Thursday, February 13, 2014

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC: CHUYỆN MỘT NGƯỜI BỊ OAN

LÊ VĂN NHUNG
“Có bị oan tôi mới biết cuộc sống bế tắc như thế nào. Bao nhiêu năm trời mình khổ, vợ con cũng khổ…”, uống xong hớp nước, ông Trương Thanh Thừa (ngụ TP Pleiku, Gia Lai) lặng đi một lúc rồi mới ngậm ngùi kể tiếp câu chuyện của đời mình với bao cám cảnh.
Nóng vội bắt oan
Chuyện của ông bắt đầu từ 19 năm trước. Năm 1990, đang là giám đốc Công ty Lương thực thị xã Pleiku, trong một chuyến ông đi công tác tại Bình Định thì ở nhà, cơ quan ông bất ngờ bị thanh tra tài chính. Sau đó, ông bị khởi tố về hai tội cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng và thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Nguyên nhân tai họa này chỉ xuất phát từ việc ông Thừa thay mặt cơ quan ký hợp đồng vận chuyển 1.000 tấn gạo từ TP.HCM về TP Pleiku với giá 490 ngàn đồng/tấn và chi phí ủy thác vận chuyển 90 ngàn đồng/tấn (giá gạo quy định tại thời điểm đó là 620 ngàn đồng/tấn, giá cước vận chuyển được cho phép là 100 ngàn đồng/tấn). Ngoài ra, công an còn quy chụp ông ký hợp đồng với một đối tác mua 20 ngàn lít dầu diezel nhưng không lấy hết dầu về, dẫn đến thiệt hại cho cơ quan (thực chất việc mua dầu để phục vụ vận chuyển gạo nhưng chưa làm xong thì ông Thừa đã bị bắt).
Đó chỉ là những quan hệ kinh tế đơn thuần nhưng ông Thừa vẫn bị tạm giam gần bảy tháng mới được cho tại ngoại. Sau đó, cả hai phiên tòa sơ, phúc thẩm của TAND thị xã Pleiku và TAND tỉnh Gia Lai đều tuyên ông không phạm tội. Vậy mà từ đó đến nay, ông Thừa chưa hề nhận được một lời xin lỗi nào cho thân phận của một người bị hàm oan, đã mất cả sự nghiệp lại phải cùng vợ con gánh chịu biết bao thiệt thòi, mất mát sau đó.
Nước mắt phận đời
Người đàn ông gầy gò 54 tuổi ấy bây giờ vẫn lầm lũi với cuộc sống đời thường trong gian nhà tối ở một con hẻm sâu hun hút của chợ Phù Đổng.
Lúc ông trong trại thì ở ngoài, gia đình phải chịu nhiều áp lực từ sự đồn thổi, soi mói của dư luận địa phương. Bà Hiệp – vợ ông chịu không nổi đành phải xin nghỉ việc khi đang là cửa hàng trưởng một cửa hàng nông sản thực phẩm. Cậu con trai lớn lúc đó chỉ mới hơn 10 tuổi, khi đến trường cũng thường xuyên bị bạn bè dè bỉu: “Cha mày là thằng tham nhũng đó”…

Bà Hiệp kể: “Ê chề lắm. Mùa xuân năm ấy, cả nhà không có Tết. Cha chồng tôi bị sốc, suy sụp tinh thần rồi mất sau đó không lâu. Tôi một nách hai con nhỏ, không có việc làm. Đói thì đầu gối phải bò. Ngày nọ, tôi ẵm đứa sau chưa đầy một tuổi đội mưa xuống Ayun Pa, đánh liều gửi lại con cho một gia đình chưa hề quen biết để lo chuyện thu mua gạo cám đưa về Pleiku bán. Từ ấy, tôi làm con buôn đầu tắt mặt tối mà lời lãi chẳng bao nhiêu, cố hết sức cũng chỉ đủ rau cháo qua ngày”.
