skip to main |
skip to sidebar

6:24 PM

Hoàng Phong Nhã
No comments
I. Khái quát pháp luật điều chỉnh họat động phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng.
Pháp luật điều chỉnh họat động của các
tổ chức tín dụng ra đời từ thập niên đầu tiên xây dựng nền kinh tế thị
trường. Nếu như Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật công ty năm 1990 và Pháp
lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 xuất hiện thể hiện tư tưởng pháp luật là
khẳng định quyền tự do kinh doanh, tự do khế ước, thừa nhận sự đa dạng
về các thành phần kinh tế thì Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng
và công ty tài chính năm 1990 ra đời với nhiệm vụ chủ yếu là quản lý,
hướng dẫn hoạt động của các ngân hàng, hợp tác xã tín dụng, công ty tài
chính, tạo thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,
thực hiện chính sách tiền tệ của Nhà nước, đồng thời bảo vệ lợi ích hợp
pháp của các tổ chức, cá nhân. Họat động phát hành giấy tờ có giá của tổ
chức tín dụng lần đầu tiên được qui định trong Pháp lệnh này, đặt nền
tảng cho sự ra đời của Lụât các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật sửa
đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2004. Tiếp sau
đó là một lọat các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành mà điển hình
phải kể đến là Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 của Chính phủ
về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại, Nghị định số
13/1999/NĐ-CP ngày 17/3/1999 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của tổ
chức tín dụng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước
ngoài tại Việt Nam, Quyết định số 1287/2002/QĐ-NHNN ngày 22/11/2002 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế phát hành giấy tờ
có giá của tổ chức tín dụng để huy động vốn trong nước. Sau đó, văn bản
này đã bị thay thế bởi Quyết định số 02/2005/QĐ-NHNN ngày 04/01/2005 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế phát hành giấy tờ
có giá của tổ chức tín dụng để huy động vốn trong nước, Quyết định số
07/2008/QĐ-NHNN ngày 24/3/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước ban hành
Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng thay
thế Quyết định 02/2005/QĐ-NHNN ngày 04/01/2005 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước về việc ban hành Quy chế phát hành giấy tờ có giá của tổ chức
tín dụng để huy động vốn trong nước.
Trên đây là cái nhìn khái quát về các
văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh việc phát hành giấy tờ có giá của
các tổ chức tín dụng trong thời gian qua trước khi đi vào tiếp cận các
nội dung cơ bản được quy định trong các văn bản pháp luật này mà cụ thể
là Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN.
II. Những nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh việc phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng:
1. Khái niệm, phân lọai giấy tờ có giá.
1.1 Khái niệm giấy tờ có giá
Khái niệm giấy tờ có giá là một khái
niệm có nội hàm rộng lớn. Xét trên phương diện kinh tế thì giấy tờ có
giá là một lọai hàng hóa và có thể mua bán trên thị trường. Trên phạm vi
rộng lớn của thị trường hàng hóa, có thể liệt kê ở đây một số lọai giấy
tờ có giá: Trái phiếu, tín phiếu, công trái do Chính phủ phát hành; kỳ
phiếu, trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, chứng chỉ
tiền gửi dài hạn và các lọai giấy tờ có giá khác do các tổ chức tín dụng
phát hành. Ngòai ra, trong thanh toán quốc tế thì giấy tờ có giá thể
hiện dưới các hình thức như hối phiếu, kỳ phiếu, các lọai thẻ ngân hàng…
Tuy nhiên, dù tồn tại dưới hình thức nào
thì về bản chất giấy tờ có giá được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi
sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể trong mối quan hệ
pháp lý với các chủ thể khác. Hiện nay, có hai văn bản pháp luật chủ
yếu điều chỉnh họat động phát hành giấy tờ có giá. Đó là Luật chứng
khóan năm 2006 và Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24 tháng 3 năm 2008
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành về qui chế phát hành giấy tờ
có giá trong nước của tổ chức tín dụng. Quyết định 07 sẽ được áp dụng để
điều chỉnh khi chủ thể phát hành giấy tờ có giá trong nước là các tổ
chức tín dụng và các chủ thể khác có họat động phát hành giấy tờ có giá
thì sẽ tuân theo các qui định của Luật Chứng Khóan năm 2006. Vậy tương
ứng với từng chủ thể phát hành giấy tờ có giá sẽ có các văn bản pháp
luật khác nhau để điều chỉnh. Điều này dẫn đến hệ quả là sẽ có các khái
niệm có nội hàm khác nhau về giấy tờ có giá. Trong khuôn khổ của bài
viết này chỉ tập trung nghiên cứu giấy tờ có giá với tư cách là đối
tượng được phát hành bởi các tổ chức tín dụng.
Khoản 1 Điều 4 Quyết định số
07/2008/QĐ-NHNN ngày 24 tháng 3 năm 2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước ban hành về qui chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức
tín dụng qui định:
“Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ
chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả
nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các
điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua.”
Từ khái niệm trên cho phép đưa ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, giấy tờ có giá thực
chất là một bằng chứng cho việc tố chức tín dụng đã phát hành giấy tờ có
giá đó nợ người mua hoặc người đang thực tế nắm giữ giấy tờ đó một
khoản tiền và có nghĩa vụ phải thanh tóan đầy đủ và đúng hạn cả nợ gốc
lẫn lãi.
Thứ hai, hoạt động phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng là để huy động vốn.
Thứ ba, vì giấy tờ có giá bản
thân nó là một lọai tài sản nên người sở hữu giấy tờ có giá được quyền
chuyển quyền sở hữu các giấy tờ có giá này một cách hợp pháp theo qui
định của Bộ Luật Dân Sự 2005 bằng các hình thức: mua, bán, tặng, cho,
trao đổi họăc để lại thừa kế.
Ngoài ra, giấy tờ có giá còn được sử
dụng làm tài sản cầm cố tại các tổ chức tín dụng theo các quy định hiện
hành của pháp luật về bảo đảm tiền vay nếu tổ chức tín dụng đó chấp
thuận; được chiết khấu, tái chiết khấu theo quy định hiện hành của pháp
luật về chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá.
Một loại giấy tờ được xem là giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Phải là chứng nhận của tổ chức tín
dụng phát hành. Trên thực tế, có nhiều loại giấy tờ được chứng nhận bởi
nhiều cá nhân, tổ chức khác nhau như công chứng, chứng thực, giấy chứng
nhận tốt nghiệp, chứng khóan, trái phiếu…nhưng không phải tất cả các
giấy tờ đó đều là giấy tờ có giá, mà chỉ có một số loại giấy tờ do các
tổ chức tín dụng hoặc các doanh nghiệp có quyền phát hành trái phiếu
phát hành mới là giấy tờ có giá. Xuất phát từ hoạt động đặc thù của các
tổ chức tín dụng là kinh doanh tiền tệ, nên các tổ chức này được quyền
huy động vốn lớn, bằng cách phát hành nhiều loại giấy tờ có giá khác
nhau mới có thể duy trì được hoạt động kinh doanh của mình.
- Mục đích phát hành là nhằm huy động
vốn. Chức năng của các tổ chức tín dụng khác nhau là khác nhau, nhưng
hoạt động chung vẫn là kinh doanh tiền tệ. Một loại giấy tờ do tổ chức
tín dụng phát hành không có mục đích này thì không phải là giấy tờ có
giá. Việc huy động vốn bằng cách phát hành giấy tờ có giá phải được xác
định một cách rõ ràng và cụ thể. Nghĩa là đảm bảo phù hợp với luật doanh
nghiệp, luật các tổ chức tín dụng, luật chứng khoán và các văn bản pháp
luật khác có liên quan. Trên giấy tờ có giá phải xác định mệnh giá.
Mệnh giá chính là số tiền gốc được in sẵn hoặc ghi trên giấy tờ có giá
phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi trên giấy chứng nhận quyền
sở hữu đối với giấy tờ có giá phát hành theo hình thức ghi sổ.
- Giấy tờ có giá phải hợp lệ. Nội dung
được ghi trên giấy tờ có giá phải thể hiện nghĩa vụ trả nợ, điều kiện
trả lãi và các điều khỏan cam kết giữa tổ chức tín dụng àa người mua.
Một loại giấy tờ có giá phát hành được xem là khỏan nợ của tổ chức tín
dụng đối với người mua. Do đó, trên giấy tờ có giá phải xác định rõ thời
hạn. Thực chất, thời hạn này là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến
ngày đến hạn thanh toán. Khi đến hạn tổ chức tín dụng không thanh toán,
người mua được xem là các chủ nợ đối với các khoản nợ đến hạn, các quyền
pháp lý có thể được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự hay
luật phá sản. Ngoài ra, trong một số trường hợp, tổ chức tín dụng có
những điều khoản cam kết khác nhau đối với người mua thể hiện trên giấy
tờ có giá. Tùy theo tổ chức tín dụng mà có những cam kết khác nhau, miễn
là không vi phạm pháp luật.
1.2 Phân lọai giấy tờ có giá:
Các lọai giấy tờ có giá tồn tại theo các
hình thức pháp lý do pháp luật qui định. Mỗi loại giấy tờ có giá đều có
đặc trưng riêng về chủ thể phát hành, điều kiện phát hành, cách thức
phát hành và lưu thông. Vì vậy nên có nhiều cách khác nhau để phân lọai
giấy tờ có giá. Theo Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24 tháng 3 năm
2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành về qui chế phát hành giấy
tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng thì có thể phân lọai giấy tờ
có giá theo 3 cách sau:
Căn cứ vào thời hạn của giấy tờ có giá, các giấy tờ có giá được chia thành các lọai sau:
- Giấy tờ có giá ngắn hạn
- Giấy tờ có giá dài hạn
Giấy tờ có giá ngắn hạn là giấy
tờ có giá có thời hạn dưới một 1 năm bao gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền
gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
Giấy tờ có giá dài hạn là giấy
tờ có giá có thời hạn từ một năm trở lên, bao gồm trái phiếu, chứng chỉ
tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác.
Căn cứ vào chủ thể phát hành giấy tờ có giá, các giấy tờ có giá được chia thành các lọai sau:
- Giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng cổ phần phát hành, bao gồm các lọai sau: Trái phiếu chuyển đổi và trái phiếu kèm chứng từ.
- Giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng nhà
nước, tổ chức tín dụng hợp tác, tổ chức tín dụng có vốn đầu tư nước
ngòai phát hành, bao gồm các lọai sau: Kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu,
chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các lọai giấy
tờ có giá khác.
Căn cứ vào phạm vi xác định chủ sở hữu giấy tờ có giá, các giấy tờ có giá được phân thành các lọai sau:
- Giấy tờ có giá ghi danh
- Giấy tờ có giá vô danh
Giấy tờ có giá ghi danh là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ có ghi tên người sở hữu.
Giấy tờ có giá vô danh là giấy
tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ không ghi tên người sở hữu.
Giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ giấy tờ có
giá.
