Sunday, January 5, 2014

CHUYÊN ĐỀ VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VIỆC PHÁT HÀNH GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

I. Khái quát pháp luật điều chỉnh họat động phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng.

Pháp luật điều chỉnh họat động của các tổ chức tín dụng ra đời từ thập niên đầu tiên xây dựng nền kinh tế thị trường. Nếu như Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật công ty năm 1990 và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 xuất hiện thể hiện tư tưởng pháp luật là khẳng định quyền tự do kinh doanh, tự do khế ước, thừa nhận sự đa dạng về các thành phần kinh tế thì Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 ra đời với nhiệm vụ chủ yếu là quản lý, hướng dẫn hoạt động của các ngân hàng, hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính, tạo thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, thực hiện chính sách tiền tệ của Nhà nước, đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Họat động phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng lần đầu tiên được qui định trong Pháp lệnh này, đặt nền tảng cho sự ra đời của Lụât các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2004. Tiếp sau đó là một lọat các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành mà điển hình phải kể đến là Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại, Nghị định số 13/1999/NĐ-CP ngày 17/3/1999 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam, Quyết định số 1287/2002/QĐ-NHNN ngày 22/11/2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng để huy động vốn trong nước. Sau đó, văn bản này đã bị thay thế bởi Quyết định số 02/2005/QĐ-NHNN ngày 04/01/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng để huy động vốn trong nước, Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24/3/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước ban hành Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng thay thế Quyết định 02/2005/QĐ-NHNN ngày 04/01/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng để huy động vốn trong nước.

Trên đây là cái nhìn khái quát về các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh việc phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng trong thời gian qua trước khi đi vào tiếp cận các nội dung cơ bản được quy định trong các văn bản pháp luật này mà cụ thể là Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN.

II. Những nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh việc phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng:

1. Khái niệm, phân lọai giấy tờ có giá.

1.1 Khái niệm giấy tờ có giá

Khái niệm giấy tờ có giá là một khái niệm có nội hàm rộng lớn. Xét trên phương diện kinh tế thì giấy tờ có giá là một lọai hàng hóa và có thể mua bán trên thị trường. Trên phạm vi rộng lớn của thị trường hàng hóa, có thể liệt kê ở đây một số lọai giấy tờ có giá: Trái phiếu, tín phiếu, công trái do Chính phủ phát hành; kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các lọai giấy tờ có giá khác do các tổ chức tín dụng phát hành. Ngòai ra, trong thanh toán quốc tế thì giấy tờ có giá thể hiện dưới các hình thức như hối phiếu, kỳ phiếu, các lọai thẻ ngân hàng…

Tuy nhiên, dù tồn tại dưới hình thức nào thì về bản chất giấy tờ có giá được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác. Hiện nay, có hai văn bản pháp luật  chủ yếu điều chỉnh họat động phát hành giấy tờ có giá. Đó là Luật chứng khóan năm 2006 và Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24 tháng 3 năm 2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành về qui chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng. Quyết định 07 sẽ được áp dụng để điều chỉnh khi chủ thể phát hành giấy tờ có giá trong nước là các tổ chức tín dụng và các chủ thể khác có họat động phát hành giấy tờ có giá thì sẽ tuân theo các qui định của Luật Chứng Khóan năm 2006. Vậy tương ứng với từng chủ thể phát hành giấy tờ có giá sẽ có các văn bản pháp luật khác nhau để điều chỉnh. Điều này dẫn đến hệ quả là sẽ có các khái niệm có nội hàm khác nhau về giấy tờ có giá. Trong khuôn khổ của bài viết này chỉ tập trung nghiên cứu giấy tờ có giá với tư cách là đối tượng được phát hành bởi các tổ chức tín dụng.

Khoản 1 Điều 4 Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24 tháng 3 năm 2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành về qui chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng qui định:

“Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua.”

Từ khái niệm trên cho phép đưa ra một số nhận xét sau:

Thứ nhất, giấy tờ có giá thực chất là một bằng chứng cho việc tố chức tín dụng đã phát hành giấy tờ có giá đó nợ người mua hoặc người đang thực tế nắm giữ giấy tờ đó một khoản tiền và có nghĩa vụ phải thanh tóan đầy đủ và đúng hạn cả nợ gốc lẫn lãi.

Thứ hai, hoạt động phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng là để huy động vốn.

Thứ ba, vì giấy tờ có giá bản thân nó là một lọai tài sản nên người sở hữu giấy tờ có giá được quyền chuyển quyền sở hữu các giấy tờ có giá này một cách hợp pháp theo qui định của Bộ Luật Dân Sự 2005 bằng các hình thức: mua, bán, tặng, cho, trao đổi họăc để lại thừa kế.

Ngoài ra, giấy tờ có giá còn được sử dụng làm tài sản cầm cố tại các tổ chức tín dụng theo các quy định hiện hành của pháp luật về bảo đảm tiền vay nếu tổ chức tín dụng đó chấp thuận; được chiết khấu, tái chiết khấu theo quy định hiện hành của pháp luật về chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá.

Một loại giấy tờ được xem là giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Phải là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành. Trên thực tế, có nhiều loại giấy tờ được chứng nhận bởi nhiều cá nhân, tổ chức khác nhau như công chứng, chứng thực, giấy chứng nhận tốt nghiệp, chứng khóan, trái phiếu…nhưng không phải tất cả các giấy tờ đó đều là giấy tờ có giá, mà chỉ có một số loại giấy tờ do các tổ chức tín dụng hoặc các doanh nghiệp có quyền phát hành trái phiếu phát hành mới là giấy tờ có giá. Xuất phát từ hoạt động đặc thù của các tổ chức tín dụng là kinh doanh tiền tệ, nên các tổ chức này được quyền huy động vốn lớn, bằng cách phát hành nhiều loại giấy tờ có giá khác nhau mới có thể duy trì được hoạt động kinh doanh của mình.

- Mục đích phát hành là nhằm huy động vốn. Chức năng của các tổ chức tín dụng khác nhau là khác nhau, nhưng hoạt động chung vẫn là kinh doanh tiền tệ. Một loại giấy tờ do tổ chức tín dụng phát hành không có mục đích này thì không phải là giấy tờ có giá. Việc huy động vốn bằng cách phát hành giấy tờ có giá phải được xác định một cách rõ ràng và cụ thể. Nghĩa là đảm bảo phù hợp với luật doanh nghiệp, luật các tổ chức tín dụng, luật chứng khoán và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Trên giấy tờ có giá phải xác định mệnh giá. Mệnh giá chính là số tiền gốc được in sẵn hoặc ghi trên giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi trên giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với giấy tờ có giá phát hành theo hình thức ghi sổ.

- Giấy tờ có giá phải hợp lệ. Nội dung được ghi trên giấy tờ có giá phải thể hiện nghĩa vụ trả nợ, điều kiện trả lãi và các điều khỏan cam kết giữa tổ chức tín dụng àa người mua. Một loại giấy tờ có giá phát hành được xem là khỏan nợ của tổ chức tín dụng đối với người mua. Do đó, trên giấy tờ có giá phải xác định rõ thời hạn. Thực chất, thời hạn này là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày đến hạn thanh toán. Khi đến hạn tổ chức tín dụng không thanh toán, người mua được xem là các chủ nợ đối với các khoản nợ đến hạn, các quyền pháp lý có thể được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự hay luật phá sản. Ngoài ra, trong một số trường hợp, tổ chức tín dụng có những điều khoản cam kết khác nhau đối với người mua thể hiện trên giấy tờ có giá. Tùy theo tổ chức tín dụng mà có những cam kết khác nhau, miễn là không vi phạm pháp luật.

1.2 Phân lọai giấy tờ có giá:

Các lọai giấy tờ có giá tồn tại theo các hình thức pháp lý do pháp luật qui định. Mỗi loại giấy tờ có giá đều có đặc trưng riêng về chủ thể phát hành, điều kiện phát hành, cách thức phát hành và lưu thông. Vì vậy nên có nhiều cách khác nhau để phân lọai giấy tờ có giá. Theo Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24 tháng 3 năm 2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành về qui chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng thì có thể phân lọai giấy tờ có giá theo 3 cách sau:

Căn cứ vào thời hạn của giấy tờ có giá, các giấy tờ có giá được chia thành các lọai sau:

-     Giấy tờ có giá ngắn hạn

-     Giấy tờ có giá dài hạn

Giấy tờ có giá ngắn hạn là giấy tờ có giá có thời hạn dưới một 1 năm bao gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.

Giấy tờ có giá dài hạn là giấy tờ có giá có thời hạn từ một năm trở lên, bao gồm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác.

Căn cứ vào chủ thể phát hành giấy tờ có giá, các giấy tờ có giá được chia thành các lọai sau:

- Giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng cổ phần phát hành, bao gồm các lọai sau: Trái phiếu chuyển đổi và trái phiếu kèm chứng từ.

- Giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng nhà nước, tổ chức tín dụng hợp tác, tổ chức tín dụng có vốn đầu tư nước ngòai phát hành, bao gồm các lọai sau: Kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các lọai giấy tờ có giá khác.

Căn cứ vào phạm vi xác định chủ sở hữu giấy tờ có giá, các giấy tờ có giá được phân thành các lọai sau:

-     Giấy tờ có giá ghi danh

-     Giấy tờ có giá vô danh

Giấy tờ có giá ghi danh là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ có ghi tên người sở hữu.

Giấy tờ có giá vô danh là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ không ghi tên người sở hữu. Giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ giấy tờ có giá.

1.3 Các yếu tố cấu thành giấy tờ có giá

Các yếu tố cấu thành giấy tờ có giá được qui định cụ thể tại Điều 8 Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24 tháng 3 năm 2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành về qui chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng.

1.3.1. Các yếu tố cấu thành giấy tờ có giá dưới hình thức chứng chỉ.

- Tên tổ chức tín dụng phát hành

- Tên gọi giấy tờ có giá (kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, chứng chỉ tiền gửi dài hạn, trái phiếu …).

- Mệnh giá.

- Thời hạn

- Ngày phát hành.

- Ngày đến hạn thanh toán.