Rồi ông Thừa được tòa tuyên vô tội, được minh oan nhưng trở về thì công việc vẫn bị mất, thu nhập vẫn bị cắt hoàn toàn. Cảnh nhà túng vẫn hoàn túng. Bà Hiệp lại lặn lội vào Cam Ranh (Khánh Hòa) nhờ người anh cho mượn ít tiền lấy vốn làm ăn. Thấy tình cảnh oái oăm của vợ chồng bà, nguyên chủ tịch tỉnh Gia Lai lúc bấy giờ thương tình cho mượn một căn phòng nhỏ làm quầy bán cám, gạo lẻ nhưng được vài tháng cũng phải giải nghệ vì ế ẩm.
Cuối cùng thì họ quay sang bán phở vỉa hè. Vợ chạy chợ nấu nướng, chồng rửa chén, bưng bê phở cho khách đắp đổi qua ngày. “Thế rồi nồi phở ấy đã không phụ chúng tôi, đã nuôi cả gia đình sống được đến ngày hôm nay”.
Mới đây, cơ quan tố tụng ở Gia Lai đã chấp nhận bồi thường oan cho ông Thừa 25 triệu đồng. Chuyện bồi thường oan dẫu chỉ xoa dịu được một phần nào đó cho sự thiệt thòi mà ông và gia đình đã phải gánh chịu nhưng cũng là hiện thân của sự công bằng. Nói trong niềm sẻ chia, ông Thừa bảo: “Gian khó rồi cũng qua đi, cuộc sống bây giờ cũng đủ ăn đủ mặc, con cái cũng đều đã trưởng thành, đã có công việc ổn định. Tôi chỉ mong rằng sau này sẽ không ai bị hàm oan như tôi, khổ lắm”.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC: BA NĂM MÒN MỎI CHỜ BỒI THƯỜNG OAN

HỒ KHẢI HÀ
Đến nay, yêu cầu của đương sự vẫn chưa được giải quyết vì chưa xác định được cơ quan làm oan cuối cùng. Đây là một oan án mà Pháp Luật TP.HCM từng phản ánh. Cuối năm 2001, bà Nguyễn Thị Ước, ngụ huyện Chơn Thành (Bình Phước) cho bà H. vay 3,5 triệu đồng cùng hai chỉ vàng và giao hẹn một năm sau bà H. phải trả hết nợ. Đến hẹn, bà H. cứ dây dưa nên bà Ước nảy sinh ý định giữ xe máy của bà H. nhằm buộc bà H. trả nợ.
Ngày 22-10-2002, bà Ước hỏi mượn xe của bà H. Nửa tiếng sau, bà điện thoại về báo cho bà H. biết ý định: “Tui đang giữ xe của bà, chừng nào bà trả tiền thì tui trả xe!”. Đồng thời, bà Ước cũng báo cho ấp, xã biết rõ cớ sự. Ngay hôm sau, trong buổi hòa giải do chính quyền địa phương tổ chức, hai bên thống nhất là bà Ước vẫn giữ xe chờ bà H. đem tiền trả.
Viện rút truy tố, tòa đình chỉ vụ án
Đã thỏa thuận như vậy nhưng bà H. lại đi tố cáo tới công an. Lập tức, Công an huyện Chơn Thành khởi tố bà Ước về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do lúc đó bà đang mang thai nên được tại ngoại điều tra. Một thời gian sau, TAND huyện Chơn Thành phạt bà 10 tháng tù. Thấy oan ức, bà Ước kháng cáo. Tháng 9-2004, TAND tỉnh Bình Phước đã tuyên hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ để giải quyết lại từ đầu do cấp sơ thẩm điều tra không đầy đủ.
Nhận lại hồ sơ, phía công an và VKS huyện Chơn Thành vẫn giữ quan điểm là bà Ước có tội. VKS hoàn tất cáo trạng mới truy tố bà Ước về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (không phải tội lừa đảo như trước). Thế nhưng trước khi TAND huyện đưa vụ án ra xử, VKS huyện đã quyết định rút quyết định truy tố. Vì vậy, tháng 9-2005, TAND huyện đã đình chỉ vụ án, kết thúc hai năm chịu biết bao cay đắng, khổ sở của bà Ước.