1.3 Các yếu tố cấu thành giấy tờ có giá
Các yếu tố cấu thành giấy tờ có giá được
qui định cụ thể tại Điều 8 Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24 tháng 3
năm 2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành về qui chế phát hành
giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng.
1.3.1. Các yếu tố cấu thành giấy tờ có giá dưới hình thức chứng chỉ.
- Tên tổ chức tín dụng phát hành
- Tên gọi giấy tờ có giá (kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, chứng chỉ tiền gửi dài hạn, trái phiếu …).
- Mệnh giá.
- Thời hạn
- Ngày phát hành.
- Ngày đến hạn thanh toán.
- Lãi suất: Phương thức trả lãi, Thời điểm, địa điểm trả lãi,
- Địa điểm thanh toán tiền gốc giấy tờ có giá.
- Ghi rõ là giấy tờ có giá ghi danh hoặc vô danh.
Trường hợp là giấy tờ có giá ghi danh
ghi rõ: Tên tổ chức, số giấy phép thành lập hoặc giấy phép đăng ký kinh
doanh, địa chỉ của tổ chức mua giấy tờ có giá (nếu người mua là tổ
chức); Tên, số chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, địa chỉ của người mua
giấy tờ có giá (nếu người mua là cá nhân).
- Đối với phát hành trái phiếu chuyển đổi phải ghi rõ: Thời hạn chuyển đổi trái phiếu, tỷ lệ chuyển đổi trái phiếu.
- Đối với phát hành trái phiếu kèm chứng
quyền phải ghi rõ: Điều kiện được mua cổ phiếu phổ thông của người sở
hữu chứng quyền, số lượng cổ phiếu được mua của từng đơn vị chứng quyền,
các quyền lợi và trách nhiệm khác của người nắm giữ chứng quyền.
- Chữ ký của Tổng Giám đốc hay người được ủy quyền và các chữ ký khác do tổ chức tín dụng quy định.
- Ký hiệu, số sê-ri phát hành.
- Các điều kiện, điều khoản về chuyển
nhượng, chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá tại chính tổ chức tín dụng
phát hành; Xử lý đối với các trường hợp rủi ro, các trường hợp không
được thanh toán.
Ngoài các yếu tố trên, tổ chức tín dụng
phát hành có thể quy định thêm các nội dung ghi chú, chỉ dẫn khác liên
quan đến giấy tờ có giá.
1.3.2. Các yếu tố cấu thành giấy tờ có giá dưới hình thức ghi sổ.
Đối với giấy tờ có giá phát hành theo
hình thức ghi sổ thì các yếu tố cấu thành giấy tờ có giá dưới hình thức
chứng chỉ phải được ghi vào trong giấy chứng nhận quyền sở hữu giấy tờ
có giá.
Đối với trường hợp giấy tờ có giá trả
lãi theo định kỳ, phiếu trả lãi kèm theo giấy tờ có giá phải có các chi
tiết liên quan đến giấy tờ có giá (số sê-ri, mệnh giá), lãi suất,số tiền
được lĩnh, kỳ hạn lĩnh lãi.
Giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ phải được thiết kế và in ấn để đảm bảo khả năng chống giả cao.
2. Phát hành giấy tờ có giá.
2.1 Đối tượng phát hành giấy tờ có giá, hình thức phát hành, đồng tiền phát hành và thời hạn phát hành.
Theo Điều 2 Quyết địn số 07/2008/QĐ-NHNN, đối tuợng phát hành giấy tờ có giá bao gồm:
- Các tổ chức tín dụng nhà nước: có vốn
từ ngân sách nhà nước, hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước và luật
các tổ chức tín dụng. Gồm có:
+ Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam;
+ Ngân hàng Công thương;
+ Ngân hàng Ngoại thương;
+ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển;
+ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
+ Ngân hàng phát triển nhà ĐBSCL;
+ Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
- Các tổ chức tín dụng cổ phần: gồm các
ngân hàng thương mại ở Việt Nam ngoài nhà nước như saigonbank,
sacombank,… do các tổ chức, cá nhân góp vốn thành lập, hoạt động theo
luật doanh nghiệp và luật các tổ chức tín dụng.
- Quỹ tín dụng nhân dân trung ương: là
tổ chức tín dụng hợp tác, do các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, các tổ
chức tín dụng và các đối tượng khác tham gia góp vốn thành lập, được Nhà
nước hỗ trợ vốn để hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch
vụ ngân hàng, nhằm mục đích hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ
thống Quỹ tín dụng nhân dân. Quỹ tín dụng Trung ương đặt trụ sở chính
tại thành phố Hà Nội và thời hạn hoạt động của Quỹ tín dụng Trung ương
là 99 năm kể từ ngày được quyết định thành lập.
Quỹ tín dụng Trung ương có các nguyên
tắc tổ chức và hoạt động: Tự nguyện gia nhập và ra Quỹ tín dụng Trung
ương; Dân chủ, bình đẳng và công khai; Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và
cùng có lợi; Hợp tác và phát triển cộng đồng.
Quỹ tín dụng Trung ương có chức năng:
Điều hoà vốn trong hệ thống; hỗ trợ cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân
hàng cho Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở thành viên; Kinh doanh tiền tệ,
tín dụng và dịch vụ Ngân hàng; Thực hiện một số nhiệm vụ của tổ chức
liên kết do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định.
Thành viên của Quỹ tín dụng Trung ương
gồm có: (1) Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở; (2) Các tổ chức tín dụng; (3)
Các tổ chức kinh tế hoạt động trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi có trụ sở
giao dịch (cả trụ sở chính và chi nhánh) của Quỹ tín dụng Trung ương.
(5) Thành viên khác theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. (6)
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cử đại diện (từ 2 đến 3 người) quản lý vốn
hỗ trợ của Chính phủ cho hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân để thực hiện
quyền, nghĩa vụ của Ngân hàng Nhà nước đối với số vốn này tại Quỹ tín
dụng Trung ương.
- Các tổ chức tín dụng liên doanh.
- Các tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam.
Ngoài ra, đối với các tổ chức tín dụng
phi ngân hàng như công ty tài chính và công ty thuê tài chính, các tổ
chức này được nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá
nhân theo các quy định của Ngân hàng Nhà nước; được phát hành trái
phiếu, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá khác có kỳ hạn trên một năm
để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận; được vay vốn của các tổ chức
tài chính, tín dụng trong và ngoài nước; được nhận các nguồn vốn khác
theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
2.2 Hình thức phát hành:
Tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có
giá theo hình thức chứng chỉ ghi danh, chứng chỉ vô danh và ghi sổ.
Trường hợp phát hành giấy tờ có giá theo hình thức ghi sổ, tổ chức tín
dụng phát hành cấp cho người mua chứng nhận quyền sở hữu giấy tờ có giá.
Tùy vào khả năng và tình hình hoạt động mà các tổ chức tín dụng phát
hành các loại giấy tờ có giá khác nhau.
2.3 Đồng tiền phát hành.
Giấy tờ có giá được phát hành bằng đồng
Việt Nam, ngoại tệ. Theo Pháp lệnh ngoại hối, đối tượng được hoạt động
cung ứng dịch vụ ngoại hối gồm các ngân hàng, các tổ chức tín dụng phi
ngân hàng và các tổ chức khác được phép hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại
hối. Phạm vi hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối bao gồm:
- Các ngân hàng được tiến hành việc cung ứng dịch vụ ngoại hối theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
- Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng
được thực hiện cung ứng một số dịch vụ ngoại hối trên cơ sở đăng ký các
hoạt động này theo điều kiện do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định;
- Các tổ chức khác được hoạt động cung ứng một số dịch vụ ngoại hối theo giấy phép do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp.
Bên cạnh đó, việc phát hành, thanh toán
và chuyển nhượng giấy tờ có giá bằng ngoại tệ phải tuân theo các quy
định về quản lý ngoại hối của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2.4 Thời hạn phát hành.
Thời hạn phát hành của một đợt phát hành
không quá 60 ngày, bao gồm cả những ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định
của pháp luật. Tổ chức tín dụng chỉ được phát hành vượt thời hạn trên
khi được sự chấp thuận của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
3. Phương thức phát hành giấy tờ có giá
Phương thức phát hành được hiểu là cách
thức mà theo đó tổ chức tín dụng phân phối giấy tờ có giá đến tay người
mua, là cách thức chuyển sở hữu giấy tờ có giá từ tổ chức tín dụng sang
người mua. Và tùy vào loại giấy tờ có giá ngắn hạn hay dài hạn mà tổ
chức tín dụng dự định phát hành và tùy vào đặc điểm, mô hình cũng như
khả năng thực tế của mình mà tổ chức tín dụng có thể lựa chọn một trong
cách thức phát hành sau, được quy định tại Điều 34 Quyết định số
07/2008/QĐ-NHNN về Phương thức phát hành giấy tờ có giá:
“Các tổ chức tín dụng có thể thực hiện phát hành giấy tờ có giá theo các phương thức:
-
1. Trực tiếp phát hành giấy tờ có giá.
-
2. Bảo lãnh phát hành.
-
3. Đại lý phát hành.
-
4. Đấu thầu giấy tờ có giá.”
Và các phương thức phát hành lần lượt được giải thích ở các Điều 35, 37, 38 và 39 tiếp theo.
3.1 Phương thức phát hành trực tiếp
Theo quy định tại Điều 35. Trực tiếp phát hành giấy tờ có giá được định nghĩa như sau: “Tổ
chức tín dụng trực tiếp tổ chức thực hiện việc phát hành giấy tờ có giá
cho phù hợp với đặc điểm, điều kiện của tổ chức tín dụng.” Đây là
phương thức phát hành cổ điển và phổ biến nhất trong hoạt động ngân
hàng. Phương thức phát hành này có ưu điểm là không tốn chi phí và an
toàn dễ kiểm soát bởi vì chính tổ chức tín dụng đang có dự định phát
hành sẽ tự lên kế hoạch chi tiết về nội dung phát hành và thực hiện việc
phát hành đó căn cứ vào đặc điểm, điều kiện của mình. Điều
kiện ở đây có thể hiểu là về tiềm lực tài chính, là quy mô tổ chức, là
mạng lưới chi nhánh cũng như uy tín của tổ chức tín dụng đó trên thị
trường. Đặc điểm có thể hiểu là những đặc trưng, chức năng và mục đích
riêng có của từng loại tổ chức tín dụng. Những đặc điểm này cũng chính
là căn cứ để phân loại các tổ chức tín dụng, là lý do mà tổ chức đó tồn
tại trên thị trường. Chẳng hạn, so với tổ chức tín dụng thương mại cổ
phần – mục đích chính là nhằm kinh doanh tiền tệ để kiếm lợi nhuận thì
các tổ chức tín dụng hợp tác – mục đích nhằm tương trợ nhau phát triển
giữa một nhóm thành viên thường có quy mô về vốn hạn chế, phạm vi kinh
doanh hẹp. Sự khác nhau về quy mô vốn này sẽ tạo ra điều kiện vật chất
khác nhau cho quá trình phát hành trực tiếp giấy tờ có giá đến với người
mua. Phương thức phát hành trực tiếp, do rất đơn giản, ít tốn kém nên
thường được áp dụng cho phát hành đối với giấy tờ có giá ngắn hạn và
tổng mệnh giá của đợt huy động nhỏ. Và vì tự mình thiết kế, tổ chức phát
hành giấy tờ có giá cho người mua nên tổ chức tín dụng sẽ chịu mọi
trách nhiệm phát sinh từ hoạt động phát hành của mình. Không tồn tại
trách nhiệm liên đới ở đây.