- Lãi suất: Phương thức trả lãi, Thời điểm, địa điểm trả lãi,

- Địa điểm thanh toán tiền gốc giấy tờ có giá.

- Ghi rõ là giấy tờ có giá ghi danh hoặc vô danh.

Trường hợp là giấy tờ có giá ghi danh ghi rõ: Tên tổ chức, số giấy phép thành lập hoặc giấy phép đăng ký kinh doanh, địa chỉ của tổ chức mua giấy tờ có giá (nếu người mua là tổ chức); Tên, số chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, địa chỉ của người mua giấy tờ có giá (nếu người mua là cá nhân).

- Đối với phát hành trái phiếu chuyển đổi phải ghi rõ: Thời hạn chuyển đổi trái phiếu, tỷ lệ chuyển đổi trái phiếu.

- Đối với phát hành trái phiếu kèm chứng quyền phải ghi rõ: Điều kiện được mua cổ phiếu phổ thông của người sở hữu chứng quyền, số lượng cổ phiếu được mua của từng đơn vị chứng quyền, các quyền lợi và trách nhiệm khác của người nắm giữ chứng quyền.

- Chữ ký của Tổng Giám đốc hay người được ủy quyền và các chữ ký khác do tổ chức tín dụng quy định.

- Ký hiệu, số sê-ri phát hành.

- Các điều kiện, điều khoản về chuyển nhượng, chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá tại chính tổ chức tín dụng phát hành; Xử lý đối với các trường hợp rủi ro, các trường hợp không được thanh toán.

 Ngoài các yếu tố trên, tổ chức tín dụng phát hành có thể quy định thêm các nội dung ghi chú, chỉ dẫn khác liên quan đến giấy tờ có giá.

1.3.2. Các yếu tố cấu thành giấy tờ có giá dưới hình thức ghi sổ.

Đối với giấy tờ có giá phát hành theo hình thức ghi sổ thì các yếu tố cấu thành giấy tờ có giá dưới hình thức chứng chỉ phải được ghi vào trong giấy chứng nhận quyền sở hữu giấy tờ có giá.

Đối với trường hợp giấy tờ có giá trả lãi theo định kỳ, phiếu trả lãi kèm theo giấy tờ có giá phải có các chi tiết liên quan đến giấy tờ có giá (số sê-ri, mệnh giá), lãi suất,số tiền được lĩnh, kỳ hạn lĩnh lãi.

Giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ phải được thiết kế và in ấn để đảm bảo khả năng chống giả cao.

2. Phát hành giấy tờ có giá.

2.1 Đối tượng phát hành giấy tờ có giá, hình thức phát hành, đồng tiền phát hành và thời hạn phát hành.

Theo Điều 2 Quyết địn số 07/2008/QĐ-NHNN, đối tuợng phát hành giấy tờ có giá bao gồm:

- Các tổ chức tín dụng nhà nước: có vốn từ ngân sách nhà nước, hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước và luật các tổ chức tín dụng. Gồm có:

            + Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam;

            + Ngân hàng Công thương;

            + Ngân hàng Ngoại thương;

            + Ngân hàng Đầu tư và Phát triển;

            + Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

            + Ngân hàng phát triển nhà ĐBSCL;

            + Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

- Các tổ chức tín dụng cổ phần: gồm các ngân hàng thương mại ở Việt Nam ngoài nhà nước như saigonbank, sacombank,… do các tổ chức, cá nhân góp vốn thành lập, hoạt động theo luật doanh nghiệp và luật các tổ chức tín dụng.

- Quỹ tín dụng nhân dân trung ương: là tổ chức tín dụng hợp tác, do các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, các tổ chức tín dụng và các đối tượng khác tham gia góp vốn thành lập, được Nhà nước hỗ trợ vốn để hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng, nhằm mục đích hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân. Quỹ tín dụng Trung ương đặt trụ sở chính tại thành phố Hà Nội và thời hạn hoạt động của Quỹ tín dụng Trung ương là 99 năm  kể từ ngày được quyết định thành lập.

Quỹ tín dụng Trung ương có các nguyên tắc tổ chức và hoạt động: Tự nguyện gia nhập và ra Quỹ tín dụng Trung ương; Dân chủ, bình đẳng và công khai; Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; Hợp tác và phát triển cộng đồng.

Quỹ tín dụng Trung ương có chức năng: Điều hoà vốn trong hệ thống; hỗ trợ cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở thành viên;  Kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng;  Thực hiện một số nhiệm vụ của tổ chức liên kết do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định.

Thành viên của Quỹ tín dụng Trung ương gồm có: (1) Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở; (2) Các tổ chức tín dụng; (3) Các tổ chức kinh tế hoạt động trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi có trụ sở giao dịch (cả trụ sở chính và chi nhánh) của Quỹ tín dụng Trung ương. (5) Thành viên khác theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. (6) Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cử đại diện (từ 2 đến 3 người) quản lý vốn hỗ trợ của Chính phủ cho hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân để thực hiện quyền, nghĩa vụ của Ngân hàng Nhà  nước đối với số vốn này tại Quỹ tín dụng Trung ương.

- Các tổ chức tín dụng liên doanh.

- Các tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam.

Ngoài ra, đối với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng như công ty tài chính và công ty thuê tài chính, các tổ chức này được nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo các quy định của Ngân hàng Nhà nước; được phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá khác có kỳ hạn trên một năm để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận; được vay vốn của các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước; được nhận các nguồn vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

2.2 Hình thức phát hành:

Tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá theo hình thức chứng chỉ ghi danh, chứng chỉ vô danh và ghi sổ. Trường hợp phát hành giấy tờ có giá theo hình thức ghi sổ, tổ chức tín dụng phát hành cấp cho người mua chứng nhận quyền sở hữu giấy tờ có giá. Tùy vào khả năng và tình hình hoạt động mà các tổ chức tín dụng phát hành các loại giấy tờ có giá khác nhau.

2.3 Đồng tiền phát hành.

Giấy tờ có giá được phát hành bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ. Theo Pháp lệnh ngoại hối, đối tượng được hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối gồm các ngân hàng, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng và các tổ chức khác được phép hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối. Phạm vi hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối bao gồm:

- Các ngân hàng được tiến hành việc cung ứng dịch vụ ngoại hối theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

- Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng được thực hiện cung ứng một số dịch vụ ngoại hối trên cơ sở đăng ký các hoạt động này theo điều kiện do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định;

- Các tổ chức khác được hoạt động cung ứng một số dịch vụ ngoại hối theo giấy phép do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp.

Bên cạnh đó, việc phát hành, thanh toán và chuyển nhượng giấy tờ có giá bằng ngoại tệ phải tuân theo các quy định về quản lý ngoại hối của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2.4 Thời hạn phát hành.

Thời hạn phát hành của một đợt phát hành không quá 60 ngày, bao gồm cả những ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật. Tổ chức tín dụng chỉ được phát hành vượt thời hạn trên khi được sự chấp thuận của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

3. Phương thức phát hành giấy tờ có giá

Phương thức phát hành được hiểu là cách thức mà theo đó tổ chức tín dụng phân phối giấy tờ có giá đến tay người mua, là cách thức chuyển sở hữu giấy tờ có giá từ tổ chức tín dụng sang người mua. Và tùy vào loại giấy tờ có giá ngắn hạn hay dài hạn mà tổ chức tín dụng dự định phát hành và tùy vào đặc điểm, mô hình cũng như khả năng thực tế của mình mà tổ chức tín dụng có thể lựa chọn một trong cách thức phát hành sau, được quy định tại Điều 34 Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN về Phương thức phát hành giấy tờ có giá:

Các tổ chức tín dụng có thể thực hiện phát hành giấy tờ có giá theo các phương thức:

  1. 1.      Trực tiếp phát hành giấy tờ có giá.

  2. 2.      Bảo lãnh phát hành.

  3. 3.      Đại lý phát hành.

  4. 4.      Đấu thầu giấy tờ có giá.”

Và các phương thức phát hành lần lượt được giải thích ở các Điều 35, 37, 38 và 39 tiếp theo.

3.1     Phương thức phát hành trực tiếp

Theo quy định tại Điều 35. Trực tiếp phát hành giấy tờ có giá được định nghĩa như sau: “Tổ chức tín dụng trực tiếp tổ chức thực hiện việc phát hành giấy tờ có giá cho phù hợp với đặc điểm, điều kiện của tổ chức tín dụng.” Đây là phương thức phát hành cổ điển và phổ biến nhất trong hoạt động ngân hàng. Phương thức phát hành này có ưu điểm là không tốn chi phí và an toàn dễ kiểm soát bởi vì chính tổ chức tín dụng đang có dự định phát hành sẽ tự lên kế hoạch chi tiết về nội dung phát hành và thực hiện việc phát hành đó căn cứ vào đặc điểm, điều kiện của mình. Điều kiện ở đây có thể hiểu là về tiềm lực tài chính, là quy mô tổ chức, là mạng lưới chi nhánh cũng như uy tín của tổ chức tín dụng đó trên thị trường. Đặc điểm có thể hiểu là những đặc trưng, chức năng và mục đích riêng có của từng loại tổ chức tín dụng. Những đặc điểm này cũng chính là căn cứ để phân loại các tổ chức tín dụng, là lý do mà tổ chức đó tồn tại trên thị trường. Chẳng hạn, so với tổ chức tín dụng thương mại cổ phần – mục đích chính là nhằm kinh doanh tiền tệ để kiếm lợi nhuận thì các tổ chức tín dụng hợp tác – mục đích nhằm tương trợ nhau phát triển giữa một nhóm thành viên thường có quy mô về vốn hạn chế, phạm vi  kinh doanh hẹp. Sự khác nhau về quy mô vốn này sẽ tạo ra điều kiện vật chất khác nhau cho quá trình phát hành trực tiếp giấy tờ có giá đến với người mua. Phương thức phát hành trực tiếp, do rất đơn giản, ít tốn kém nên thường được áp dụng cho phát hành đối với giấy tờ có giá ngắn hạn và tổng mệnh giá của đợt huy động nhỏ. Và vì tự mình thiết kế, tổ chức phát hành giấy tờ có giá cho người mua nên tổ chức tín dụng sẽ chịu mọi trách nhiệm phát sinh từ hoạt động phát hành của mình. Không tồn tại trách nhiệm liên đới ở đây.

