Tuesday, September 24, 2013

CÁC VẤN ĐỀ DÂN SỰ TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

TS. PHAN HỮU THƯ
Trong 360 năm dài tồn tại, triều đại nhà Lê đã để lại cho hậu thế những thành tựu to lớn trên lĩnh vực pháp luật và điển chế. Trong số các thành tựu đó phải kể đến Quốc triều Hình luật, một Bộ luật quan trọng nhất và chính thống nhất của Triều Lê. Quốc triều Hình luật cũng chính là Bộ luật cổ xưa nhất mà chúng ta còn lưu giữ được  đầy đủ cho đến ngày nay.
Theo như tên gọi, Quốc triều Hình luật chính là Luật hình Triều Lê, nghĩa là chỉ bao gồm những quy định liên quan đến  luật hình sự  đương  thời. Tuy nhiên, do ra đời  từ  năm 1470 đến  1497 hoặc sớm hơn cho nên người  làm luật thời đó chưa phân biệt rạch ròi các ngành luật như bây giờ.
Quốc triều  Hình luật  bao gồm sáu quyển,  mỗi quyển  có hai chương,  riêng quyển  ba có ba chương.  Trong đó hai chương  Hộ hôn và Điền sản nằm trong quyển sáu là những chương  quy định về dân sự nhiều nhất, mặc dù rải rác trong một số chương  đều đề cập một vài vấn đề dân sự hoặc hôn nhân gia đình.
Theo Vũ Văn Mẫu thì trong Bộ luật của nhà Lê có rất nhiều điều tân kỳ mà cả các Bộ luật đời nhà Đường  cũng như các Bộ luật Trung Hoa không đề  cập. Những điều tân kỳ nằm rải rác ở khắp các chương nhưng chủ yếu tập trung ở hai chương  Hộ hôn và Điền sản, bởi vì, theo quan niệm cổ điển, các điều thuộc về dân luật thường không được  các nhà làm luật Đông phương quy định. Vì vậy, trong luật Trung Hoa, không có các quy định rõ ràng về cách thức thảo các văn tự, chứng thư, chúc thư, không định rõ về chế độ tài sản của vợ chồng trong lúc sinh thời cũng như trong lúc góa bụa, không ấn định minh bạch các việc về  thừa kế. Trong khi đó, các vấn đề  này đã được  lần lượt trình bày trong Quốc triều Hình luật. Điều 366 quy định về cách thức làm chúc thư hay các chứng thư  khác, Điều 374, 375, 376 quy định về  chế  độ  tài sản riêng của vợ  chồng; trong các điều khác (từ Điều 288-400) đã quy định các vấn đề về thừa kế và hương hỏa.
1. Về chế độ tài sản riêng của vợ chồng
Điều 374 đưa ra các trường hợp khác nhau, trong đó đề cập chủ yếu đến những vấn đề sau đây:
- Trong trường  hợp chồng (hoặc vợ) cùng vợ (hoặc chồng) trước  có con, chồng (hoặc vợ) sau không có con mà chồng (hoặc vợ) trước  chết không có chúc thư thì điền sản thuộc về con vợ trước hay con chồng trước.
- Cũng trong trường  hợp tương  tự nhưng nếu cha mẹ còn thì lại xử khác đi, cụ thể là, nếu vợ trước có một con, vợ sau không có con, thì điền sản chia làm ba, cho con vợ trước hai phần, vợ sau một phần, nếu vợ trước  có hai con trở lên, thì phần vợ sau chỉ bằng phần của các con thôi,
phần của vợ sau chỉ để nuôi dưỡng một đời mình, không được  nhận làm của riêng, nếu vợ sau chết hoặc cải giá lấy chồng khác thì phần ấy lại về con chồng.
- Trong trường hợp nếu điền sản là của chồng và vợ trước làm ra thì chia làm hai phần, vợ trước và chồng mỗi người  một phần, phần của vợ trước  thì để riêng cho con, còn phần chồng lại chia như trước.
- Nếu như điền sản của chồng và vợ sau làm ra, thì cũng chia làm hai phần, chồng và vợ sau mỗi người  một phần, phần của chồng thì chia như  trước,  còn phần của vợ sau thì được  nhận làm của riêng.
Điều 375 quy định trường  hợp điền sản của cha mẹ để cho, vợ chồng không có con, nếu người chồng chết trước  không có chúc thư thì điền sản được  chia làm hai phần, về người  họ ăn thừa tự một phần để giữ việc tế tự; về vợ một phần, phần của người vợ thì chỉ để nuôi đời mình không được  nhận làm của riêng, vợ chết hay cải giá thì phần ấy lại thuộc về người thừa tự, nếu cha mẹ còn sống thì thuộc về cha mẹ cả.