3.2 Phương thức bảo lãnh phát hành.
3.2.1 Khái niệm
Theo quy định tại Điều 4 khoản 21 Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN thì “Bảo
lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức
tín dụng phát hành thực hiện các thủ tục trước khi phát hành giấy tờ có
giá nhận mua một phần hay toàn bộ giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng để
bán lại hoặc mua số giấy tờ có giá còn lại chưa được phân phối hết của
tổ chức tín dụng phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức tín dụng phát hành trong
việc phân phối giấy tờ có giá.”
Bảo lãnh phát hành
là một trong những loại bảo lãnh phát sinh trong hoạt động ngân hàng.
Bản chất của bảo lãnh cho dù dưới hình thức nào cũng là một trong những
biện pháp mà bên bảo lãnh dựa vào uy tín hay năng lực tài chính của mình
để bảo đảm cho bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận
bảo lãnh, ở đây là việc bảo đảm việc phát hành giấy tờ có giá dài hạn
của tổ chức tín dụng sẽ được thúc đẩy và tiến hành một cách suôn sẻ về
thủ tục, về số lượng giấy tờ có giá sẽ được mua hết và tổng số vốn sẽ
thu được phải gần nhất với kế hoạch, dự kiến trước thời điểm phát hành,
qua đó bảo đảm quyền lợi cho người mua cũng như hoạt động bình thường
của nền kinh tế. Chính vì vậy mà bảo lãnh phát hành mang bản chất là một
loại bảo lãnh dân sự, vì vậy những thỏa thuận trong hợp đồng bảo lãnh
cũng như những việc thực hiện những thỏa thuận đó phải tuân theo quy
định của Bộ luật dân sự 2005 về Bảo lãnh.
3.2.2 Đối tượng áp dụng
Bảo lãnh phát hành thường áp
dụng đối với hoạt động phát hành giấy tờ có giá dài hạn. Khác với giấy
tờ có giá ngắn hạn, giấy tờ có giá dài hạn có quy mô lớn về tổng mệnh
giá dự kiến phát hành. Và vì quy mô lớn như vậy nên ảnh hưởng của việc
thành công hay thất bại của việc phát hành là rất lớn không chỉ đối với
kế hoạch phát triển của tổ chức tín dụng dự kiến phát hành mà còn cho cả
thị trường tài chính- tiền tệ, sự ổn định của hoạt động ngân hàng.
Trong trường hợp này, bảo lãnh là một phương thức cần thiết để bảo đảm
sự thành công của quá trình phát hành đó.
Cơ sở pháp lý cho hoạt động
bảo lãnh phát hành của tổ chức tín dụng được quy định tại Điều 58 – Luật
các tổ chức tín dụng đã sửa đổi bổ sung 2004 về hoạt động Bảo lãnh ngân hàng.
“1. Tổ chức tín dụng được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người được nhận bảo lãnh.
-
2. Tổ chức tín dụng được bảo lãnh vay, bảo lãnh
thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình
thức bảo lãnh khác.
-
3. Chỉ các ngân hàng được phép thực hiện thanh
toán quốc tế mới được thực hiện bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán và các
hình thức bảo lãnh ngân hàng khác mà người nhận bảo lãnh là tổ chức, cá
nhân nước ngoài.”
Như vậy có thể suy luận hình thức bảo lãnh phát hành chính là một trong những hình thức bảo lãnh khác được quy định tại khoản 2 kể trên.
3.2.3 Tổ chức được phép bảo lãnh phát hành
Theo quy định tại 36 – 07/2008/QĐ – NHNN về Tổ chức bảo lãnh, tổ chức đại lý phát hành giấy tờ có giá, thì:
“1. Các tổ chức bảo lãnh phát hành
giấy tờ có giá, tổ chức đại lý phát hành giấy tờ có giá gồm các tổ chức
tín dụng, công ty chứng khoán được phép hoạt động bảo lãnh phát hành
chứng khoán và các định chế tài chính khác theo quy định tại giấy phép
hoạt động.
2. Các ngân hàng thương mại thực
hiện bảo lãnh phát hành trái phiếu ra công chúng phải được ủy ban chứng
khoán Nhà nước chấp thuận theo điều kiện do Bộ Tài chính quyết định.”
Bên bảo lãnh, theo quy định của Bộ luật
dân sự 2005 là quy định chung cho cả cá nhân và tổ chức. Tuy nhiên hoạt
động bảo lãnh phát hành trong hoạt động ngân hàng không chỉ đòi hỏi bên
bảo lãnh có uy tín mà còn phải có năng lực tài chính và phải có hiểu
biết sâu sắc về hoạt động tài chính ngân hàng để đảm bảo chắc chắn rằng
hoạt động phát hành sẽ được diễn ra bình thường và khi không diễn ra
bình thường thì bằng năng lực tài chính của mình bên bảo lãnh sẽ khắc
phục một phần hoặc toàn bộ những hạn chế của quá trình phát hành và để
đảm bảo chất lượng của giấy tờ có giá phát hành ra. Theo Quyết định
07/2008/QĐ-NHNN thì chỉ có tổ chức tín dụng và các công ty chứng khoán được phép hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán và một số định chế tài chính mới được phép thực hiện hoạt động này.
3.2.4 Về phương thức bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá.
Được quy định cụ thể tại Điều 37 – 07/2008/QĐ – NHNN như sau:
“1. Việc bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá có thể do một hoặc một số tổ chức đồng thời thực hiện.
2. Trường hợp nhiều tổ chức cùng
thực hiện bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá, thực
hiện theo phương thức đồng bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá.
3. Tổ chức bảo lãnh phát hành thực hiện đúng cam kết bảo lãnh phát hành với tổ chức tín dụng.
4. Phí bảo lãnh phát hành do tổ chức tín dụng phát hành thỏa thuận với tổ chức bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá.”
Mối quan hệ pháp lý giữa tổ chức bảo
lãnh phát hành và tổ chức tín dụng phát hành dựa trên hợp đồng bảo lãnh
theo đó tổ chức bảo lãnh phát hành thực hiện đúng cam kết bảo lãnh phát
hành với tổ chức tín dụng theo đúng những quy định trong hợp đồng bảo
lãnh đó về phạm vi bảo lãnh cũng như trách nhiệm và nghĩa vụ của tổ chức
bảo lãnh phát hành từ giai đoạn thủ tục trước khi phát hành đến trong
giai đoạn phát hành.
Việc bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá
có thể do một hoặc một số tổ chức đồng thời thực hiện. Quy định này có
thể xuất phát từ thực tế tổng mệnh giá dự kiến phát hành của tổ chức tín
dụng là quá lớn mà một tổ chức tín dụng không thể bảo lãnh được trong
giới hạn khả năng của mình. Chính vì vậy xuất hiện sự liên kết, nhiều tổ
chức cùng bảo lãnh phát hành cho một tổ chức tín dụng với từng phần bảo
lãnh riêng biệt trong hợp đồng bảo lãnh. Quy định này một lần nữa cho
thấy tầm quan trọng của việc phát hành giấy tờ có giá dài hạn đến thị
trường tài chính tiền tệ và qua đó bảo đảm chắc chắn rằng hoạt động phát
hành diễn ra bình thường tạo sự ổn định cho hoạt động ngân hàng. Các
ngân hàng đồng bảo lãnh sẽ chịu trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ
bảo lãnh, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định bảo
lãnh theo các phần độc lập; bên được bảo lãnh có quyền yêu cầu bất cứ tổ
chức nào trong số những tổ chức bảo lãnh phát hành liên đới phải thực
hiện toàn bộ nghĩa vụ. Khi một người trong số những tổ chức bảo lãnh
phát hành đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thay cho tổ chức tín dụng được
bảo lãnh thì có quyền yêu cầu những tổ chức bảo lãnh còn lại phải thực
hiện phần nghĩa vụ của họ đối với mình.
Giai đoạn cuối cùng của quá trình bảo
lãnh phát hành là thỏa thuận về phí phát hành. Là một hoạt động dịch vụ
của tổ chức tín dụng nên khi tổ chức cung cấp dịch vụ bảo lãnh phát hành
sẽ được hưởng một khoản thù lao gọi là phí phát hành. Phí phát hành do
các bên tự thỏa thuận. Phí phát hành phụ thuộc từng phần bảo lãnh mà tổ
chức bảo lãnh có nghĩa vụ phải thực hiện cũng như vào quy mô của đợt
phát hành, cũng như vào mức độ rủi ro mà tổ chức bảo lãnh phát hành có
thể sẽ phải gánh chịu.
Từ sự phân tích trên có thể thấy rằng,
phương thức phát hành này so vớ phát hành trực tiếp sẽ tốn kém hơn rất
nhiều nhưng vì ảnh hưởng to lớn của việc phát hành đến thị trường tài
chính tiền tệ mà việc được bảo lãnh phát hành bởi một hay nhiều tổ chức
bảo lãnh phát hành sẽ tạo ra sự an toàn cũng như chất lượng của giấy tờ
có giá dự kiến phát hành tránh trường hợp dự kiến phát hành thì lớn
nhưng khi phát hành số vốn huy động được lại thấp hơn rất nhiều.
3.3 Phương thức đại lý phát hành.
3.3.1 Khái niệm
Theo quy định tại Điều 4.20 – 07/2008/QĐ – NHNN thì “Đại
lý phát hành là việc tổ chức đại lý phát hành thực hiện việc bán giấy
tờ có giá cho người mua giấy tờ có giá theo sự ủy quyền của tổ chức tín
dụng phát hành.”