3.2     Phương thức bảo lãnh phát hành.

3.2.1 Khái niệm

Theo quy định tại Điều 4 khoản 21 Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN thì “Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức tín dụng phát hành thực hiện các thủ tục trước khi phát hành giấy tờ có giá nhận mua một phần hay toàn bộ giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng để bán lại hoặc mua số giấy tờ có giá còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức tín dụng phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức tín dụng phát hành trong việc phân phối giấy tờ có giá.”

            Bảo lãnh phát hành là một trong những loại bảo lãnh phát sinh trong hoạt động ngân hàng. Bản chất của bảo lãnh cho dù dưới hình thức nào cũng là một trong những biện pháp mà bên bảo lãnh dựa vào uy tín hay năng lực tài chính của mình để bảo đảm cho bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh, ở đây là việc bảo đảm việc phát hành giấy tờ có giá dài hạn của tổ chức tín dụng sẽ được thúc đẩy và tiến hành một cách suôn sẻ về thủ tục, về số lượng giấy tờ có giá sẽ được mua hết và tổng số vốn sẽ thu được phải gần nhất với kế hoạch, dự kiến trước thời điểm phát hành, qua đó bảo đảm quyền lợi cho người mua cũng như hoạt động bình thường của nền kinh tế. Chính vì vậy mà bảo lãnh phát hành mang bản chất là một loại bảo lãnh dân sự, vì vậy những thỏa thuận trong hợp đồng bảo lãnh cũng như những việc thực hiện những thỏa thuận đó phải tuân theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 về Bảo lãnh.

            3.2.2 Đối tượng áp dụng

            Bảo lãnh phát hành thường áp dụng đối với hoạt động phát hành giấy tờ có giá dài hạn. Khác với giấy tờ có giá ngắn hạn, giấy tờ có giá dài hạn có quy mô lớn về tổng mệnh giá dự kiến phát hành. Và vì quy mô lớn như vậy nên ảnh hưởng của việc thành công hay thất bại của việc phát hành là rất lớn không chỉ đối với kế hoạch phát triển của tổ chức tín dụng dự kiến phát hành mà còn cho cả thị trường tài chính- tiền tệ, sự ổn định của hoạt động ngân hàng. Trong trường hợp này, bảo lãnh là một phương thức cần thiết để bảo đảm sự thành công của quá trình phát hành đó.

            Cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo lãnh phát hành của tổ chức tín dụng được quy định tại Điều 58 – Luật các tổ chức tín dụng đã sửa đổi bổ sung 2004 về hoạt động Bảo lãnh ngân hàng.

“1. Tổ chức tín dụng được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người được nhận bảo lãnh.

  1. 2.      Tổ chức tín dụng được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh khác.

  2. 3.      Chỉ các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế mới được thực hiện bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác mà người nhận bảo lãnh là tổ chức, cá nhân nước ngoài.”

Như vậy có thể suy luận hình thức bảo lãnh phát hành chính là một trong những hình thức bảo lãnh khác được quy định tại khoản 2 kể trên.

3.2.3 Tổ chức được phép bảo lãnh phát hành

Theo quy định tại 36 – 07/2008/QĐ – NHNN về Tổ chức bảo lãnh, tổ chức đại lý phát hành giấy tờ có giá, thì:

1. Các tổ chức bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá, tổ chức đại lý phát hành giấy tờ có giá gồm các tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán được phép hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán và các định chế tài chính khác theo quy định tại giấy phép hoạt động.

2. Các ngân hàng thương mại thực hiện bảo lãnh phát hành trái phiếu ra công chúng phải được ủy ban chứng khoán Nhà nước chấp thuận theo điều kiện do Bộ Tài chính quyết định.”

Bên bảo lãnh, theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 là quy định chung cho cả cá nhân và tổ chức. Tuy nhiên hoạt động bảo lãnh phát hành trong hoạt động ngân hàng không chỉ đòi hỏi bên bảo lãnh có uy tín mà còn phải có năng lực tài chính và phải có hiểu biết sâu sắc về hoạt động tài chính ngân hàng để đảm bảo chắc chắn rằng hoạt động phát hành sẽ được diễn ra bình thường và khi không diễn ra bình thường thì bằng năng lực tài chính của mình bên bảo lãnh sẽ khắc phục một phần hoặc toàn bộ những hạn chế của quá trình phát hành và để đảm bảo chất lượng của giấy tờ có giá phát hành ra. Theo Quyết định 07/2008/QĐ-NHNN thì chỉ có tổ chức tín dụng và các công ty chứng khoán được phép hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán và một số định chế tài chính mới được phép thực hiện hoạt động này.

3.2.4 Về phương thức bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá.

Được quy định cụ thể tại Điều 37 – 07/2008/QĐ – NHNN như sau:

   “1. Việc bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá có thể do một hoặc một số tổ chức đồng thời thực hiện.

   2. Trường hợp nhiều tổ chức cùng thực hiện bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá,                     thực hiện theo phương thức đồng bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá.

3. Tổ chức bảo lãnh phát hành thực hiện đúng cam kết bảo lãnh phát hành với tổ chức tín dụng.

4. Phí bảo lãnh phát hành do tổ chức tín dụng phát hành thỏa thuận với tổ chức bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá.”

Mối quan hệ pháp lý giữa tổ chức bảo lãnh phát hành và tổ chức tín dụng phát hành dựa trên hợp đồng bảo lãnh theo đó tổ chức bảo lãnh phát hành thực hiện đúng cam kết bảo lãnh phát hành với tổ chức tín dụng theo đúng những quy định trong hợp đồng bảo lãnh đó về phạm vi bảo lãnh cũng như trách nhiệm và nghĩa vụ của tổ chức bảo lãnh phát hành từ giai đoạn thủ tục trước khi phát hành đến trong giai đoạn phát hành.

Việc bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá có thể do một hoặc một số tổ chức đồng thời thực hiện. Quy định  này có thể xuất phát từ thực tế tổng mệnh giá dự kiến phát hành của tổ chức tín dụng là quá lớn mà một tổ chức tín dụng không thể bảo lãnh được trong giới hạn khả năng của mình. Chính vì vậy xuất hiện sự liên kết, nhiều tổ chức cùng bảo lãnh phát hành cho một tổ chức tín dụng với từng phần bảo lãnh riêng biệt trong hợp đồng bảo lãnh. Quy định này một lần nữa cho thấy tầm quan trọng của việc phát hành giấy tờ có giá dài hạn đến thị trường tài chính tiền tệ và qua đó bảo đảm chắc chắn rằng hoạt động phát hành diễn ra bình thường tạo sự ổn định cho hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng đồng bảo lãnh sẽ chịu trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định bảo lãnh theo các phần độc lập; bên được bảo lãnh có quyền yêu cầu bất cứ tổ chức nào trong số những tổ chức bảo lãnh phát hành liên đới phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Khi một người trong số những tổ chức bảo lãnh phát hành đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thay cho tổ chức tín dụng được bảo lãnh thì có quyền yêu cầu những tổ chức bảo lãnh còn lại phải thực hiện phần nghĩa vụ của họ đối với mình.

Giai đoạn cuối cùng của quá trình bảo lãnh phát hành là thỏa thuận về phí phát hành. Là một hoạt động dịch vụ của tổ chức tín dụng nên khi tổ chức cung cấp dịch vụ bảo lãnh phát hành sẽ được hưởng một khoản thù lao gọi là phí phát hành. Phí phát hành do các bên tự thỏa thuận. Phí phát hành phụ thuộc từng phần bảo lãnh mà tổ chức bảo lãnh có nghĩa vụ phải thực hiện cũng như vào quy mô của đợt phát hành, cũng như vào mức độ rủi ro mà tổ chức bảo lãnh phát hành có thể sẽ phải gánh chịu.

Từ sự phân tích trên có thể thấy rằng, phương thức phát hành này so vớ phát hành trực tiếp sẽ tốn kém hơn rất nhiều nhưng vì ảnh hưởng to lớn của việc phát hành đến thị trường tài chính tiền tệ mà việc được bảo lãnh phát hành bởi một hay nhiều tổ chức bảo lãnh phát hành sẽ tạo ra sự an toàn cũng như chất lượng của giấy tờ có giá dự kiến phát hành tránh trường hợp dự kiến phát hành thì lớn nhưng khi phát hành số vốn huy động được lại thấp hơn rất nhiều.

3.3     Phương thức đại lý phát hành.

3.3.1 Khái niệm

Theo quy định tại Điều 4.20 – 07/2008/QĐ – NHNN thì “Đại lý phát hành là việc tổ chức đại lý phát hành thực hiện việc bán giấy tờ có giá cho người mua giấy tờ có giá theo sự ủy quyền của tổ chức tín dụng phát hành.”

Định nghĩa trên có một số điểm cần lưu ý. Thứ nhất, cần phân biệt đại lý phát hành – thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung 2004 (sẽ đề cập ở dưới) và Quyết định này với đại lý mua bán hàng hóa – thành lập và hoạt động theo Luật thương mại 2005. Chủ thể tiến hành hoạt động đại lý mua bán hàng hóa phải là thương nhân kinh doanh dịch vụ đại lý, coi đó là nghề nghiệp chính, thường xuyên của mình trong khi đó chủ thể tiến hành hoạt động đại lý phát hành là các tổ chức tín dụng (sẽ đề cập ở dưới) không phải kinh doanh dịch vụ đại lý phát hành mà hoạt động chính, thường xuyên là kinh doanh tiền tệ. Thứ hai, phân biệt tổ chức phát hành và tổ chức trực tiếp bán giấy tờ có giá cho người mua. Nếu như phát hành theo phương thức bảo lãnh phát hành thì tổ chức tín dụng phát hành sẽ được hỗ trợ, được tạo điều kiện thuận lợi, được đảm bảo quá trình phát hành của mình sẽ thành công còn hoạt động phát hành, bán giấy tờ có giá đó là do chính tổ chức tín dụng phát hành thực hiện thì hình thức đại lý phát hành lại ngược lại. Dưới sự ủy quyền của tổ chức tín dụng phát hành, tổ chức đại lý phát hành mới chính là người trực tiếp bán, phân phối giấy tờ có giá cho người mua. Thứ ba, việc bán giấy tờ có giá của đại lý phát hành được thực hiện thông qua sự ủy quyền của tổ chức tín dụng phát hành, cụ thể là thông qua hợp đồng ủy quyền. Tổ chức đại lý phát hành sẽ thực hiện việc bán của mình nhân danh bên ủy quyền, vì lợi ích của bên ủy quyền và trong phạm vi được ủy quyền. Quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh trên cơ sở những thỏa thuận trong hợp đồng ủy quyền. Việc thực hiện những thỏa thuận này tuân theo quy định về hợp đồng ủy quyền trong Bộ luật dân sự 2005 về Hợp đồng ủy quyền.