Rối chuyện bồi thường oan
Tháng 11-2006, bà Ước làm đơn yêu cầu VKS huyện Chơn Thành bồi thường thiệt hại vật chất, tinh thần tổng cộng hơn 100 triệu đồng do đã làm oan bà. Ba ngày sau, VKS trả lời là vụ việc không thuộc thẩm quyền xử lý của viện và hướng dẫn bà Ước làm đơn yêu cầu TAND huyện giải quyết vì việc bồi thường oan là trách nhiệm của tòa. VKS lý giải: Trường hợp của bà Ước, cấp phúc thẩm đã hủy án để điều tra lại, sau đó vụ án đã được tòa đình chỉ, theo quy định tòa sơ thẩm phải chịu trách nhiệm do trước đó đã tuyên bà có tội.

Nhận được văn bản trả lời này, bà Ước khiếu nại rằng phía VKS phải có trách nhiệm bồi thường chứ không phải là tòa. Bà viện dẫn Thông tư liên số 01 ngày 25-3-2004 của TAND tối cao, VKSND tối cao… hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết 388 quy định cơ quan bồi thường là cơ quan xử lý oan sau cùng. Ở đây, sau khi cấp phúc thẩm trả hồ sơ điều tra bổ sung, VKS đã ra cáo trạng truy tố và hồ sơ đã được chuyển qua tòa. Sau đó VKS rút truy tố và tòa đình chỉ. Như vậy, chính VKS mới là cơ quan làm oan sau cùng và phải bồi thường.
Đẩy qua, đá lại
Song song với việc khiếu nại VKS, bà Ước cũng gửi đơn đến TAND huyện Chơn Thành xem ý kiến cơ quan này ra sao. Tòa nhận đơn nhưng không thụ lý nên bà khiếu nại cơ quan này. Sau đó, TAND huyện có văn bản trả lời rằng “vụ việc của bà rất phức tạp do luật quy định chưa rõ ràng, cụ thể”. Đầu năm 2007, TAND huyện đã phải gửi công văn và hồ sơ đến TAND tỉnh Bình Phước, TAND tối cao để xin ý kiến. Do vậy, bà phải chờ khi có ý kiến chính thức của các cơ quan trên thì mới biết vụ việc của mình có được giải quyết hay không.
Bà Ước tiếp tục chờ. Chờ mãi, qua đến năm 2008 mà vẫn chưa được hồi âm, nóng lòng bà đã gửi đơn cầu cứu đến Tỉnh ủy Bình Phước. Thấy vụ việc thuộc thẩm quyền của tòa, Tỉnh ủy Bình Phước đã chuyển đơn của bà sang TAND tỉnh. Tháng 8-2008, TAND tỉnh đã gửi công văn trả lời cho bà biết là bốn tháng trước, tòa tỉnh đã chuyển hồ sơ của bà về lại cho TAND huyện Chơn Thành và yêu cầu tòa này báo cáo kết quả giải quyết cho tòa tỉnh. Do vậy, bà cần liên hệ tòa huyện.
Một lần nữa, bà Ước lại phải chạy vạy gõ cửa TAND huyện. Tháng 10-2008, TAND huyện cho bà hay dù theo nguyên tắc chung thì cơ quan phải có trách nhiệm bồi thường là cơ quan làm oan sau cùng nhưng đối với trường hợp của bà thì Nghị quyết 388 quy định không rõ và cũng chưa có thông tư nào hướng dẫn. Do vậy, để xác định đúng cơ quan có trách nhiệm bồi thường, TAND huyện đã có công văn đề nghị lãnh đạo TAND tỉnh xin ý kiến TAND tối cao để có sự thống nhất bằng văn bản xác định cơ quan nào là cơ quan phải bồi thường cho bà. Sau khi xác định được thì cơ quan đó sẽ có trách nhiệm bồi thường cho bà.
Bà Ước cho biết từ đó đến nay đã gửi rất nhiều đơn đến các cơ quan chức năng, nhất là TAND tối cao nhưng không hề được hồi đáp. Bà đã chờ mỏi mòn một câu trả lời là cơ quan nào sẽ có trách nhiệm bồi thường oan cho bà nhưng vụ việc của bà vẫn giậm chân tại chỗ.