Định nghĩa trên có một số điểm cần lưu ý. Thứ nhất, cần phân biệt đại lý phát hành – thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung 2004 (sẽ đề cập ở dưới) và Quyết định này với đại lý mua bán hàng hóa – thành lập và hoạt động theo Luật thương mại 2005. Chủ thể tiến hành hoạt động đại lý mua bán hàng hóa phải
là thương nhân kinh doanh dịch vụ đại lý, coi đó là nghề nghiệp chính,
thường xuyên của mình trong khi đó chủ thể tiến hành hoạt động đại lý phát hành là các tổ chức tín dụng (sẽ đề cập ở dưới) không phải kinh doanh dịch vụ đại lý phát hành mà hoạt động chính, thường xuyên là kinh doanh tiền tệ. Thứ hai, phân
biệt tổ chức phát hành và tổ chức trực tiếp bán giấy tờ có giá cho
người mua. Nếu như phát hành theo phương thức bảo lãnh phát hành thì tổ
chức tín dụng phát hành sẽ được hỗ trợ, được tạo điều kiện thuận lợi,
được đảm bảo quá trình phát hành của mình sẽ thành công còn hoạt động
phát hành, bán giấy tờ có giá đó là do chính tổ chức tín dụng phát hành
thực hiện thì hình thức đại lý phát hành lại ngược lại. Dưới sự ủy quyền
của tổ chức tín dụng phát hành, tổ chức đại lý phát hành mới chính là
người trực tiếp bán, phân phối giấy tờ có giá cho người mua. Thứ ba, việc
bán giấy tờ có giá của đại lý phát hành được thực hiện thông qua sự ủy
quyền của tổ chức tín dụng phát hành, cụ thể là thông qua hợp đồng ủy
quyền. Tổ chức đại lý phát hành sẽ thực hiện việc bán của mình nhân danh
bên ủy quyền, vì lợi ích của bên ủy quyền và trong phạm vi được ủy
quyền. Quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh trên cơ sở những thỏa
thuận trong hợp đồng ủy quyền. Việc thực hiện những thỏa thuận này tuân
theo quy định về hợp đồng ủy quyền trong Bộ luật dân sự 2005 về Hợp đồng
ủy quyền.
3.3.2 Tổ chức được thực hiện hoạt động đại lý phát hành
Được quy định tại Điều 36.1 – 07/2008/QĐ – NHNN “Các
tổ chức bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá, tổ chức đại lý phát hành
giấy tờ có giá gồm các tổ chức tín dụng công ty chứng khoán được phép
hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán và các định chế tài chính khác
theo quy định tại giấy phép hoạt động.”
Lý giải tương tự
như bảo lãnh phát hành ở trên thì chỉ có tổ chức tín dụng, công ty chứng
khoán được phép hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán và một số định
chế tài chính khác. Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng ở đây, yếu tố tiềm
lực tài chính và uy tín không hẳn là đóng vai trò chủ chốt mà chỉ cần
hiểu biết về hoạt động tín dụng, hoạt động huy động vốn là có thể thực
hiện được việc bán giấy tờ có giá. Như vậy, đối với bảo lãnh phát hành
đòi hỏi ngân hàng lớn thì tổ chức đại lý phát hành có thể là bất kỳ tổ
chức tín dụng nào với quy mô và đặc điểm nào.
3.3.3 Cơ sở pháp lý của tổ chức đại lý phát hành
Cơ
sở pháp lý cho hoạt động đại lý phát hành của tổ chức đại lý phát hành
được quy định tại Điều 72, Mục 4, Chương II – hoạt động của tổ chức tín
dụng, Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung 2004 về Nghiệp vụ ủy
thác và đại lý: “Tổ chức tín dụng được quyền ủy thác, nhận ủy thác, làm
đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc
quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân theo hợp đồng.”
3.3.4 Nội dung phương thức đại lý phát hành giấy tờ có giá
Điều 38 – 07/2008/QĐ – NHNN về phương thức đại lý phát hành giấy tờ có giá quy định như sau:
-
Tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá có thể ủy quyền cho
một hoặc một số tổ chức cùng làm nhiệm vụ đại lý phát hành giấy tờ có
giá.
-
Tổ chức đại lý phát hành thực hiện bán giấy tờ có giá cho người
mua giấy tờ có giá theo đúng cam kết với tổ chức tín dụng phát hành.
Trường hợp không bán hết, tổ chức đại lý phát hành được trả lại cho tổ
chức tín dụng phát hành số giấy tờ còn lại.
-
Phí đại lý phát hành giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành thỏa thuận với tổ chức đại lý phát hành giấy tờ có giá.
Theo như quy định này thì tổ chức tín
dụng phát hành giấy tờ có giá có thể ủy quyền cho một hoặc nhiều đại lý
phát hành giấy tờ có giá dựa vào phạm vi ủy quyền về số lượng và thời
hạn v.v…không nhằm mục đích gì khác là mở rộng cơ hội tiếp cận đến với
việc mua giấy tờ có giá của người mua. Thông qua nhiều đại lý trên phạm
vi địa lý rộng khắp.
Tổ chức đại lý phát hành sau
khi ký kết hợp đồng ủy quyền với tổ chức tín dụng phát hành phải thực
hiện việc bán giấy tờ có giá theo đúng cam kết với tổ chức tín dụng phát
hành về số lượng, về thời hạn v.v…Tuy nhiên điều đặc biệt là trong
trường hợp không bán hết, tổ chức đại lý phát hành được trả lại cho tổ
chức tín dụng phát hành số giấy tờ còn lại. Quyền này của tổ chức đại lý
phát hành nói lên tính ràng buộc trách nhiệm không cao với số giấy tờ
có giá của tổ chức đại lý phát hành đối với tổ chức tín dụng phát hành.
Đây chính là tính lỏng lẻo của phương thức phát hành này và vì tính lỏng
lẻo này nên phương thức này thường chỉ áp dụng đối với phát hành giấy
tờ có giá ngắn hạn. Số giấy tờ có giá còn lại này, nếu theo phương thức
bảo lãnh phát hành, sẽ được bên bảo lãnh phát hành mua lại.
Cũng như bảo lãnh phát hành,
đại lý phát hành cũng là một dịch vụ mà các tổ chức tín dụng cung cấp.
Và theo hợp đồng ủy quyền, họ được hưởng thù lao ủy quyền, hay hưởng thù
lao đại lý, mức thù lao đại lý này phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa tổ
chức đại lý phát hành và tổ chức tín dụng phát hành có thể dựa trên tiêu
chí về số lượng giấy tờ có giá bán được, về thời hạn bán giấy tờ có
giá…
3.4 Phương thức đấu thầu giấy tờ có giá
3.4.1 Một số khái niệm
Theo quy định tại Điều 4.22 – 07/2008/QĐ – NHNN thì “Đấu
thầu giấy tờ có giá là việc lựa chọn các tổ chức, cá nhân tham gia dự
thầu đáp ứng đủ yêu cầu của tổ chức tín dụng phát hành.”(1)
Theo quy định tại Điều 4.23 – 07/2008/QĐ – NHNN thì “Đấu
thầu khối lượng là việc xét thầu trên cơ sở khối lượng dự thầu của
người mua giấy tờ có giá theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng phát hành
thông báo trước.”(2)
Theo quy định tại Điều 4.24 – 07/2008/QĐ – NHNN thì “Đấu thầu lãi suất là việc xét thầu trên cơ sở lãi suất dự thầu của người mua giấy tờ có giá.”(3)
Khái niệm (1) đưa
ra định nghĩa chung nhất về đấu thầu giấy tờ có giá – lựa chọn người
tham gia thầu đáp ứng đủ yêu cầu mà không nêu ra đó là những yêu cầu gì.
Đơn giản là bán giấy tờ có cho người mua thông qua phương thức đấu
thầu. Khái niệm (2) và (3) đưa ra những mốc chuẩn để lựa chọn người tham
gia thầu hay nói cách khác chính là cụ thể những yêu cầu đòi hỏi của tổ
chức tín dụng phát hành trong khái niệm (1).
Liên quan đến phương thức
phát hành này, cần phân biệt giữa đấu thầu hàng hóa, dịch vụ theo Luật
thương mại 2005 và phương thức đấu thầu giấy tờ có giá. Theo đó, (loại
trừ những quy định về thủ tục liên quan đến đầu thầu, cũng như mục đích
khác nhau của việc tổ chức đấu thầu) đấu thầu hàng hóa, dịch vụ theo
Luật thương mại 2005 là đấu thầu mua hàng hóa, dịch vụ của một hoặc
nhiều nhà thầu đáp ứng tốt nhất những điều kiện của bên mời thầu trong
số những bên tham gia dự thầu. Nói cách khác đây là đấu thầu mua, bên
mời thầu lựa chọn người bán – người mua tổ chức đấu thầu để lựa chọn
người bán. Trong khi đó, đấu thầu giấy tờ có giá theo 07/2008/QĐ – NHNN
là đấu thầu bán giấy tờ có giá, trong đó tổ chức tín dụng phát hành lựa
chọn bên tham gia dự thầu đáp ứng tốt nhất. Nói cách khác đây là đấu
thầu bán – người bán tổ chức đấu thầu để tìm người mua.
Phương thức đấu thầu phát
hành giấy tờ có giá cũng gần với đấu giá hàng hóa. Vì đấu giá suy cho
cùng cũng là cách thức để tìm được người mua trả giá tốt nhất. Tuy
nhiên, vẫn có sự khác biệt giữa hai hình thức này về số lượng người cuối
cùng được sở hữu hàng hóa cũng như về mốc chuẩn để lựa chọn người thắng
cuộc. Đấu giá, mốc chuẩn duy nhất là giá, không gì có thể thay thế và
người trả giá cao nhất sẽ là người duy nhất mua được hàng hóa. Đấu thầu
phát hành giấy tờ có giá, mốc chuẩn là lãi suất hoặc khối lượng dự thầu
và người mua được giấy tờ có giá ít khi và không thể chỉ là một người
duy nhất. Còn giá của giấy tờ có giá chính là bất cứ mệnh giá nào. Vì tổ
chức tín dụng luôn muốn đáp ứng mọi mệnh giá cho phép có thể cho khách
hàng.
3.4.2 Thực hiện việc đấu thầu giấy tờ có giá
Theo quy định tại Điều 39 – 07/2008/QĐ – NHNN về phương thức đấu thầu giấy tờ có giá thì:
-
1. Tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá được lựa chọn các phương thức đấu thầu sau:
a) Đấu thầu trực tiếp tại tổ chức tín dụng phát hánh giấy tờ có giá.
b) Đấu thầu thông qua các tổ chức tài chính trung gian.
c) Đấu thầu thông qua Trung tâm giao dịch chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán.
-
2. Tổ chức tín dụng tự quyết định hình thức đấu
thầu giấy tờ có giá và xây dựng quy trình đấu thầu cụ thể cho phù hợp
với đặc điểm, điều kiện kinh doanh của đơn vị mình và các văn bản pháp
luật khác có liên quan.
-
3. Việc tổ chức đấu thầu phải đảm bảo nguyên tắc
bí mật về thông tin của các tổ chức, cá nhân tham gia dự thầu và bảo đảm
sự bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân tham gia đấu thầu.
-
4. Phí đấu thầu giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành thỏa thuận với tổ chức được ủy quyền tổ chức đấu thầu giấy tờ có giá.
Điều trên chỉ quy định về mặt thủ tục
như các phương thức đấu thầu, về hình thức đấu thầu, về nguyên tắc bảo
đảm bí mật thông tin cũng như về phí đầu thầu mà tổ chức tín dụng phải
chi trả trong trường hợp không đấu thầu tại tổ chức tín dụng phát hành
mà không quy định cách thức xác định khi nào tổ chức, cá nhân được coi
là đã trúng thầu.