3.3.2 Tổ chức được thực hiện hoạt động đại lý phát hành

Được quy định tại Điều 36.1 – 07/2008/QĐ – NHNN “Các tổ chức bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá, tổ chức đại lý phát hành giấy tờ có giá gồm các tổ chức tín dụng công ty chứng khoán được phép hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán và các định chế tài chính khác theo quy định tại giấy phép hoạt động.”

            Lý giải tương tự như bảo lãnh phát hành ở trên thì chỉ có tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán được phép hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán và một số định chế tài chính khác. Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng ở đây, yếu tố tiềm lực tài chính và uy tín không hẳn là đóng vai trò chủ chốt mà chỉ cần hiểu biết về hoạt động tín dụng, hoạt động huy động vốn là có thể thực hiện được việc bán giấy tờ có giá. Như vậy, đối với bảo lãnh phát hành đòi hỏi ngân hàng lớn thì tổ chức đại lý phát hành có thể là bất kỳ tổ chức tín dụng nào với quy mô và đặc điểm nào.

            3.3.3 Cơ sở pháp lý của tổ chức đại lý phát hành

            Cơ sở pháp lý cho hoạt động đại lý phát hành của tổ chức đại lý phát hành được quy định tại Điều 72, Mục 4, Chương II – hoạt động của tổ chức tín dụng, Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung 2004 về Nghiệp vụ ủy thác và đại lý: “Tổ chức tín dụng được quyền ủy thác, nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân theo hợp đồng.”

 

            3.3.4 Nội dung phương thức đại lý phát hành giấy tờ có giá

            Điều 38 – 07/2008/QĐ – NHNN về phương thức đại lý phát hành giấy tờ có giá quy định như sau:

  1. Tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá có thể ủy quyền cho một hoặc một số tổ chức cùng làm nhiệm vụ đại lý phát hành giấy tờ có giá.

  2. Tổ chức đại lý phát hành thực hiện bán giấy tờ có giá cho người mua giấy tờ có giá theo đúng cam kết với tổ chức tín dụng phát hành. Trường hợp không bán hết, tổ chức đại lý phát hành được trả lại cho tổ chức tín dụng phát hành số giấy tờ còn lại.

  3. Phí đại lý phát hành giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành thỏa thuận với tổ chức đại lý phát hành giấy tờ có giá.

Theo như quy định này thì tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá có thể ủy quyền cho một hoặc nhiều đại lý phát hành giấy tờ có giá dựa vào phạm vi ủy quyền về số lượng và thời hạn v.v…không nhằm mục đích gì khác là mở rộng cơ hội tiếp cận đến với việc mua giấy tờ có giá của người mua. Thông qua nhiều đại lý trên phạm vi địa lý rộng khắp.

            Tổ chức đại lý phát hành sau khi ký kết hợp đồng ủy quyền với tổ chức tín dụng phát hành phải thực hiện việc bán giấy tờ có giá theo đúng cam kết với tổ chức tín dụng phát hành về số lượng, về thời hạn v.v…Tuy nhiên điều đặc biệt là trong trường hợp không bán hết, tổ chức đại lý phát hành được trả lại cho tổ chức tín dụng phát hành số giấy tờ còn lại. Quyền này của tổ chức đại lý phát hành nói lên tính ràng buộc trách nhiệm không cao với số giấy tờ có giá của tổ chức đại lý phát hành đối với tổ chức tín dụng phát hành. Đây chính là tính lỏng lẻo của phương thức phát hành này và vì tính lỏng lẻo này nên phương thức này thường chỉ áp dụng đối với phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn. Số giấy tờ có giá còn lại này, nếu theo phương thức bảo lãnh phát hành, sẽ được bên bảo lãnh phát hành mua lại.

            Cũng như bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành cũng là một dịch vụ mà các tổ chức tín dụng cung cấp. Và theo hợp đồng ủy quyền, họ được hưởng thù lao ủy quyền, hay hưởng thù lao đại lý, mức thù lao đại lý này phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa tổ chức đại lý phát hành và tổ chức tín dụng phát hành có thể dựa trên tiêu chí về số lượng giấy tờ có giá bán được, về thời hạn bán giấy tờ có giá…

3.4  Phương thức đấu thầu giấy tờ có giá

3.4.1 Một số khái niệm

Theo quy định tại Điều 4.22 – 07/2008/QĐ – NHNN thì “Đấu thầu giấy tờ có giá là việc lựa chọn các tổ chức, cá nhân tham gia dự thầu đáp ứng đủ yêu cầu của tổ chức tín dụng phát hành.”(1)

Theo quy định tại Điều 4.23 – 07/2008/QĐ – NHNN thì “Đấu thầu khối lượng là việc xét thầu trên cơ sở khối lượng dự thầu của người mua giấy tờ có giá theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng phát hành thông báo trước.”(2)

Theo quy định tại Điều 4.24 – 07/2008/QĐ – NHNN thì “Đấu thầu lãi suất là việc xét thầu trên cơ sở lãi suất dự thầu của người mua giấy tờ có giá.”(3)

            Khái niệm (1) đưa ra định nghĩa chung nhất về đấu thầu giấy tờ có giá – lựa chọn người tham gia thầu đáp ứng đủ yêu cầu mà không nêu ra đó là những yêu cầu gì. Đơn giản là bán giấy tờ có cho người mua thông qua phương thức đấu thầu. Khái niệm (2) và (3) đưa ra những mốc chuẩn để lựa chọn người tham gia thầu hay nói cách khác chính là cụ thể những yêu cầu đòi hỏi của tổ chức tín dụng phát hành trong khái niệm (1).

            Liên quan đến phương thức phát hành này, cần phân biệt giữa đấu thầu hàng hóa, dịch vụ theo Luật thương mại 2005 và phương thức đấu thầu giấy tờ có giá. Theo đó, (loại trừ những quy định về thủ tục liên quan đến đầu thầu, cũng như mục đích khác nhau của việc tổ chức đấu thầu) đấu thầu hàng hóa, dịch vụ theo Luật thương mại 2005 là đấu thầu mua hàng hóa, dịch vụ của một hoặc nhiều nhà thầu đáp ứng tốt nhất những điều kiện của bên mời thầu trong số những bên tham gia dự thầu. Nói cách khác đây là đấu thầu mua, bên mời thầu lựa chọn người bán – người mua tổ chức đấu thầu để lựa chọn người bán. Trong khi đó, đấu thầu giấy tờ có giá theo 07/2008/QĐ – NHNN là đấu thầu bán giấy tờ có giá, trong đó tổ chức tín dụng phát hành lựa chọn bên tham gia dự thầu đáp ứng tốt nhất. Nói cách khác đây là đấu thầu bán – người bán tổ chức đấu thầu để tìm người mua.

            Phương thức đấu thầu phát hành giấy tờ có giá cũng gần với đấu giá hàng hóa. Vì đấu giá suy cho cùng cũng là cách thức để tìm được người mua trả giá tốt nhất. Tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt giữa hai hình thức này về số lượng người cuối cùng được sở hữu hàng hóa cũng như về mốc chuẩn để lựa chọn người thắng cuộc. Đấu giá, mốc chuẩn duy nhất là giá, không gì có thể thay thế và người trả giá cao nhất sẽ là người duy nhất mua được hàng hóa. Đấu thầu phát hành giấy tờ có giá, mốc chuẩn là lãi suất hoặc khối lượng dự thầu và người mua được giấy tờ có giá ít khi và không thể chỉ là một người duy nhất. Còn giá của giấy tờ có giá chính là bất cứ mệnh giá nào. Vì tổ chức tín dụng luôn muốn đáp ứng mọi mệnh giá cho phép có thể cho khách hàng.

            3.4.2 Thực hiện việc đấu thầu giấy tờ có giá

            Theo quy định tại Điều 39 – 07/2008/QĐ – NHNN về phương thức đấu thầu giấy tờ có giá thì:

  1. 1.      Tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá được lựa chọn các phương thức đấu thầu sau:

a)     Đấu thầu trực tiếp tại tổ chức tín dụng phát hánh giấy tờ có giá.

b)     Đấu thầu thông qua các tổ chức tài chính trung gian.

c)     Đấu thầu thông qua Trung tâm giao dịch chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán.

  1. 2.      Tổ chức tín dụng tự quyết định hình thức đấu thầu giấy tờ có giá và xây dựng quy trình đấu thầu cụ thể cho phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh doanh của đơn vị mình và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

  2. 3.      Việc tổ chức đấu thầu phải đảm bảo nguyên tắc bí mật về thông tin của các tổ chức, cá nhân tham gia dự thầu và bảo đảm sự bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân tham gia đấu thầu.

  3. 4.      Phí đấu thầu giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành thỏa thuận với tổ chức được ủy quyền tổ chức đấu thầu giấy tờ có giá.

Điều trên chỉ quy định về mặt thủ tục như các phương thức đấu thầu, về hình thức đấu thầu, về nguyên tắc bảo đảm bí mật thông tin cũng như về phí đầu thầu mà tổ chức tín dụng phải chi trả trong trường hợp không đấu thầu tại tổ chức tín dụng phát hành mà không quy định cách thức xác định khi nào tổ chức, cá nhân được coi là đã trúng thầu.

