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền chu chuyển trong thanh toán.

-         Ngân hàng thương mại cổ phần có thể huy động vốn từ hình thức như: Tiền gửi để bảo đảm thanh tóan trong các hợp đồng mua bán, đặc biệt là hợp đồng mua bán có yếu tố nứơc ngoài.

-         Ngoài ra, Ngân hàng thương mại cổ phần còn có các nguồn vốn khác phát sinh trong quá trình hoạt động như các khỏan phải trả, các khoản tiềm tạm gửi theo quyết định của tòa án..

-         Bên cạnh đó, nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại cổ phần có thể từ nguồn vốn tài trợ của Chính phủ, của các tổ chức tài chính tiền tệ, các tổ chức đoàn thể-xã hội để tài trợ cho các chương trình dự án về phát triển kinh tế- xã hội, cải tạo môi trường sinh thái…và đuợc chuyển qua ngân hàng thương mại cổ phần thực hiện.

 +    Nguổn vốn tiếp nhận này vì đã có đối tượng sử dụng xác định với mục đích cụ thể, rõ ràng, nên các Ngân hàng thương mại cổ phần nào được tiếp nhận nguồn vốn này đều bắt buộc phải thực hiện đúng hướng dẫn và yêu câu của nhà tài trợ

+    Khi thực hiện các dịch vụ, Ngân hàng huy động được vốn uỷ thác đầu tư, tài trợ của Chính phủ hoặc bên nước ngoài. Trong thời gian chờ giải ngân, Ngân hàng thương mại có thể huy động  làm nguồn vốn kinh doanh.

            +    Chỉ những Ngân hàng thương mại cổ phần nào có uy tín, có đủ điều kiện về mạng lưới, về đội ngũ cán bộ chuyên môn và yêu cầu trình độ kỹ thuật, mới có thể tiếp nhận được nguồn vốn tài trợ.

0 comments:

Post a Comment

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code