Trở lại phần khái niệm ở trên, chúng ta
thấy có 2 phương thức lựa chọn người tham gia thầu, tức là người được
quyền mua giấy tờ có giá, đó là dựa vào lãi suất hoặc khối lượng dự thầu. Trong
cả hai trường hợp trên, tổng mệnh giá là yếu tố luôn luôn được biết
trước, vì đây chính là con số mà tổ chức tín dụng phát hành được Ngân
hàng Nhà nước cho phép. Trong trường hợp xét thầu dựa vào khối lượng, phương
án này nói lên rằng tổ chức tín dụng sẽ xét thầu dựa trên khối lượng
giấy tờ có giá mà người tham gia thầu đặt mua với mức lãi suất cố định
đã được thông báo trước. Có 2 trường hợp có thể xảy ra, thứ nhất, có
phải người tham gia dự thầu nào bỏ thầu với số lượng nhiều nhất sẽ được
mua tất tổng mệnh giá dự kiến phát hành, nghĩa là khối lượng trúng thầu
đúng bằng với tổng mệnh giá của giấy tờ có giá được phép phát hành của
tổ chức tín dụng trong 1 đợt phát hành. Như vậy, chỉ có một người trúng
thầu duy nhất. Trên lý thuyết thì vẫn có thể xảy ra, nhưng trên thực tế
thì chưa bao giờ xảy ra một người trúng thầu duy nhất, đơn giản là vì
tổng mệnh giá quá lớn và vì nếu mua tất thì độ rủi ro sẽ cao. Chính vì
vậy sẽ xuất hiện khả năng thứ 2, số người được trúng thầu sẽ
được chia đều cho những người ở tốp đầu. Số lượng người trúng thầu ở tốp
đầu này là bao nhiêu người sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ số lượng họ đặt mua
tương ứng tính từ người đặt mua cao nhất trở xuống sao cho tổng mệnh giá
được phát hành sẽ được phát hành hết ở người trúng thầu cuối cùng theo
thứ tự ưu tiên từ trên xuống. Nói cách khác trong trường hợp này sẽ có
nhiều người trúng thầu, vấn đề là số lượng mà họ bỏ trúng để được quyền
mua.
Tương tự, phương thức đấu thầu trên cơ sở lãi suất, cũng
xuất hiện hai tình huống như trên, nhưng không cho ta biết số lượng mà
những người trúng thầu lãi suất sẽ mua là bao nhiêu. Trúng thầu lãi suất
là điều kiện ban đầu tạo cho người trúng thầu có quyền thỏa thuận mua
với số lượng bao nhiêu ở mức lãi suất đã trúng thầu. Như vậy, cũng xuất
hiện hai trường hợp, thứ nhất, người trúng thầu lãi suất và mua
tất cả tổng mệnh giá của đợt phát hành với mức lãi suất chúng thầu đó.
Trường hợp này chỉ xảy ra trên lý thuyết, khó xảy ra trên thực tế.
Trường hợp thứ 2, sẽ có một số lượng những người trúng thầu lãi
suất, sao cho tổng số lượng giấy tờ có già mà những người trúng thầu
lãi suất này sẽ mua ở mức lãi suất tương ứng mà họ đã trúng thầu phải
bằng tổng mệnh giá. Và đương nhiên là theo thứ tự ưu tiên từ mức lãi
suất cao nhất đến mức lãi suất thấp nhất trong nhóm những người trúng
thầu này.
3.5. Lãi suất và thanh toán gốc và lãi của giấy tờ có giá.
Lãi suất chính là chi phí mà một người
đi vay phải trả cho người cho vay để được sử dụng một khoản vốn nhất
định. Trong trường hợp này, ngân hàng là người đi vay, là con nợ tuy
nhiên có một điều đặc biệt là chính tổ chức tín dụng – với tư cách là
người đi vay thông qua phát hành giấy tờ có giá sẽ tính toán và đặt ra
mức lãi suất chứ không phải là người cho vay được phép ấn định lãi suất
cho vay. Sự đặc biệt này được quy định tại Điều 11 của 07/2008/QĐ – NHNN
“Lãi suất giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành quy định phù
hợp với lãi suất thị trường, đảm bảo hiệu quả kinh doanh và an toàn
hoạt động cho tổ chức tín dụng.”
Trừ trường hợp đối với giấy tờ có giá
ngắn hạn có kỳ hạn dưới 1 năm – khoảng thời gian mà mức lãi suất ít chịu
biến động của thị trường, tình hình kinh tế và theo đó mức lãi suất đối
với kỳ hạn này thường là lãi suất cố định (– ngay khi mua giấy tờ có
giá ngắn hạn người mua đã có thể tính toán được khoản tiền lãi mà mình
sẽ được hưởng khi đến hạn thanh toán trong tương lai nếu mọi chuyện diễn
ra bình thường), người mua chấp nhận và mua giấy tờ có giá mà không có
thỏa thuận về lãi suất. Giấy tờ có giá dài hạn thì trái lại mức lãi suất
có thể chịu sự tác động từ sự biến động của thị trường tiền tệ, sự biến
động của nền kinh tế – ví dụ lạm phát chẳng hạn. Và như vậy một sự thỏa
thuận về lãi suất giữa người mua và tổ chức tín dụng phát hành là cần
thiết. Cụ thể là thỏa thuận về “Lãi suất có điều chỉnh theo chu kỳ –
là lãi suất thay đổi theo định kỳ theo thị trường do tổ chức tín dụng
thỏa thuận với người mua khi phát hành – Điều 4.11 – 07/2008/QĐ – NHNN”.
Sự biến động của thị trường, của nền kinh tế có thể diễn ra theo chiều
hướng tích cực và tiêu cực, nghĩa là sẽ làm mức lãi suất tăng lên hoặc
giảm đi. Điều này tương ứng với sự gia tăng hay giảm đi về lợi ích của
một trong 2 bên tổ chức tín dụng phát hành và người mua. Một sự thỏa
thuận về lãi suất giữa 2 bên sẽ hạn chế và chia sẻ bớt rủi ro từ thị
trường và qua đó bảo vệ lợi ích của các bên tham gia một cách hiệu quả
hơn.
Một trong những nguyên tắc cơ bản của
hoạt động ngân hàng là khi giấy tờ có giá đến hạn thanh toán được ghi
trên giấy tờ có giá thì tổ chức tín dụng đã phát hành giấy tờ có giá đó
sẽ tiến hành thanh toán cả gốc và lãi cho người mua, hay khi đến hạn
than toán người đi vay cũng phải thanh toán cả vốn gốc lẫn lãi cho tổ
chức tín dụng. Và tương ứng với 2 loại lãi suất kể trên, khi đến hạn
thanh toán, tổ chức tín dụng cũng có 2 cách thanh toán tiền lãi cho
người mua là trả lãi một lần khi đến hạn thanh toán hoặc trả lãi theo định kỳ. Theo quy định tại Điều 4.13 thì “Trả
lãi một lần khi đến hạn thanh toán là việc thanh toán tiền lãi một lần
khi đến hạn thanh toán cùng với tiền gốc (mệnh giá).” Đây chính là
hình thức trả lãi phổ biến nhất áp dụng cho lãi suất cố định đối với
giấy tờ có giá ngắn hạn khi mà mọi hoạt động của ngân hàng và diễn biến
của nền kinh tế diễn ra bình thường. Trong khi đó, “Trả lãi theo
định kỳ – là việc trả lãi căn cứ vào phiếu trả lãi theo định kỳ 6 tháng
hoặc 1 năm đối với các giấy tờ có giá dài hạn – Điều 4.14 – 07/2008/QĐ –
NHNN.” Như trên đã đề cập, hình thức trả lãi này áp dụng cho lãi
suất đối với giấy tờ có giá dài hạn, có sự thỏa thuận giữa tổ chức tín
dụng phát hành và người mua về lãi suất. Tuy nhiên thực tế hoạt động
ngân hàng còn xuất hiện một phương thức trả lãi khác nữa – trả lãi trước, được quy định tại Điều 4.12 – 07/2008/QĐ –NHNN: “Trả
lãi trước là việc bán giấy tờ có giá thấp hơn mệnh giá và người mua
được thanh toán số tiền bằng mệnh giá khi đến hạn thanh toán.” Phương
thức trả lãi trước không phải được thực hiện ở bất kỳ một thời điểm nào
trước ngày thanh toán mà được thực hiện ngay ở ngày tổ chức tín dụng
phát hành giấy tờ có giá cho người mua bằng cách bán giấy tờ có giá thấp hơn mệnh giá cho
người mua. Mức thấp hơn mà người mua này được hưởng so với những người
mua bình thường khác chính bằng tổng số tiền mà anh ta đáng lẽ sẽ nhận
được khi đến hạn thanh toán với mức lãi suất cố định đã được quy định từ
trước. Và một điều đương nhiên là khi đến hạn thanh toán người mua này
sẽ chỉ được thanh toán số tiền bằng đúng mệnh giá thể hiện trên giấy tờ
có giá loại không bao gồm lãi suất. Đi sâu vào vấn đề chúng ta thấy
rằng, mục đích của tổ chức tín dụng khi phát hành giấy tờ có giá là để
huy động vốn và căn cứ vào thực tiễn của tổ chức tín dụng, số vốn huy
động này có thể nằm trong kế hoạch để sử dụng vào hoạt động cho vay đầu
tư trong tương lai dù ngắn hạn hay dài hạn. Và hoạt động này chưa biết
sẽ đem lời hay hàm chứa rủi ro cho tổ chức tín dụng. Thế nhưng ngay từ
giai đoạn huy động khi chưa biết đồng vốn sẽ sử dụng hiệu quả ra sao mà
ngân hàng đã phải trả lãi trước. Việc trả trước này có thể ảnh hưởng đến
tính an toàn của tổ chức tín dụng. Chính vì vậy Điều 13.4 – 07/2008/QĐ –NHNN, quy định: “Việc
thanh toán trước hạn giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng tự quyết định
phù hợp với quy định về quản trị rủi ro và đảm bảo an toàn hoạt động của
tổ chức tín dụng.”
Một vấn đề nhỏ cần chú ý là
địa điểm thanh toán giấy tờ có giá. Đối với giấy tờ có giá cho dù là
ngắn hạn – kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn hay giấy tờ
có giá dài hạn – trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn đều phải thể
hiện địa điểm thanh toán giấy tờ có giá. Và thông thường là bất kỳ chi
nhánh nào của tổ chức tín dụng trên cả nước.
4. Phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn, giấy tờ có giá dài hạn, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền:
Việc phát hành giấy tờ có giá là giải
pháp huy động vốn thuận lợi vốn bên cạnh hoạt động nhận tiền gửi, vay
vốn giữa các tổ chức tín dụng và vay vốn của Ngân hàng Nhà Nước của các
tổ chức tín dụng mà các tổ chức tín dụng muốn tranh thủ và thu hút lượng
tiền nhàn rỗi từ công chúng cho các hoạt động của mình bên cạnh vốn
điều lệ theo quy định của pháp luật khi mới thành lập. Bởi lẽ, vốn điều
lệ như đã nói ở trên chỉ đủ để đáp ứng cho trụ sở, văn phòng, máy móc
thiết bị chứ chưa đủ vốn để có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh.Vì
vậy, họ phải huy động vốn từ khách hàng mà ở đây chỉ đề cập đến việc
phát hành giấy tờ có giá. Nghiệp vụ này được thực hiện thông qua việc
các tổ chức tín dụng phát hành ra công chúng giấy tờ có giá là chứng
nhận của tổ chức tín dụng trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản
tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản
cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua nên có thể kết luận đây
là một hành vi đi vay tiền của khách hàng với cam kết hoàn trả số tiền
đó kèm theo một khoản lãi vào ngày đáo hạn. Do đó, thực chất giấy tờ có
giá không là đối tượng của giao dịch hai bên mà chính là khoản tiền vốn
do khách hàng chấp nhận chuyển quyền sở hữu trực tiếp cho tổ chức tín
dụng với điều kiện tiên quyết tổ chức tín dụng phải hoàn trả cho họ sau
một thời hạn nhất định cộng với số tiền lãi phát sinh.Tuy nhiên, giấy tờ
có giá được coi là hình thức pháp lý và đồng thời là chứng cứ chứng
minh quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên.
Việc phát hành giấy tờ có giá được thực
hiện thông qua hợp đồng cho vay có thời hạn xác định nên về nguyên tắc
khách hàng cho vay không thể rút vốn về trước kỳ hạn như trong trường
hợp họ gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn tại tổ chức tín dụng bằng cách chịu
lãi suất phạt với tổ chức tín dụng nhận tiền gửi. Do vậy, nếu muốn thu
hồi vốn trước thời hạn, cách duy nhất là người sỡ hữu giấy tờ có giá ký
hợp đồng chuyển nhượng cho người khác, chẳng hạn có thể “bán” cho ngân
hàng thương mại theo phương thức chiết khấu hay bán cho các tổ chức cá
nhân khác theo phương thức thông thường trên thị trường tiền tệ hoặc thị
trường chứng khoán. Cuối cùng, việc phát hành giấy tờ có giá cần phải
được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ theo quy định của pháp luật.
Như chúng ta biết việc phát hành giấy tờ
có giá có sự phân biệt thành phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn và phát
hành giấy tờ có giá dài hạn này nhằm chủ yếu xác đinh cơ chế và lưu
thông chúng như thế nào sau khi đã được phát hành trên thị trường bởi tổ
chức tín dụng. Do đó, sau đây nhóm chúng tôi sẽ đi vào so sánh việc
phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn và phát hành giấy tờ có giá dài hạn
theo quy định của pháp luật
Sự khác biệt trước hết là quy định về mệnh giá mà cụ thể tại Điều 17 và Điều 20 của Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN:
“ Điều 17. Mệnh giá của giấy tờ có giá ngắn hạn
Mệnh giá của giấy tờ có giá ngắn hạn được in sẵn hoặc theo thỏa thuận của tổ chức tín dụng phát hành đối với người mua.
Điều 20. Mệnh giá của giấy tờ có giá dài hạn
1. Mệnh giá của giấy tờ có giá dài
hạn bằng đồng Việt Nam phát hành theo hình thức chứng chỉ tối thiểu là
một trăm ngàn đồng. Các mệnh giá lớn hơn mệnh giá tối thiểu phải là bội
số của mệnh giá tối thiểu.
2. Mệnh giá của giấy tờ có giá dài
hạn bằng ngoại tệ phát hành theo hình thức chứng chỉ tối thiểu là một
trăm đô la Mỹ hoặc ngoại tệ khác tương đương. Các mệnh giá lớn hơn mệnh
giá tối thiểu phải là bội số của mệnh giá tối thiểu.
3. Mệnh giá của giấy tờ có giá dài hạn là trái phiếu phát hành theo hình thức chứng chỉ được in sẵn trên giấy tờ có giá.
4. Mệnh giá của giấy tờ có giá dài
hạn là chứng chỉ tiền gửi dài hạn phát hành theo hình thức chứng chỉ
được in sẵn hoặc theo thỏa thuận của tổ chức tín dụng phát hành với
người mua.
5. Mệnh giá của giấy tờ có giá dài hạn phát hành theo hình thức ghi sổ do tổ chức tín dụng phát hành thỏa thuận với người mua.”
Thứ hai là điều kiện phát hành:.
Tổ chức tín dụng muốn được huy động vốn bằng phát hành các giấy tờ có giá phải thỏa mãn những điều kiện cụ thể sau:
- Theo Điều 2 Quyết định 07/2008/QĐ-NHNN
đối với hoạt động phát hành giấy tờ có giá tổ chức tín dụng được coi là
đối tượng phát hành phải là các tổ chức tín dụng được thành lập, hoạt
động theo Luật Các tổ chức tín dụng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Các tổ chức tín dụng và đáp ứng các điều kiện quy định tại Quy
chế này, bao gồm:
+Các tổ chức tín dụng Nhà nước.
+Các tổ chức tín dụng cổ phần
+Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương
+Các tổ chức tín dụng liên doanh.
+Các tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam.
+Riêng công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính,
loại giấy tờ có giá và thời hạn giấy tờ có giá được phép huy động thực
hiện theo quy định hiện hành về tổ chức và hoạt động của công ty tài
chính, công ty cho thuê tài chính. Cụ thể là theo Điều 1 khỏan 6 Nghị
định số 81/2008/NĐ-CP: Công ty Tài chính đuợc phép phát
hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá khác có kỳ hạn từ
một năm trở lên để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và
ngoài nước theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đối với Công
ty Tài chính chuyên ngành hoạt động trong các lĩnh vực tín dụng tiêu
dùng, lĩnh vực thẻ không thực hiện nghiệp vụ huy động vốn nhận tiền gửi
có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy định của Ngân
hàng Nhà nước.Và đối với công ty cho thuê tài chính theo khỏan 7 Điều 1
Nghị định số 95/2008, công ty cho thuê tài chính được phát hành trái
phiếu, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá khác có kỳ hạn từ một năm
trở lên để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước
theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
– Tuân thủ đầy đủ các hạn
chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động theo quy định của Luật Các tổ
chức tín dụng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức
tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước mà chúng ta có thể đối
chiếu tại Điều 77, Điều 78, Điều 79, Điều 80, Điều 81, Điều 82 và hướng
dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
“ Điều 77. Những trường hợp không được cho vay
1. Tổ chức tín dụng không được cho vay đối với những người sau đây:
A) Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tín dụng;
B) Người thẩm định, xét duyệt cho vay;
C) Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành
viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó
Tổng giám đốc (Phó Giám đốc).
2. Các quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với các tổ chức tín dụng hợp tác.
3. Tổ chức tín dụng không được chấp
nhận bảo lãnh của các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này để làm cơ
sở cho việc cấp tín dụng đối với khách hàng.
Điều 78. Hạn chế tín dụng
1. Tổ chức tín dụng không được cấp
tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng với những điều kiện ưu đãi cho
những đối tượng sau đây:
A) Tổ chức kiểm toán, Kiểm toán viên đang kiểm toán tại tổ chức tín dụng; Kế toán trưởng, Thanh tra viên;
B) Các cổ đông lớn của tổ chức tín dụng;
C) Doanh nghiệp có một trong những
đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật này sở hữu trên 10% vốn
Điều lệ của doanh nghiệp đó.
2. Tổng dư nợ cho vay đối với các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này không được vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng.
Điều 79. Giới hạn cho vay, bảo lãnh, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, cho thuê tài chính
1. Giới hạn cho vay đối với một khách hàng được quy định như sau:
A) Tổng dư nợ cho vay đối với một
khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trừ
trường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn vốn uỷ thác của
Chính phủ, của các tổ chức, cá nhân hoặc trường hợp khách hàng vay là tổ
chức tín dụng khác;
B) Trường hợp nhu cầu vốn của một
khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng hoặc khách hàng
có nhu cầu huy động vốn từ nhiều nguồn thì các tổ chức tín dụng được cho
vay hợp vốn theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước;
C) Trong trường hợp đặc biệt, để
thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội mà khả năng hợp vốn của các tổ chức
tín dụng chưa đáp ứng được yêu cầu vay vốn của một khách hàng thì Thủ
tướng Chính phủ có thể quyết định mức cho vay tối đa đối với từng trường
hợp cụ thể.
2. Mức bảo lãnh, chiết khấu thương
phiếu và các giấy tờ có giá khác đối với một khách hàng không được vượt
quá tỷ lệ so với vốn tự có của tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước quy định.
3. Mức cho thuê tài chính đối với một khách hàng của tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Điều 80. Giới hạn góp vốn, mua cổ phần
Mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức
tín dụng trong một doanh nghiệp, tổng mức góp vốn, mua cổ phần của tổ
chức tín dụng trong tất cả các doanh nghiệp không được vượt quá mức tối
đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định đối với từng loại hình tổ
chức tín dụng.
Điều 81. Tỷ lệ bảo đảm an toàn
1. Tổ chức tín dụng phải duy trì các tỷ lệ bảo đảm an toàn sau đây:
A) Khả năng chi trả được xác định
bằng tỷ lệ giữa tài sản “Có” có thể thanh toán ngay so với các loại tài
sản “Nợ” phải thanh toán tại một thời điểm nhất định của tổ chức tín
dụng;
B) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được
xác định bằng tỷ lệ giữa vốn tự có so với tài sản “Có”, kể cả các cam
kết ngoại bảng được điều chỉnh theo mức độ rủi ro;
C) Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn.
2. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định các tỷ lệ nói tại khoản 1 Điều này đối với từng loại hình tổ chức tín dụng.
3. Tổng số vốn của một tổ chức tín
dụng đầu tư vào tổ chức tín dụng khác dưới hình thức góp vốn, mua cổ
phần phải trừ khỏi vốn tự có khi tính toán các tỷ lệ an toàn.
Điều 82. Dự phòng rủi ro
1. Tổ chức tín dụng phải dự phòng
rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Khoản dự phòng rủi ro này phải được
hạch toán vào chi phí hoạt động.
2. Việc phân loại tài sản “Có”, mức
trích, phương pháp lập khoản dự phòng và việc sử dụng khoản dự phòng để
xử lý các rủi ro trong hoạt động ngân hàng do Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước quy định sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ tài chính.
3. Trong trường hợp tổ chức tín dụng
thu hồi được vốn đã được xử lý bằng khoản dự phòng rủi ro, số tiền thu
hồi này được coi là doanh thu của tổ chức tín dụng.”
Bên cạnh các quy định chung trên thì riêng đối với các tổ chức tín dụng được phát hành giấy tờ có giá dài hạn phải đáp ứng thêm các điều kiện sau theo Điều 22 Quyết định 07/2008/QĐ-NHNN:
+ Có thời gian hoạt động tối thiểu là một năm kể từ ngày tổ chức tín dụng chính thức đi vào hoạt động.