Trở lại phần khái niệm ở trên, chúng ta thấy có 2 phương thức lựa chọn người tham gia thầu, tức là người được quyền mua giấy tờ có giá, đó là dựa vào lãi suất hoặc khối lượng dự thầu.  Trong cả hai trường hợp trên, tổng mệnh giá là yếu tố luôn luôn được biết trước, vì đây chính là con số mà tổ chức tín dụng phát hành được Ngân hàng Nhà nước cho phép. Trong trường hợp xét thầu dựa vào khối lượng, phương án này nói lên rằng tổ chức tín dụng sẽ xét thầu dựa trên khối lượng giấy tờ có giá mà người tham gia thầu đặt mua với mức lãi suất cố định đã được thông báo trước. Có 2 trường hợp có thể xảy ra, thứ nhất, có phải người tham gia dự thầu nào bỏ thầu với số lượng nhiều nhất sẽ được mua tất tổng mệnh giá dự kiến phát hành, nghĩa là khối lượng trúng thầu đúng bằng với tổng mệnh giá của giấy tờ có giá được phép phát hành của tổ chức tín dụng trong 1 đợt phát hành. Như vậy, chỉ có một người trúng thầu duy nhất. Trên lý thuyết thì vẫn có thể xảy ra, nhưng trên thực tế thì chưa bao giờ xảy ra một người trúng thầu duy nhất, đơn giản là vì tổng mệnh giá quá lớn và vì nếu mua tất thì độ rủi ro sẽ cao. Chính vì vậy sẽ xuất hiện khả năng thứ 2, số người được trúng thầu sẽ được chia đều cho những người ở tốp đầu. Số lượng người trúng thầu ở tốp đầu này là bao nhiêu người sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ số lượng họ đặt mua tương ứng tính từ người đặt mua cao nhất trở xuống sao cho tổng mệnh giá được phát hành sẽ được phát hành hết ở người trúng thầu cuối cùng theo thứ tự ưu tiên từ trên xuống. Nói cách khác trong trường hợp này sẽ có nhiều người trúng thầu, vấn đề là số lượng mà họ bỏ trúng để được quyền mua.

Tương tự, phương thức đấu thầu trên cơ sở lãi suất, cũng xuất hiện hai tình huống như trên, nhưng không cho ta biết số lượng mà những người trúng thầu lãi suất sẽ mua là bao nhiêu. Trúng thầu lãi suất là điều kiện ban đầu tạo cho người trúng thầu có quyền thỏa thuận mua với số lượng bao nhiêu ở mức lãi suất đã trúng thầu. Như vậy, cũng xuất hiện hai trường hợp, thứ nhất, người trúng thầu lãi suất và mua tất cả tổng mệnh giá của đợt phát hành với mức lãi suất chúng thầu đó. Trường hợp này chỉ xảy ra trên lý thuyết, khó xảy ra trên thực tế. Trường hợp thứ 2, sẽ có một số lượng những người trúng thầu lãi suất, sao cho tổng số lượng giấy tờ có già mà những người trúng thầu lãi suất này sẽ mua ở mức lãi suất tương ứng mà họ đã trúng thầu phải bằng tổng mệnh giá. Và đương nhiên là theo thứ tự ưu tiên từ mức lãi suất cao nhất đến mức lãi suất thấp nhất trong nhóm những người trúng thầu này.

3.5. Lãi suất và thanh toán gốc và lãi của giấy tờ có giá.

Lãi suất chính là chi phí mà một người đi vay phải trả cho người cho vay để được sử dụng một khoản vốn nhất định. Trong trường hợp này, ngân hàng là người đi vay, là con nợ tuy nhiên có một điều đặc biệt là chính tổ chức tín dụng – với tư cách là người đi vay thông qua phát hành giấy tờ có giá sẽ tính toán và đặt ra mức lãi suất chứ không phải là người cho vay được phép ấn định lãi suất cho vay. Sự đặc biệt này được quy định tại Điều 11 của 07/2008/QĐ – NHNN “Lãi suất giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành quy định phù hợp với lãi suất thị trường, đảm bảo hiệu quả kinh doanh và an toàn hoạt động cho tổ chức tín dụng.”

Trừ trường hợp đối với giấy tờ có giá ngắn hạn có kỳ hạn dưới 1 năm – khoảng thời gian mà mức lãi suất ít chịu biến động của thị trường, tình hình kinh tế và theo đó mức lãi suất đối với kỳ hạn này thường là lãi suất cố định (– ngay khi mua giấy tờ có giá ngắn hạn người mua đã có thể tính toán được khoản tiền lãi mà mình sẽ được hưởng khi đến hạn thanh toán trong tương lai nếu mọi chuyện diễn ra bình thường), người mua chấp nhận và mua giấy tờ có giá mà không có thỏa thuận về lãi suất. Giấy tờ có giá dài hạn thì trái lại mức lãi suất có thể chịu sự tác động từ sự biến động của thị trường tiền tệ, sự biến động của nền kinh tế – ví dụ lạm phát chẳng hạn. Và như vậy một sự thỏa thuận về lãi suất giữa người mua và tổ chức tín dụng phát hành là cần thiết. Cụ thể là thỏa thuận về “Lãi suất có điều chỉnh theo chu kỳ – là lãi suất thay đổi theo định kỳ theo thị trường do tổ chức tín dụng thỏa thuận với người mua khi phát hành Điều 4.11 – 07/2008/QĐ – NHNN”. Sự biến động của thị trường, của nền kinh tế có thể diễn ra theo chiều hướng tích cực và tiêu cực, nghĩa là sẽ làm mức lãi suất tăng lên hoặc giảm đi. Điều này tương ứng với sự gia tăng hay giảm đi về lợi ích của một trong 2 bên tổ chức tín dụng phát hành và người mua. Một sự thỏa thuận về lãi suất giữa 2 bên sẽ hạn chế và chia sẻ bớt rủi ro từ thị trường và qua đó bảo vệ lợi ích của các bên tham gia một cách hiệu quả hơn.

Một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động ngân hàng là khi giấy tờ có giá đến hạn thanh toán được ghi trên giấy tờ có giá thì tổ chức tín dụng đã phát hành giấy tờ có giá đó sẽ tiến hành thanh toán cả gốc và lãi cho người mua, hay khi đến hạn than toán người đi vay cũng phải thanh toán cả vốn gốc lẫn lãi cho tổ chức tín dụng. Và tương ứng với 2 loại lãi suất kể trên, khi đến hạn thanh toán, tổ chức tín dụng cũng có 2 cách thanh toán tiền lãi cho người mua là trả lãi một lần khi đến hạn thanh toán hoặc trả lãi theo định kỳ. Theo quy định tại Điều 4.13 thì “Trả lãi một lần khi đến hạn thanh toán là việc thanh toán tiền lãi một lần khi đến hạn thanh toán cùng với tiền gốc (mệnh giá).” Đây chính là hình thức trả lãi phổ biến nhất áp dụng cho lãi suất cố định đối với giấy tờ có giá ngắn hạn khi mà mọi hoạt động của ngân hàng và diễn biến của nền kinh tế diễn ra bình thường. Trong khi đó, “Trả lãi theo định kỳ – là việc trả lãi căn cứ vào phiếu trả lãi theo định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm đối với các giấy tờ có giá dài hạn – Điều 4.14 – 07/2008/QĐ – NHNN.” Như trên đã đề cập, hình thức trả lãi này áp dụng cho lãi suất đối với giấy tờ có giá dài hạn, có sự thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng phát hành và người mua về lãi suất. Tuy nhiên thực tế hoạt động ngân hàng còn xuất hiện một phương thức trả lãi khác nữa – trả lãi trước, được quy định tại Điều 4.12 – 07/2008/QĐ –NHNN: “Trả lãi trước là việc bán giấy tờ có giá thấp hơn mệnh giá và người mua được thanh toán số tiền bằng mệnh giá khi đến hạn thanh toán.”  Phương thức trả lãi trước không phải được thực hiện ở bất kỳ một thời điểm nào trước ngày thanh toán mà được thực hiện ngay ở ngày tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá cho người mua bằng cách bán giấy tờ có giá thấp hơn mệnh giá cho người mua. Mức thấp hơn mà người mua này được hưởng so với những người mua bình thường khác chính bằng tổng số tiền mà anh ta đáng lẽ sẽ nhận được khi đến hạn thanh toán với mức lãi suất cố định đã được quy định từ trước. Và một điều đương nhiên là khi đến hạn thanh toán người mua này sẽ chỉ được thanh toán số tiền bằng đúng mệnh giá thể hiện trên giấy tờ có giá loại không bao gồm lãi suất. Đi sâu vào vấn đề chúng ta thấy rằng, mục đích của tổ chức tín dụng khi phát hành giấy tờ có giá là để huy động vốn và căn cứ vào thực tiễn của tổ chức tín dụng, số vốn huy động này có thể nằm trong kế hoạch để sử dụng vào hoạt động cho vay đầu tư trong tương lai dù ngắn hạn hay dài hạn. Và hoạt động này chưa biết sẽ đem lời hay hàm chứa rủi ro cho tổ chức tín dụng. Thế nhưng ngay từ giai đoạn huy động khi chưa biết đồng vốn sẽ sử dụng hiệu quả ra sao mà ngân hàng đã phải trả lãi trước. Việc trả trước này có thể ảnh hưởng đến tính an toàn của tổ chức tín dụng. Chính vì vậy Điều 13.4 – 07/2008/QĐ –NHNN, quy định: “Việc thanh toán trước hạn giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng tự quyết định phù hợp với quy định về quản trị rủi ro và đảm bảo an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng.”

            Một vấn đề nhỏ cần chú ý là địa điểm thanh toán giấy tờ có giá. Đối với giấy tờ có giá cho dù là ngắn hạn – kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn hay giấy tờ có giá dài hạn – trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn đều phải thể hiện địa điểm thanh toán giấy tờ có giá. Và thông thường là bất kỳ chi nhánh nào của tổ chức tín dụng trên cả nước.

4. Phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn, giấy tờ có giá dài hạn, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền:

Việc phát hành giấy tờ có giá là giải pháp huy động vốn thuận lợi vốn bên cạnh hoạt động nhận tiền gửi, vay vốn giữa các tổ chức tín dụng và vay vốn của Ngân hàng Nhà Nước của các tổ chức tín dụng mà các tổ chức tín dụng muốn tranh thủ và thu hút lượng tiền nhàn rỗi từ công chúng cho các hoạt động của mình bên cạnh vốn điều lệ theo quy định của pháp luật khi mới thành lập. Bởi lẽ, vốn điều lệ như đã nói ở trên chỉ đủ để đáp ứng cho trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị chứ chưa đủ vốn để có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh.Vì vậy, họ phải huy động vốn từ khách hàng mà ở đây chỉ đề cập đến việc phát hành giấy tờ có giá. Nghiệp vụ này được thực hiện thông qua việc các tổ chức tín dụng phát hành ra công chúng giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua nên có thể kết luận đây là một hành vi đi vay tiền của khách hàng với cam kết hoàn trả số tiền đó kèm theo một khoản lãi vào ngày đáo hạn. Do đó, thực chất giấy tờ có giá không là đối tượng của giao dịch hai bên mà chính là khoản tiền vốn do khách hàng chấp nhận chuyển quyền sở hữu trực tiếp cho tổ chức tín dụng với điều kiện tiên quyết tổ chức tín dụng phải hoàn trả cho họ sau một thời hạn nhất định cộng với số tiền lãi phát sinh.Tuy nhiên, giấy tờ có giá được coi là hình thức pháp lý và đồng thời là chứng cứ chứng minh quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên.

Việc phát hành giấy tờ có giá được thực hiện thông qua hợp đồng cho vay có thời hạn xác định nên về nguyên tắc khách hàng cho vay không thể rút vốn về trước kỳ hạn như trong trường hợp họ gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn tại tổ chức tín dụng bằng cách chịu lãi suất phạt với tổ chức tín dụng nhận tiền gửi. Do vậy, nếu muốn thu hồi vốn trước thời hạn, cách duy nhất là người sỡ hữu giấy tờ có giá ký hợp đồng chuyển nhượng cho người khác, chẳng hạn có thể “bán” cho ngân hàng thương mại theo phương thức chiết khấu hay bán cho các tổ chức cá nhân khác theo phương thức thông thường trên thị trường tiền tệ hoặc thị trường chứng khoán. Cuối cùng, việc phát hành giấy tờ có giá cần phải được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ theo quy định của pháp luật.

Như chúng ta biết việc phát hành giấy tờ có giá có sự phân biệt thành phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn và phát hành giấy tờ có giá dài hạn này nhằm chủ yếu xác đinh cơ chế và lưu thông chúng như thế nào sau khi đã được phát hành trên thị trường bởi tổ chức tín dụng. Do đó, sau đây nhóm chúng tôi sẽ đi vào so sánh việc phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn và phát hành giấy tờ có giá dài hạn theo quy định của pháp luật

Sự khác biệt trước hết là quy định về mệnh giá mà cụ thể tại Điều 17 và Điều 20 của Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN:

“ Điều 17. Mệnh giá của giấy tờ có giá ngắn hạn

Mệnh giá của giấy tờ có giá ngắn hạn được in sẵn hoặc theo thỏa thuận của tổ chức tín dụng phát hành đối với người mua.

Điều 20. Mệnh giá của giấy tờ có giá dài hạn

1. Mệnh giá của giấy tờ có giá dài hạn bằng đồng Việt Nam phát hành theo hình thức chứng chỉ tối thiểu là một trăm ngàn đồng. Các mệnh giá lớn hơn mệnh giá tối thiểu phải là bội số của mệnh giá tối thiểu.

2. Mệnh giá của giấy tờ có giá dài hạn bằng ngoại tệ phát hành theo hình thức chứng chỉ tối thiểu là một trăm đô la Mỹ hoặc ngoại tệ khác tương đương. Các mệnh giá lớn hơn mệnh giá tối thiểu phải là bội số của mệnh giá tối thiểu.

3. Mệnh giá của giấy tờ có giá dài hạn là trái phiếu phát hành theo hình thức chứng chỉ được in sẵn trên giấy tờ có giá.

4. Mệnh giá của giấy tờ có giá dài hạn là chứng chỉ tiền gửi dài hạn phát hành theo hình thức chứng chỉ được in sẵn hoặc theo thỏa thuận của tổ chức tín dụng phát hành với người mua.

5. Mệnh giá của giấy tờ có giá dài hạn phát hành theo hình thức ghi sổ do tổ chức tín dụng phát hành thỏa thuận với người mua.”

Thứ hai là điều kiện phát hành:.

Tổ chức tín dụng muốn được huy động vốn bằng phát hành các giấy tờ có giá phải thỏa mãn những điều kiện cụ thể sau:

- Theo Điều 2 Quyết định 07/2008/QĐ-NHNN đối với hoạt động phát hành giấy tờ có giá tổ chức tín dụng được coi là đối tượng phát hành phải là các tổ chức tín dụng được thành lập, hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng và đáp ứng các điều kiện quy định tại Quy chế này, bao gồm:

+Các tổ chức tín dụng Nhà nước.

+Các tổ chức tín dụng cổ phần

+Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương

+Các tổ chức tín dụng liên doanh.

+Các tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam.

+Riêng công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính, loại giấy tờ có giá và thời hạn giấy tờ có giá được phép huy động thực hiện theo quy định hiện hành về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính. Cụ thể là theo Điều 1 khỏan 6 Nghị định số 81/2008/NĐ-CP: Công ty Tài chính đuợc phép phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá khác có kỳ hạn từ một năm trở lên để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đối với Công ty Tài chính chuyên ngành hoạt động trong các lĩnh vực tín dụng tiêu dùng, lĩnh vực thẻ không thực hiện nghiệp vụ huy động vốn nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.Và đối với công ty cho thuê tài chính theo khỏan 7 Điều 1 Nghị định số 95/2008, công ty cho thuê tài chính được phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá khác có kỳ hạn từ một năm trở lên để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

             – Tuân thủ đầy đủ các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước mà chúng ta có thể đối chiếu tại Điều 77, Điều 78, Điều 79, Điều 80, Điều 81, Điều 82 và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.

“ Điều 77. Những trường hợp không được cho vay

1. Tổ chức tín dụng không được cho vay đối với những người sau đây:

A) Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tín dụng;

B) Người thẩm định, xét duyệt cho vay;

C) Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc).

2. Các quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với các tổ chức tín dụng hợp tác.

3. Tổ chức tín dụng không được chấp nhận bảo lãnh của các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này để làm cơ sở cho việc cấp tín dụng đối với khách hàng.

Điều 78. Hạn chế tín dụng

1. Tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng với những điều kiện ưu đãi cho những đối tượng sau đây:

A) Tổ chức kiểm toán, Kiểm toán viên đang kiểm toán tại tổ chức tín dụng; Kế toán trưởng, Thanh tra viên;

B) Các cổ đông lớn của tổ chức tín dụng;

C) Doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật này sở hữu trên 10% vốn Điều lệ của doanh nghiệp đó.

2. Tổng dư nợ cho vay đối với các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này không được vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng.

Điều 79. Giới hạn cho vay, bảo lãnh, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, cho thuê tài chính

1. Giới hạn cho vay đối với một khách hàng được quy định như sau:

A) Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn vốn uỷ thác của Chính phủ, của các tổ chức, cá nhân hoặc trường hợp khách hàng vay là tổ chức tín dụng khác;

B) Trường hợp nhu cầu vốn của một khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng hoặc khách hàng có nhu cầu huy động vốn từ nhiều nguồn thì các tổ chức tín dụng được cho vay hợp vốn theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước;

C) Trong trường hợp đặc biệt, để thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội mà khả năng hợp vốn của các tổ chức tín dụng chưa đáp ứng được yêu cầu vay vốn của một khách hàng thì Thủ tướng Chính phủ có thể quyết định mức cho vay tối đa đối với từng trường hợp cụ thể.

2. Mức bảo lãnh, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định.

3. Mức cho thuê tài chính đối với một khách hàng của tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Điều 80. Giới hạn góp vốn, mua cổ phần

Mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng trong một doanh nghiệp, tổng mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng trong tất cả các doanh nghiệp không được vượt quá mức tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định đối với từng loại hình tổ chức tín dụng.

Điều 81. Tỷ lệ bảo đảm an toàn

1. Tổ chức tín dụng phải duy trì các tỷ lệ bảo đảm an toàn sau đây:

A) Khả năng chi trả được xác định bằng tỷ lệ giữa tài sản “Có” có thể thanh toán ngay so với các loại tài sản “Nợ” phải thanh toán tại một thời điểm nhất định của tổ chức tín dụng;

B) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được xác định bằng tỷ lệ giữa vốn tự có so với tài sản “Có”, kể cả các cam kết ngoại bảng được điều chỉnh theo mức độ rủi ro;

C) Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn.

2. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định các tỷ lệ nói tại khoản 1 Điều này đối với từng loại hình tổ chức tín dụng.

3. Tổng số vốn của một tổ chức tín dụng đầu tư vào tổ chức tín dụng khác dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần phải trừ khỏi vốn tự có khi tính toán các tỷ lệ an toàn.

 

Điều 82. Dự phòng rủi ro

1. Tổ chức tín dụng phải dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Khoản dự phòng rủi ro này phải được hạch toán vào chi phí hoạt động.

2. Việc phân loại tài sản “Có”, mức trích, phương pháp lập khoản dự phòng và việc sử dụng khoản dự phòng để xử lý các rủi ro trong hoạt động ngân hàng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ tài chính.

3. Trong trường hợp tổ chức tín dụng thu hồi được vốn đã được xử lý bằng khoản dự phòng rủi ro, số tiền thu hồi này được coi là doanh thu của tổ chức tín dụng.”

Bên cạnh các quy định chung trên thì riêng đối với các tổ chức tín dụng được phát hành giấy tờ có giá dài hạn phải đáp ứng thêm các điều kiện sau theo Điều 22 Quyết định 07/2008/QĐ-NHNN:

 + Có thời gian hoạt động tối thiểu là một năm kể từ ngày tổ chức tín dụng chính thức đi vào hoạt động.