Trong trường  hợp điền sản của vợ chồng là ra thì cũng chia làm hai, vợ chồng mỗi người  được một phần, phần của vợ được  làm của riêng, phần của chồng lại chia làm ba, cho vợ hai phần, để về việc tế tự và phần mộ một phần, hai phần cho vợ cũng chỉ để nuôi một đời mình, không được nhận làm của riêng, vợ chết hay cải giá thì phần ấy lại để về việc tế tự và phần mộ của vợ chồng. Theo Điều 376 thì nếu vợ chồng đã có con, nếu một người  chết trước  sau đó con cũng lại chết thì điền sản thuộc về chồng hay vợ. Nếu vợ chết trước  thì điền sản của vợ chia làm ba, để cho chồng hai phần, cho người  họ (người  thừa tự) một phần. Cha mẹ  còn sống thì chia làm hai, thuộc về  cha mẹ  một phần, thuộc về  chồng một phần, phần của chồng chỉ để  nuôi một đời, không được  nhận làm của riêng, chồng chết thì phần ấy thuộc về  cha mẹ hay người  thừa tự, chồng chết trước thì vợ cũng thế, cải giá thì phải trả lại.
Ở thế kỷ 15 mà nhà lập pháp nước ta đã có tư duy pháp lý thật hợp tình, hợp lý, phù hợp với đạo đức của chế độ phong kiến thời bấy giờ. Theo Vũ Văn Mẫu thì "các tòa án ở Nam việt thường hay căn cứ vào các điều này để  phân xử các vụ kiện liên quan đến tài sản của vợ chồng). Tuy nhiên, nhà lập pháp cũng chưa thể có một trình độ lập pháp mang tính khoa học, các điều khoản phần lớn mang tính chất thí dụ, thiếu tính bao quát và điển hình. Bỏ qua những điều nêu trên thì những quy định về tài sản riêng của vợ chồng trong Quốc triều Hình luật cũng vẫn là một thành tựu lập pháp trong lịch sử của Việt Nam.
2. Về vấn đề thừa kế và hương hỏa
Quốc triều Hình luật đã chú ý đến việc nhắc nhở cha mẹ phải liệu tuổi già mà làm chúc thư cho các con cũng như quy định những điều kiện để một chúc thư có hiệu lực pháp luật.
Điều 390 quy định "người làm cha mẹ phải liệu tuổi già mà lập sẵn chúc thư".
Điều 366 quy định "những người  làm chúc thư văn khế mà không nhờ quan trưởng  trong làng viết thay và chứng kiến, thì phạt 80 trượng,  phạt tiền theo việc nặng nhẹ. Chúc thư văn khế ấy không có giá trị. Nếu biết chữ mà viết lấy thì được".
Như vậy, có thể thấy trong Điều 366 này nhà lập pháp đã quy định về hình thức viết chúc thư của văn khế. Nhà lập pháp cũng quy định luôn là người  lập chúc thư  văn khế là quan trưởng, đồng thời quan trưởng  cũng là người  chứng kiến chúc thư. Không tuân theo điều kiện của Điều 366 thì không những chúc thư đó không có giá trị mà còn bị phạt 80 trượng và phạt tiền theo việc nặng nhẹ.
Các quy định về thừa kế chủ yếu nằm ở trong các Điều 374-400. Quốc triều Hình luật phân biệt diện thừa kế tương đối hẹp. Chủ yếu là những người có quan hệ gần như trực tiếp với người để lại di sản. Đó có thể  là vợ  chồng trước,  vợ  chồng sau, các con, cha mẹ. Trong những người thuộc diện thừa kế này, Quốc triều Hình luật không phân biệt các hàng thừa kế nhưng có phân biệt trong từng trường  hợp cụ thể, ai được  hưởng  bao nhiêu tùy vào vị trí của người  đó. Ví dụ, người vợ trước được  hưởng nhiều hơn người  vợ sau. Thậm chí trong một số trường hợp người vợ sau tuy có được  hưởng thừa kế thì cũng chỉ được  hưởng "bằng phần của các con thôi, phần của vợ sau chỉ để nuôi dưỡng một đời mình không được  nhận làm của riêng" (Điều 374). Trong hàng các con thì cũng cần phân biệt giữa con vợ trước và con vợ sau.