+ Tổng lợi nhuận trước thuế so vốn chủ
sở hữu của năm liền kề trước năm phát hành phải đạt từ 10% trở lên và
tính đến thời điểm gần nhất phải có lãi.
+ Được sự chấp thuận của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước về việc phát hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài
chính của tổ chức tín dụng.
Cuối cùng là phần trình tự, thủ tục để phát hành giấy tờ có giá mà tổ chức tín dụng phải tuân theo.
Theo điều 19 Quyết định 07/2008/QĐ-NHNN tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn chủ
động tổ chức các đợt phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn trong năm. Trước
thời điểm phát hành từng đợt ít nhất là 3 ngày làm việc, tổ chức tín
dụng phải gửi Thông báo phát hành của đợt phát hành dự kiến về Ngân hàng
Nhà nước (Vụ Chính sách tiền tệ). Thông báo phát hành bao gồm các nội
dung sau:
- Tên tổ chức tín dụng phát hành
- Tên gọi giấy tờ có giá
- Tổng mệnh giá của đợt phát hành.
- Phương thức phát hành
- Hình thức phát hành
- Địa điểm phát hành.
- Thời hạn giấy tờ có giá
- Thời hạn phát hành
- Lãi suất;Phương thức trả lãi, Thời điểm, địa điểm trả lãi.
- Địa điểm thanh toán tiền gốc giấy tờ có giá
- Các nội dung thông báo khác của tổ chức tín dụng phát hành.
Riêng đối với các tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá dài hạn phải tuân thủ các trình tự và thủ tục sau:
+ Theo điều 23 Quyết định
07/2008/QĐ-NHNN các tổ chức tín dụng muốn phát hành giấy tờ có giá dài
hạn phải lập hồ sơ đề nghị phát hành giấy tờ có giá dài hạn gồm:
*Đề nghị phát hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài chính.
*Phương án phát hành giấy tờ có giá
dài hạn của năm tài chính, trong đó nêu rõ mục đích phát hành, phương án
sử dụng vốn thu được từ phát hành giấy tờ có giá dài hạn; Tổng mệnh giá
phát hành, mệnh giá, tên gọi của giấy tờ có giá, đồng tiền phát hành,
địa điểm phát hành, phương thức phát hành, hình thức phát hành, thời
hạn, lãi suất, phương thức trả lãi, địa điểm trả gốc và lãi, người mua
giấy tờ có giá, số lượng và thời gian dự kiến của từng đợt phát hành;
Các điều kiện và điều khoản về quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng và
người mua. Phương án phát hành giấy tờ có giá dài hạn phải được Hội
đồng quản trị thông qua.
*Phương án phát hành trái phiếu để bổ
sung vốn tự có của tổ chức tín dụng thuộc sở hữu nhà nước phải được Bộ
Tài chính chấp thuận.
*Các báo cáo tài chính của hai năm liên
tục gần nhất được kiểm toán và tính đến thời điểm có đơn đề nghị phát
hành. Các tổ chức tín dụng có thời gian hoạt động dưới 2 năm gửi các báo
cáo tài chính từ khi bắt đầu hoạt động đến thời điểm có đơn đề nghị
phát hành. Nội dung của các báo cáo tài chính thực hiện theo quy định
hiện hành của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về chế độ báo cáo đối với các
tổ chức tín dụng. Trường hợp nộp hồ sơ phát hành trong Quý I hàng năm,
tổ chức tín dụng có thể nộp báo cáo tài chính của năm trước đó chưa được
kiểm toán và phải nộp các báo cáo tài chính được kiểm toán ngay sau khi
hoàn tất kiểm toán.
*Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có).
*Kế hoạch kinh doanh, kế hoạch nguồn vốn và sử dụng vốn của năm tài chính.
*Điều lệ và Giấy phép hoạt động (đối với tổ chức tín dụng phát hành lần đầu)
*Các thay đổi về bộ máy tổ chức và các thay đổi khác (nếu có).
+ Sau đó thống đốc Ngân hàng Nhà nước ra
quyết định về việc phát hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài chính
của tổ chức tín dụng. Thời hạn xem xét và ra quyết định về việc phát
hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài chính của tổ chức tín dụng không
quá 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị phát
hành của tổ chức tín dụng. (Điều 24 Quyết định 07/2008/QĐ-NHNN ).
+ Theo điều 25 Quyết định
07/2008/QĐ-NHNN, sau khi có quyết định chấp thuận cho phát hành của
người có thẩm quyền, tổ chức tín dụng sẽ chủ động tổ chức các đợt phát
hành giấy tờ có giá dài hạn trong phạm vi kế hoạch phát hành của năm tài
chính đã được xét duyệt. Trường hợp tổ chức tín dụng đã được chấp thuận
kế hoạch phát hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài chính nhưng không
tổ chức phát hành phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước (Vụ Chính sách tiền
tệ). Trước thời điểm phát hành ít nhất 3 ngày làm việc, tổ chức tín dụng
phải gửi Thông báo phát hành giấy tờ có giá dài hạn của đợt phát hành
dự kiến về Ngân hàng Nhà nước (Vụ Chính sách tiền tệ). Thông báo phát
hành giấy tờ có giá dài hạn bao gồm các nội dung sau:
- Tên tổ chức tín dụng phát hành
- Tên gọi giấy tờ có giá (trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn …).
- Tổng mệnh giá của đợt phát hành.
- Phương thức phát hành
- Hình thức phát hành
- Địa điểm phát hành.
- Thời hạn giấy tờ có giá
- Thời hạn phát hành
- Lãi suất, Phương thước trả lãi, Thời điểm, địa điểm trả lãi.
- Địa điểm thanh toán tiền gốc giấy tờ có giá
- Các nội dung thông báo khác của tổ chức tín dụng phát hành.
Tổ chức tín dụng chỉ được phát hành vượt
quá kế hoạch đã được xét duyệt khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
chấp thuận bằng văn bản. Hồ sơ đề nghị xem xét bổ sung kế hoạch phát
hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài chính bao gồm: Đơn đề nghị phát
hành giấy tờ có giá dài hạn bổ sung, kế hoạch phát hành giấy tờ có giá
dài hạn điều chỉnh, kế hoạch kinh doanh của năm tài chính điều chỉnh.
Ở những phần trên chúng ta đã đề cập
được những vấn đề mà pháp luật quy định về hoạt động phát hành giấy tờ
có giá ngắn hạn cũng như giấy tờ có giá dài hạn.Tiếp theo một khía cạnh
pháp lý mà chúng ta cũng cần quan tâm, đó là hoạt động phát hành trái
phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền mà theo quy định tại Điều
26 của Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN là do đối tượng là các tổ chức tín
dụng cổ phần được phép phát hành.
Thế nào là trái phiếu chuyển đổi và trái
phiếu kèm chứng quyền? Theo Điều 4, khoản 15 Quyết định số
07/2008/QĐ-NHNN trái phiếu chuyển đổi được hiểu “là loại trái phiếu
có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của cùng một tổ chức tín dụng
phát hành theo các điều kiện đã được xác định trong phương án phát
hành.”. Và “Chứng quyền” là loại chứng khoán phát hành kèm theo
trái phiếu xác định quyền của người sở hữu trái phiếu được mua một khối
lượng cổ phiếu phổ thông nhất định theo các điều kiện đã xác định.” (khoản 18, Điều 4 Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN).
Đối tượng muốn được phát hành phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện được quy định tại Điều 28, 07/2008/QĐ-NHNN:
Điều 28. Điều kiện phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền
Tổ chức tín dụng phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
-
1. Đáp ứng các điều kiện tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 22 Quy chế này.
“ 1. Tuân thủ các hạn chế để đảm
bảo an toàn trong hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng,
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng và
hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
2. Có thời gian hoạt động tối thiểu là một năm kể từ ngày tổ chức tín dụng chính thức đi vào hoạt động…”( khoản 1,2 Điều 22)
2. Phương án tăng vốn điều lệ từ
nguồn phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền của
năm tài chính được Đại hội đồng cổ đông thông qua và được sự chấp thuận
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
3. Được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
xếp loại A trong năm liền kề năm phát hành. Trường hợp Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam chưa có xếp loại thì phải được Ngân hàng Nhà nước chi
nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đề xuất dự kiến xếp loại A.
4. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên
vốn chủ sở hữu bình quân của 3 năm liên tiếp trước đó phải cao hơn mức
lãi suất dự kiến trả cho trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng
quyền. Đối với tổ chức tín dụng có thời gian hoạt động từ 2 đến dưới 3
năm, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân của 2 năm
liên tiếp trước đó phải cao hơn mức lãi suất dự kiến trả cho trái phiếu
chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền. Đối với tổ chức tín dụng có thời
gian hoạt động dưới 2 năm, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở
hữu của năm trước đó phải cao hơn mức lãi suất dự kiến trả cho trái
phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền.
5. Được sự chấp thuận của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước về việc phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu
kèm chứng quyền của năm tài chính của tổ chức tín dụng.”
Sau khi thỏa mãn đầy đủ điều kiện kể
trên, đối tượng phát hành sẽ tuân thủ một trình tự thủ tục như luật
định. Chẳng hạn, cần có hồ sơ đề nghị phát hành (Điều 29), phải được
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xem xét quyết định (Điều 30) và tổ chức
phát hành theo như quy định tại Điều 32 Quyết định 07/2008/QĐ-NHNN.
Về hồ sơ đề nghị phải bao gồm những nội dụng sau:
“ Ngoài các quy định tại Khoản 4, 5,
6, 7, 8, Điều 23 Quy chế này, hồ sơ đề nghị phát hành trái phiếu chuyển
đổi, trái phiếu kèm chứng quyền của năm tài chính còn bao gồm:
“…4. Các báo cáo tài chính của hai
năm liên tục gần nhất được kiểm toán và tính đến thời điểm có đơn đề
nghị phát hành. Các tổ chức tín dụng có thời gian hoạt động dưới 2 năm
gửi các báo cáo tài chính từ khi bắt đầu hoạt động đến thời điểm có đơn
đề nghị phát hành. Nội dung của các báo cáo tài chính thực hiện theo quy
định hiện hành của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về chế độ báo cáo đối
với các tổ chức tín dụng. Trường hợp nộp hồ sơ phát hành trong Quý I
hàng năm, tổ chức tín dụng có thể nộp báo cáo tài chính của năm trước đó
chưa được kiểm toán và phải nộp các báo cáo tài chính được kiểm toán
ngay sau khi hoàn tất kiểm toán.
5. Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có).
6. Kế hoạch kinh doanh, kế hoạch nguồn vốn và sử dụng vốn của năm tài chính.
7. Điều lệ và Giấy phép hoạt động (đối với tổ chức tín dụng phát hành lần đầu)
8. Các thay đổi về bộ máy tổ chức và các thay đổi khác (nếu có).”( Điều 23)
1. Đề nghị phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền của năm tài chính.
2. Phương án tăng vốn điều lệ từ
nguồn phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền được
Đại hội đồng cổ đông thông qua và được sự chấp thuận của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước.