 + Tổng lợi nhuận trước thuế so vốn chủ sở hữu của năm liền kề trước năm phát hành phải đạt từ 10% trở lên và tính đến thời điểm gần nhất phải có lãi.

 + Được sự chấp thuận của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc phát hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài chính của tổ chức tín dụng.

Cuối cùng là phần trình tự, thủ tục để phát hành giấy tờ có giá mà tổ chức tín dụng phải tuân theo.

Theo điều 19 Quyết định 07/2008/QĐ-NHNN tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn chủ động tổ chức các đợt phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn trong năm. Trước thời điểm phát hành từng đợt ít nhất là 3 ngày làm việc, tổ chức tín dụng phải gửi Thông báo phát hành của đợt phát hành dự kiến về Ngân hàng Nhà nước (Vụ Chính sách tiền tệ). Thông báo phát hành bao gồm các nội dung sau:

- Tên tổ chức tín dụng phát hành

- Tên gọi giấy tờ có giá

- Tổng mệnh giá của đợt phát hành.

- Phương thức phát hành

- Hình thức phát hành

- Địa điểm phát hành.

- Thời hạn giấy tờ có giá

- Thời hạn phát hành

- Lãi suất;Phương thức trả lãi, Thời điểm, địa điểm trả lãi.

- Địa điểm thanh toán tiền gốc giấy tờ có giá

- Các nội dung thông báo khác của tổ chức tín dụng phát hành.

Riêng đối với các tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá dài hạn phải tuân thủ các trình tự và thủ tục sau:

+ Theo điều 23 Quyết định 07/2008/QĐ-NHNN các tổ chức tín dụng muốn phát hành giấy tờ có giá dài hạn phải lập hồ sơ đề nghị phát hành giấy tờ có giá dài hạn gồm:

    *Đề nghị phát hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài chính.

    *Phương án phát hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài chính, trong đó nêu rõ mục đích phát hành, phương án sử dụng vốn thu được từ phát hành giấy tờ có giá dài hạn; Tổng mệnh giá phát hành, mệnh giá, tên gọi của giấy tờ có giá, đồng tiền phát hành, địa điểm phát hành, phương thức phát hành, hình thức phát hành, thời hạn, lãi suất, phương thức trả lãi, địa điểm trả gốc và lãi, người mua giấy tờ có giá, số lượng và thời gian dự kiến của từng đợt phát hành; Các điều kiện và điều khoản về quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng và người mua. Phương án phát hành giấy tờ có giá dài hạn phải được Hội đồng quản trị thông qua.

*Phương án phát hành trái phiếu để bổ sung vốn tự có của tổ chức tín dụng thuộc sở hữu nhà nước phải được Bộ Tài chính chấp thuận.

*Các báo cáo tài chính của hai năm liên tục gần nhất được kiểm toán và tính đến thời điểm có đơn đề nghị phát hành. Các tổ chức tín dụng có thời gian hoạt động dưới 2 năm gửi các báo cáo tài chính từ khi bắt đầu hoạt động đến thời điểm có đơn đề nghị phát hành. Nội dung của các báo cáo tài chính thực hiện theo quy định hiện hành của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về chế độ báo cáo đối với các tổ chức tín dụng. Trường hợp nộp hồ sơ phát hành trong Quý I hàng năm, tổ chức tín dụng có thể nộp báo cáo tài chính của năm trước đó chưa được kiểm toán và phải nộp các báo cáo tài chính được kiểm toán ngay sau khi hoàn tất kiểm toán.

*Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có).

*Kế hoạch kinh doanh, kế hoạch nguồn vốn và sử dụng vốn của năm tài chính.

*Điều lệ và Giấy phép hoạt động (đối với tổ chức tín dụng phát hành lần đầu)

*Các thay đổi về bộ máy tổ chức và các thay đổi khác (nếu có).

+ Sau đó thống đốc Ngân hàng Nhà nước ra quyết định về việc phát hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài chính của tổ chức tín dụng. Thời hạn xem xét và ra quyết định về việc phát hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài chính của tổ chức tín dụng không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị phát hành của tổ chức tín dụng. (Điều 24 Quyết định 07/2008/QĐ-NHNN ).

+ Theo điều 25 Quyết định 07/2008/QĐ-NHNN, sau khi có quyết định chấp thuận cho phát hành của người có thẩm quyền, tổ chức tín dụng sẽ chủ động tổ chức các đợt phát hành giấy tờ có giá dài hạn trong phạm vi kế hoạch phát hành của năm tài chính đã được xét duyệt. Trường hợp tổ chức tín dụng đã được chấp thuận kế hoạch phát hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài chính nhưng không tổ chức phát hành phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước (Vụ Chính sách tiền tệ). Trước thời điểm phát hành ít nhất 3 ngày làm việc, tổ chức tín dụng phải gửi Thông báo phát hành giấy tờ có giá dài hạn của đợt phát hành dự kiến về Ngân hàng Nhà nước (Vụ Chính sách tiền tệ). Thông báo phát hành giấy tờ có giá dài hạn bao gồm các nội dung sau:

- Tên tổ chức tín dụng phát hành

- Tên gọi giấy tờ có giá (trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn …).

- Tổng mệnh giá của đợt phát hành.

- Phương thức phát hành

- Hình thức phát hành

- Địa điểm phát hành.

- Thời hạn giấy tờ có giá

- Thời hạn phát hành

- Lãi suất, Phương thước trả lãi, Thời điểm, địa điểm trả lãi.

- Địa điểm thanh toán tiền gốc giấy tờ có giá

- Các nội dung thông báo khác của tổ chức tín dụng phát hành.

Tổ chức tín dụng chỉ được phát hành vượt quá kế hoạch đã được xét duyệt khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản. Hồ sơ đề nghị xem xét bổ sung kế hoạch phát hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài chính bao gồm: Đơn đề nghị phát hành giấy tờ có giá dài hạn bổ sung, kế hoạch phát hành giấy tờ có giá dài hạn điều chỉnh, kế hoạch kinh doanh của năm tài chính điều chỉnh.

Ở những phần trên chúng ta đã đề cập được những vấn đề mà pháp luật quy định về hoạt động  phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn cũng như giấy tờ có giá dài hạn.Tiếp theo một khía cạnh pháp lý mà chúng ta cũng cần quan tâm, đó là hoạt động phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền mà theo quy định tại Điều 26 của Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN  là do đối tượng là các tổ chức tín dụng cổ phần được phép phát hành.

Thế nào là trái phiếu chuyển đổi và trái phiếu kèm chứng quyền? Theo Điều 4, khoản 15 Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN trái phiếu chuyển đổi được hiểu “là loại trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của cùng một tổ chức tín dụng phát hành theo các điều kiện đã được xác định trong phương án phát hành.”. “Chứng quyền” là loại chứng khoán phát hành kèm theo trái phiếu xác định quyền của người sở hữu trái phiếu được mua một khối lượng cổ phiếu phổ thông nhất định theo các điều kiện đã xác định.” (khoản 18, Điều 4 Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN).

Đối tượng muốn được phát hành phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện được quy định tại Điều 28, 07/2008/QĐ-NHNN:

Điều 28. Điều kiện phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền

Tổ chức tín dụng phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

  1. 1.      Đáp ứng các điều kiện tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 22 Quy chế này.

“    1. Tuân thủ các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.

2. Có thời gian hoạt động tối thiểu là một năm kể từ ngày tổ chức tín dụng chính thức đi vào hoạt động…”( khoản 1,2 Điều 22)

2. Phương án tăng vốn điều lệ từ nguồn phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền của năm tài chính được Đại hội đồng cổ đông thông qua và được sự chấp thuận của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

3. Được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xếp loại A trong năm liền kề năm phát hành. Trường hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chưa có xếp loại thì phải được Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đề xuất dự kiến xếp loại A.

4. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân của 3 năm liên tiếp trước đó phải cao hơn mức lãi suất dự kiến trả cho trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền. Đối với tổ chức tín dụng có thời gian hoạt động từ 2 đến dưới 3 năm, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân của 2 năm liên tiếp trước đó phải cao hơn mức lãi suất dự kiến trả cho trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền. Đối với tổ chức tín dụng có thời gian hoạt động dưới 2 năm, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu của năm trước đó phải cao hơn mức lãi suất dự kiến trả cho trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền.

5. Được sự chấp thuận của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền của năm tài chính của tổ chức tín dụng.”

Sau khi thỏa mãn đầy đủ điều kiện kể trên, đối tượng phát hành sẽ tuân thủ một trình tự thủ tục như luật định. Chẳng hạn, cần có hồ sơ đề nghị phát hành (Điều 29), phải được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xem xét quyết định (Điều 30) và tổ chức phát hành theo như quy định tại Điều 32 Quyết định 07/2008/QĐ-NHNN.

Về hồ sơ đề nghị phải bao gồm những nội dụng sau:

“ Ngoài các quy định tại Khoản 4, 5, 6, 7, 8, Điều 23 Quy chế này, hồ sơ đề nghị phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền của năm tài chính còn bao gồm:

“…4. Các báo cáo tài chính của hai năm liên tục gần nhất được kiểm toán và tính đến thời điểm có đơn đề nghị phát hành. Các tổ chức tín dụng có thời gian hoạt động dưới 2 năm gửi các báo cáo tài chính từ khi bắt đầu hoạt động đến thời điểm có đơn đề nghị phát hành. Nội dung của các báo cáo tài chính thực hiện theo quy định hiện hành của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về chế độ báo cáo đối với các tổ chức tín dụng. Trường hợp nộp hồ sơ phát hành trong Quý I hàng năm, tổ chức tín dụng có thể nộp báo cáo tài chính của năm trước đó chưa được kiểm toán và phải nộp các báo cáo tài chính được kiểm toán ngay sau khi hoàn tất kiểm toán.

5. Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có).

6. Kế hoạch kinh doanh, kế hoạch nguồn vốn và sử dụng vốn của năm tài chính.

7. Điều lệ và Giấy phép hoạt động (đối với tổ chức tín dụng phát hành lần đầu)

8. Các thay đổi về bộ máy tổ chức và các thay đổi khác (nếu có).”( Điều 23)

1. Đề nghị phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền của năm tài chính.