Quốc triều Hình luật cũng quy định trường  hợp thừa kế đối với con cháu trong trường  hợp cha mẹ, ông bà chết cả. "Ông bà cha mẹ chết cả, mà người  trưởng  họ bán điền sản của con cháu không có lý do chính đáng thì xử phạt 60 trượng,  biếm hai tư, trả lại tiền cho người  mua và con cháu mỗi bên một nửa; điền sản thì phải trả lại cho con cháu" (Điều 379).
Quốc triều Hình luật cũng quy định trường  hợp con nuôi được  hưởng  thừa kế "con nuôi mà có văn tự là con nuôi và ghi trong giấy rằng sau sẽ chia điền sản cho, khi cha mẹ nuôi chết không có chúc thư, điền sản đem chia cho con đẻ và con nuôi. Nếu trong giấy của con nuôi không ghi là sẽ cho điền sản thì không dùng luật này. "Đúng phép, nghĩa là điền sản chia làm ba; con đẻ  được hai phần, con nuôi được  một phần; nếu không có cha mẹ mà con nuôi ở với cha mẹ từ thủa bé, thì được  cả; thủơ  bé không cùng ở thì con nuôi được  hai phần, người  thừa tự được  một phần" (Điều 380).
Đối với những người  đã đi làm con nuôi người  khác rồi luật cũng không bỏ sót. Điều 381 quy định rõ: "Những người  đã làm con nuôi người  khác họ rồi, mà lại về tranh điền sản của người tuyệt tự trong họ thì được  chia bằng một nửa phần của người thừa tự. Nếu không được  cha mẹ nuôi chia điền sản cho thì không dùng luật này".
Về hương hỏa, các quy định cũng tương  đối chặt chẽ: "Nếu cha mẹ mất cả, có ruộng đất, chưa kịp để lại chúc thư, mà anh chị em tự chia nhau thì lấy một phần 20 số ruộng đất làm hương hỏa, giao cho người  con trai trưởng  giữ, còn thì chia nhau, phần con của vợ  lẽ, nàng hầu thì phải kém. Nếu đã có lệnh của cha mẹ và chúc thư, thì phải theo đúng, trái thì phải mất phần mình" (Điều 388). "Người trưởng họ liệu chia nhiều ít cho phải, rồi làm giấy giao lại về phần hương hỏa thì theo lệ cũ lấy một phần 20 (trong điền sản. Như người  cha làm trưởng họ lấy ruộng đất mấy nơi làm phần hương  hỏa, đến khi con làm trưởng  họ thì lại đem ruộng đất hương  hỏa của cha mẹ nhập cả vào phần các con, chia ra xem mỗi phần được  bao nhiêu mới lấy một phần 20 làm hương hỏa. Cháu làm trưởng họ thì cũng thế. Nhưng khi có trường hợp người nhiều mà ruộng ít, thì phần hương  hỏa và phần các con cháu , cho được  tùy tiện mà chia; miễn là thuận tình cả không có sự tranh giành nhau, thì cho tùy nghi" (Điều 390). Điều 391 cũng quy định "người  giữ hương hỏa có con trai trưởng thì dùng con trai trưởng, không có con trai trưởng thì dùng con gái trưởng, ruộng đất hương hỏa thì cho lấy một phần 20".
Quốc triều Hình luật cũng phân biệt thừa kế theo luật và thừa kế theo chúc thư. Điều 388 phân biệt trường hợp cha mẹ có để lại chúc thư hoặc có lệnh của cha mẹ thì phải theo đúng, còn nếu cha mẹ không để lại chúc thư thì phải tuân theo các quy định của luật.
Mặc dù ra đời đã mấy thế kỷ nay nhưng Quốc triều Hình luật vần còn mãi như một di sản quý báu của cha ông chúng ta trong kinh nghiệm lập pháp. Có nhiều điểm  cho đến  bây giờ  cũng không xa chúng ta bao nhiêu như có thể lập con gái trưởng làm người giữ hương hỏa, phân biệt thừa kế theo luật và thừa kế theo di chúc, phân biệt thừa kế giữa những người  trong diện thừa kế. Việc nghiên cứu Quốc triều Hình luật bởi các nhà dân luật còn qúa ít ỏi, hy vọng là trong thời gian tới công tác này được  chú ý hơn.
SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 01 NĂM 1996

0 comments:

Post a Comment

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code