3. Phương án phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền của năm tài chính, trong đó nêu rõ:
- Mục đích phát hành, phương án sử
dụng vốn thu được từ phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm
chứng quyền; Tổng mệnh giá phát hành, mệnh giá, địa điểm phát hành,
phương thức phát hành, hình thức phát hành, thời hạn, lãi suất, phương
thức trả lãi, địa điểm trả gốc và lãi, người mua trái phiếu, số lượng và
thời gian dự kiến của từng đợt phát hành; Các điều kiện và điều khoản
về quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng và người mua. Phương án phát
hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền phải được Hội
đồng quản trị thông qua.
- Đối với phương án phát hành trái
phiếu chuyển đổi phải nêu rõ: Điều kiện, thời hạn chuyển đổi trái phiếu;
Tỷ lệ chuyển đổi trái phiếu, phương pháp tính giá chuyển đổi; Biên độ
biến động giá cổ phiếu vào thời điểm phát hành và chuyển đổi trái phiếu
(nếu có).
- Đối với phương án phát hành trái
phiếu kèm chứng quyền phải nêu rõ: Điều kiện được mua cổ phiếu phổ thông
của người sở hữu chứng quyền, số lượng cổ phiếu được mua của từng đơn
vị chứng quyền, các quyền lợi và trách nhiệm khác của người nắm giữ
chứng quyền.” (Điều 29 Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN)
Về tổ chức phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền, đối tương phát hành phải:
“1. Tổ chức tín dụng chủ động tổ chức
các đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền
trong phạm vi kế hoạch phát hành của năm tài chính đã được xét duyệt.
2. Trường hợp tổ chức tín dụng đã được
chấp thuận phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền
nhưng không tổ chức phát hành phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước (Vụ Chính
sách tiền tệ).
3. Trước thời điểm phát hành ít nhất 3
ngày làm việc, tổ chức tín dụng phải gửi Thông báo phát hành trái phiếu
chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền của đợt phát hành dự kiến về Ngân
hàng Nhà nước (Vụ Chính sách tiền tệ).
4. Thông báo phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền bao gồm các nội dung sau:
- Tên tổ chức tín dụng phát hành.
- Tên gọi trái phiếu
- Tổng mệnh giá của đợt phát hành
- Phương thức phát hành
- Hình thức phát hành.
- Địa điểm phát hành
- Thời hạn trái phiếu.
- Thời hạn phát hành
- Lãi suất, Phương thức trả lãi, Thời điểm, địa điểm trả lãi.
- Địa điểm thanh toán tiền gốc trái phiếu
- Đối với phát hành trái phiếu chuyển
đổi phải nêu rõ: Điều kiện, thời hạn chuyển đổi trái phiếu, Tỷ lệ chuyển
đổi trái phiếu, phương pháp tính giá chuyển đổi; Biên độ biến động giá
cổ phiếu vào thời điểm phát hành và chuyển đổi trái phiếu (nếu có).
- Đối với phát hành trái phiếu kèm chứng
quyền phải nêu rõ: Điều kiện được mua cổ phiều phổ thông của người sở
hữu chứng quyền, số lượng cổ phiếu được mua của từng đơn vị chứng quyền,
các quyền lợi và trách nhiệm khác của người nắm giữ chứng quyền.
- Các nội dung thông báo khác của tổ chức tín dụng phát hành.” (Điều 32 Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNH).
Pháp luật không chỉ giới hạn đối tượng
được phép phát hành mà còn đặt ra những giới hạn đối với người mua trái
phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền.Cụ thể như tại quy định của
Điều 27 Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN
“Điều 27. Các giới hạn đối với người mua trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền
1. Đối với người mua trái phiếu
chuyển đổi hoặc mua trái phiếu kèm chứng quyền là tổ chức, cá nhân nước
ngoài, khi đến thời hạn chuyển đổi thành cổ phiếu hoặc đến thời hạn mua
cổ phiếu phải đảm bảo phù hợp với quy định hiện hành của Chính phủ và
của Ngân hàng Nhà nước về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ
chức tín dụng Việt Nam và các văn bản pháp luật có liên quan.
2. Đối với người mua trái phiếu
chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm chứng quyền là các tổ chức tín dụng, khi
đến thời hạn chuyển đổi thành cổ phiếu hoặc đến thời hạn mua cổ phiếu
phải phù hợp với quy định hiện hành của Luật các tổ chức tín dụng và của
Ngân hàng Nhà nước về giới hạn góp vốn, mua cổ phần và các văn bản pháp
luật có liên quan.”
Bên cạnh đó pháp luật cũng điều chỉnh
việc bảo lãnh phát hành (Điều 31 Quyết định số 07) và trong trường hợp
có sự mua lại trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền (Điều 33
Quyết định số 07).
III. Kết luận:
Trong nền kinh tế thị trường, về phương
diện kinh tế, phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng mặc dù
không mang lại lợi nhuận trực tiếp nhưng lại là một trong những giải
pháp huy động vốn rất quan trọng. Chính nguồn vốn huy động được từ công
chúng này sẽ giúp cho các tổ chức tín dụng phát hành thực hiện nghiệp vụ
kinh doanh khác, góp phần giải quyết “đầu vào”. Không chỉ thế, qua đó
còn đánh giá hay đo lường được sự tín nhiệm của khách hàng đối với tổ
chức tín dụng phát hành. Trên cơ sở đó sẽ có những biện pháp không ngừng
hoàn thiện hoạt động huy động vốn nói chung và phát hành giấy tờ có giá
nói riêng để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng. Đó là những
lợi ích có thể thấy mà việc phát hành giấy tờ có giá đã và đang đem lại
cho các tổ chức tín dụng phát hành, dĩ nhiên nó cũng mang đến cả những
lợi ích cho cả khách hàng. Có thể đưa ra một số dẫn chứng sau: Thứ nhất,
cung cấp kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lời;
thứ hai- cung cấp một nơi an toàn để họ cất trữ và tích lũy vốn tạm thời
nhàn rỗi.
Về phương diện pháp lý, Quyết định số
07/2008/QĐ-NHNN ngày 24/3/2008 về quy chế phát hành giấy tờ có giá trong
nước của tổ chức tín dụng chứa đựng nhiều điểm mới mà các văn bản trước
đó không đề cập đến hoặc có qui định nhưng chưa rõ ràng, cụ thể như:
quyền phát hành trái phiếu chuyển đổi và chứng quyền của tổ chức tín
dụng cổ phần; việc áp dụng cơ chế phát hành thông qua phương thức đấu
thầu, thông qua tổ chức làm đại lý hoặc tổ chức trung gian bảo lãnh phát
hành chứng khoán…Ngoài ra, với Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN, pháp luật
còn đặt ra những quy định liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu giấy
tờ có giá, xử lý tranh chấp và xử lý các trường hợp rủi ro khác (Điều
14); cầm cố, chiết khấu, tái chiết khấu (Điều 15) và bảo quản, giao
nhận, vận chuyển giấy tờ có giá (Điều 16). Cuối cùng là trách nhiệm của
tổ chức tín dụng, các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và ngân
hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương tại Chương VI
của Quyết định số 07 này. Do đó, có thể nói, sự ra đời của Quyết định
07/2008/QĐ-NHNN ngày 24/3/2008 xem như một bước ngoặt trong việc kết nối
hoạt động huy động vốn của tổ chức tín dụng với thị trường chứng khoán,
góp phần thúc đẩy họat động của thị trừơng chứng khóan Việt Nam, và
trên hết là nó đã tạo một sự nhất quán giữa qui định của Luật chứng
khóan năm 2006 về phát hành chứng khóan ra công chúng với qui định về
qui chế phát hành giấy tờ có giá. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ lý luận cũng
như thực tiễn áp dụng, Quyết định số 07 vẫn còn một số điểm bất cập,
hạn chế sau đây:
+ Thứ nhất, về bản chất pháp lý của quan
hệ phát hành giấy tờ có giá. Trên nguyên tắc, việc phát hành các giấy
tờ có giá của tổ chức tín dụng chính là những thoả thuận vay nợ giữa tổ
chức tín dụng với khách hàng. Bởi vì, thực chất các giấy tờ có giá được
phát hành theo Quy chế này là moật công cụ vay nợ trên thị truờng tiền
tệ, thị trường vốn dưới hình thức chứng chỉ ghi danh, chứng chỉ vô danh
và ghi sổ, trong đó tổ chức tín dụng cam kết trả gốc, lãi cho người mua
sau một thời gian nhất định . Điều này có nghĩa rằng: khi phát hành giấy
tờ có giá cho người đầu tư là các tổ chức, cá nhân, tổ chức tín dụng
không phải là “người bán” giấy tờ có giá mà chỉ là người tiếp nhận vốn
đầu tư (người vay), còn khách hàng là tổ chức, cá nhân cũng không phải
là “người mua” giấy tờ có giá theo đúng nghĩa của từ này mà chỉ là người
đầu tư gián tiếp vào tổ chức tín dụng bằng cách cho vay đối với chủ thể
này để được nhận một khoản lãi cho vay theo thoả thuận. Tuy nhiên, các
quy định hiện hành trong Quyết định số 07 lại thể hiện quan điểm coi
giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng như là một giao
dịch “mua bán” giấy tờ có giá, chứ không khẳng định và thừa nhận bản
chất là giao dịch cho vay của quan hệ phát hành giấy tờ có giá của tổ
chức tín dụng.
+ Thứ hai, mặc dù Quyết định số 07 đã
đặt nền móng cho việc nhất thể hoá các quy chế về phát hành các loại
giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng, nhưng nét nổi bật dễ nhận thấy
trong văn bản pháp quy này là nhà làm luật vẫn chủ trương tách bạch giữa
hoạt động phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng với hoạt động
phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức khác không phải là tổ chức tín
dụng. Đặc biệt, việc phát hành Hối phiếu nhận nợ của các tổ chức tín
dụng cho khách hàng (người cho vay), với ý nghĩa là một loại giấy tờ có
giá ngắn hạn để huy động vốn, đồng thời tạo thêm “hàng hoá” cho thị
trường tiền tệ, cũng chưa được đề cập đến trong Quy chế này, dù chỉ là
một quy định mang tính dẫn chiếu đến Luật các công cụ chuyển nhượng.
Nhóm chúng tôi làm bài viết chuyên đề
này với mong muốn nắm bắt được những nội dung cơ bản trong các văn bản
quy phạm pháp luật điều chỉnh việc phát hành giấy tờ có giá của các tổ
chức tín dụng, cùng với những đánh giá, nhận xét xung quanh Quyết định
số 07/2008/QĐ-NHNN với mong muốn góp phần hoàn thiện cơ chế điều chỉnh
pháp luật đối với giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín
dụng ở nước ta trong bối cảnh hiện nay.
Posted in: LUAT TAI CHINH - NGAN HANG,Nghiên cứu - Bình luận
Email This
BlogThis!
Share to Facebook
0 comments:
Post a Comment