2. Phương án tăng vốn điều lệ từ nguồn phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền được Đại hội đồng cổ đông thông qua và được sự chấp thuận của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

3. Phương án phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền của năm tài chính, trong đó nêu rõ:

- Mục đích phát hành, phương án sử dụng vốn thu được từ phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền; Tổng mệnh giá phát hành, mệnh giá, địa điểm phát hành, phương thức phát hành, hình thức phát hành, thời hạn, lãi suất, phương thức trả lãi, địa điểm trả gốc và lãi, người mua trái phiếu, số lượng và thời gian dự kiến của từng đợt phát hành; Các điều kiện và điều khoản về quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng và người mua. Phương án phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền phải được Hội đồng quản trị thông qua.

- Đối với phương án phát hành trái phiếu chuyển đổi phải nêu rõ: Điều kiện, thời hạn chuyển đổi trái phiếu; Tỷ lệ chuyển đổi trái phiếu, phương pháp tính giá chuyển đổi; Biên độ biến động giá cổ phiếu vào thời điểm phát hành và chuyển đổi trái phiếu (nếu có).

- Đối với phương án phát hành trái phiếu kèm chứng quyền phải nêu rõ: Điều kiện được mua cổ phiếu phổ thông của người sở hữu chứng quyền, số lượng cổ phiếu được mua của từng đơn vị chứng quyền, các quyền lợi và trách nhiệm khác của người nắm giữ chứng quyền.” (Điều 29 Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN)

Về tổ chức phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền, đối tương phát hành phải:

“1. Tổ chức tín dụng chủ động tổ chức các đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền trong phạm vi kế hoạch phát hành của năm tài chính đã được xét duyệt.

2. Trường hợp tổ chức tín dụng đã được chấp thuận phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền nhưng không tổ chức phát hành phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước (Vụ Chính sách tiền tệ).

3. Trước thời điểm phát hành ít nhất 3 ngày làm việc, tổ chức tín dụng phải gửi Thông báo phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền của đợt phát hành dự kiến về Ngân hàng Nhà nước (Vụ Chính sách tiền tệ).

4. Thông báo phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền bao gồm các nội dung sau:

- Tên tổ chức tín dụng phát hành.

- Tên gọi trái phiếu

- Tổng mệnh giá của đợt phát hành

- Phương thức phát hành

- Hình thức phát hành.

- Địa điểm phát hành

- Thời hạn trái phiếu.

- Thời hạn phát hành

- Lãi suất, Phương thức trả lãi, Thời điểm, địa điểm trả lãi.

- Địa điểm thanh toán tiền gốc trái phiếu

- Đối với phát hành trái phiếu chuyển đổi phải nêu rõ: Điều kiện, thời hạn chuyển đổi trái phiếu, Tỷ lệ chuyển đổi trái phiếu, phương pháp tính giá chuyển đổi; Biên độ biến động giá cổ phiếu vào thời điểm phát hành và chuyển đổi trái phiếu (nếu có).

- Đối với phát hành trái phiếu kèm chứng quyền phải nêu rõ: Điều kiện được mua cổ phiều phổ thông của người sở hữu chứng quyền, số lượng cổ phiếu được mua của từng đơn vị chứng quyền, các quyền lợi và trách nhiệm khác của người nắm giữ chứng quyền.

- Các nội dung thông báo khác của tổ chức tín dụng phát hành.” (Điều 32 Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNH).

Pháp luật không chỉ giới hạn đối tượng được phép phát hành mà còn đặt ra những giới hạn đối với người mua trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền.Cụ thể như tại quy định của Điều 27 Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN

“Điều 27. Các giới hạn đối với người mua trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền

1. Đối với người mua trái phiếu chuyển đổi hoặc mua trái phiếu kèm chứng quyền là tổ chức, cá nhân nước ngoài, khi đến thời hạn chuyển đổi thành cổ phiếu hoặc đến thời hạn mua cổ phiếu phải đảm bảo phù hợp với quy định hiện hành của Chính phủ và của Ngân hàng Nhà nước về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam và các văn bản pháp luật có liên quan.

2. Đối với người mua trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm chứng quyền là các tổ chức tín dụng, khi đến thời hạn chuyển đổi thành cổ phiếu hoặc đến thời hạn mua cổ phiếu phải phù hợp với quy định hiện hành của Luật các tổ chức tín dụng và của Ngân hàng Nhà nước về giới hạn góp vốn, mua cổ phần và các văn bản pháp luật có liên quan.”

Bên cạnh đó pháp luật cũng điều chỉnh việc bảo lãnh phát hành (Điều 31 Quyết định số 07) và trong trường hợp có sự mua lại trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền (Điều 33 Quyết định số 07).

 

 

 

 

 

 

 

III. Kết luận:

Trong nền kinh tế thị trường, về phương diện kinh tế, phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng mặc dù không mang lại lợi nhuận trực tiếp nhưng lại là một trong những giải pháp huy động vốn rất quan trọng. Chính nguồn vốn huy động được từ công chúng này sẽ giúp cho các tổ chức tín dụng phát hành thực hiện nghiệp vụ kinh doanh khác, góp phần giải quyết “đầu vào”. Không chỉ thế, qua đó còn đánh giá hay đo lường được sự tín nhiệm của khách hàng đối với tổ chức tín dụng phát hành. Trên cơ sở đó sẽ có những biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động vốn nói chung và phát hành giấy tờ có giá nói riêng để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng. Đó là những lợi ích có thể thấy mà việc phát hành giấy tờ có giá đã và đang đem lại cho các tổ chức tín dụng phát hành, dĩ nhiên nó cũng mang đến cả những lợi ích cho cả khách hàng. Có thể đưa ra một số dẫn chứng sau: Thứ nhất, cung cấp kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lời; thứ hai- cung cấp một nơi an toàn để họ cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi.

Về phương diện pháp lý, Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24/3/2008 về quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng chứa đựng nhiều điểm mới mà các văn bản trước đó không đề cập đến hoặc có qui định nhưng chưa rõ ràng, cụ thể như: quyền phát hành trái phiếu chuyển đổi và chứng quyền của tổ chức tín dụng cổ phần; việc áp dụng cơ chế phát hành thông qua phương thức đấu thầu, thông qua tổ chức làm đại lý hoặc tổ chức trung gian bảo lãnh phát hành chứng khoán…Ngoài ra, với Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN, pháp luật còn đặt ra những quy định liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá, xử lý tranh chấp và xử lý các trường hợp rủi ro khác (Điều 14); cầm cố, chiết khấu, tái chiết khấu (Điều 15) và bảo quản, giao nhận, vận chuyển giấy tờ có giá (Điều 16). Cuối cùng là trách nhiệm của tổ chức tín dụng, các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương tại Chương VI của Quyết định số 07 này. Do đó, có thể nói, sự ra đời của Quyết định 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24/3/2008 xem như một bước ngoặt trong việc kết nối hoạt động huy động vốn của tổ chức tín dụng với thị trường chứng khoán, góp phần thúc đẩy họat động của thị trừơng chứng khóan Việt Nam, và trên hết là nó đã tạo một sự nhất quán giữa qui định của Luật chứng khóan năm 2006 về phát hành chứng khóan ra công chúng với qui định về qui chế phát hành giấy tờ có giá. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ lý luận cũng như thực tiễn áp dụng, Quyết định số 07 vẫn còn một số điểm bất cập, hạn chế sau đây:

+ Thứ nhất, về bản chất pháp lý của quan hệ phát hành giấy tờ có giá. Trên nguyên tắc, việc phát hành các giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng chính là những thoả thuận vay nợ giữa tổ chức tín dụng với khách hàng. Bởi vì, thực chất các giấy tờ có giá được phát hành theo Quy chế này là moật công cụ vay nợ trên thị truờng tiền tệ, thị trường vốn dưới hình thức chứng chỉ ghi danh, chứng chỉ vô danh và ghi sổ, trong đó tổ chức tín dụng cam kết trả gốc, lãi cho người mua sau một thời gian nhất định . Điều này có nghĩa rằng: khi phát hành giấy tờ có giá cho người đầu tư là các tổ chức, cá nhân, tổ chức tín dụng không phải là “người bán” giấy tờ có giá mà chỉ là người tiếp nhận vốn đầu tư (người vay), còn khách hàng là tổ chức, cá nhân cũng không phải là “người mua” giấy tờ có giá theo đúng nghĩa của từ này mà chỉ là người đầu tư gián tiếp vào tổ chức tín dụng bằng cách cho vay đối với chủ thể này để được nhận một khoản lãi cho vay theo thoả thuận. Tuy nhiên, các quy định hiện hành trong Quyết định số 07 lại thể hiện quan điểm coi giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng như là một giao dịch “mua bán” giấy tờ có giá, chứ không khẳng định và thừa nhận bản chất là giao dịch cho vay của quan hệ phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng.

+ Thứ hai, mặc dù Quyết định số 07 đã đặt nền móng cho việc nhất thể hoá các quy chế về phát hành các loại giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng, nhưng nét nổi bật dễ nhận thấy trong văn bản pháp quy này là nhà làm luật vẫn chủ trương tách bạch giữa hoạt động phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng với hoạt động phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng. Đặc biệt, việc phát hành Hối phiếu nhận nợ của các tổ chức tín dụng cho khách hàng (người cho vay), với ý nghĩa là một loại giấy tờ có giá ngắn hạn để huy động vốn, đồng thời tạo thêm “hàng hoá” cho thị trường tiền tệ, cũng chưa được đề cập đến trong Quy chế này, dù chỉ là một quy định mang tính dẫn chiếu đến Luật các công cụ chuyển nhượng.

Nhóm chúng tôi làm bài viết chuyên đề này với mong muốn nắm bắt được những nội dung cơ bản trong các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh việc phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng, cùng với những đánh giá, nhận xét xung quanh Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN với mong muốn góp phần hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng ở nước ta trong bối cảnh hiện nay.

0 comments:

Post a Comment

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code