Theo chúng tôi, đã đến lúc các cơ quan tố tụng liên quan cần phải xem xét, giải quyết triệt để những hậu quả pháp lý trong chuyện làm oan bà Ước chứ không thể bắt bà phải chờ đợi mãi trong vô vọng như vậy.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG: MUA HÀNG HIỆU VẪN PHẢI … KIỆN

BẠCH HOÀN
Không phải cứ bỏ tiền ra mua hàng hiệu, sản phẩm của các công ty uy tín, hay sử dụng những dịch vụ đắt tiền là người tiêu dùng có được những món đồ, dịch vụ xứng đáng “đồng tiền bát gạo”. Mặc dù không phải là phổ biến nhưng ngay cả với những nhãn hiệu đã có tên tuổi trên thị trường, vẫn có những sản phẩm chất lượng kém được bán đến tay người tiêu dùng. Các doanh nghiệp giải thích đó là do sơ suất trong quá trình sản xuất.
Mắt kính 600 USD, chất lượng vẫn kém
Không may mắn khi mua phải hàng hiệu mà chất lượng lại không đảm bảo, anh Nguyễn Hữu Thăng (đường Hoàng Hoa Thám, Q.Tân Bình, TP.HCM) kể mua hai chiếc kính mát hiệu Louis Vuitton tại một cửa hàng ở Q.1, giá mỗi chiếc gần 600 USD. Tuy nhiên, một trong hai chiếc kính có giá cả chục triệu đồng đó lại có chất lượng kém. Khi sử dụng, mắt kính có hiện tượng loang màu, chỗ đậm chỗ nhạt, anh Thăng đề nghị cửa hàng thay mắt kính khác. Nhưng đại diện cửa hàng này từ chối và lấy lý do đây là lỗi của người sử dụng.
Cũng gặp rắc rối với chiếc kính mắt, anh Nguyễn Văn Công (P.Hiệp Phú, Q.9, TP.HCM) kể anh mua một chiếc kính thuốc tại cửa hàng ở đường Điện Biên Phủ, Q.3 của một hãng chuyên về kính thuốc tại TP.HCM. Giá chiếc kính trên 4 triệu đồng, nhưng khi vừa sử dụng đã có vấn đề, gọng kính lỏng lẻo, ốc bị rơi khi nào không hay mặc dù không hề có va chạm. Anh Công cho biết sau khi sửa nhiều lần, sự cố trên vẫn không được khắc phục. Cuối cùng anh đem kính đến nơi bán hàng để nhờ chỉnh lại thì nhân viên cửa hàng khẳng định không thể sửa được.
Tương tự, cũng bỏ ra một khoản tiền không nhỏ để sử dụng dịch vụ điều trị mụn của một trung tâm chăm sóc thẩm mỹ tại Q.Phú Nhuận, chị K.V. ở P.Tân Hưng Thuận, Q.12 đã bị biến chứng khá nặng. Chị V. kể sau khi bôi thuốc trị mụn do trung tâm này cung cấp, chị bị nóng mặt. Ngay trong ngày, khi báo cho nhân viên tư vấn của trung tâm về tình trạng trên thì nhân viên khẳng định đó là phản ứng tốt và yêu cầu tiếp tục bôi thuốc. Nhưng chỉ ba ngày sau, toàn bộ khuôn mặt chị V. bị nổi rộp với các mụn mủ, sưng phù, rịn nước, da mặt đỏ và nóng.
“Tuy nhiên, khi tôi có mặt tại trung tâm để phản ảnh tình trạng của mình thì nhân viên trung tâm lại yêu cầu tự đi bệnh viện da liễu điều trị” – chị V. cho hay.
Khiếu nại để đòi quyền lợi
Theo tìm hiểu của chúng tôi, nơi chị K.V. điều trị mụn là một trung tâm khá lớn. Sau khi xảy ra sự cố, chị V. đã gửi đơn lên Văn phòng khiếu nại của người tiêu dùng TP.HCM để xem xét trách nhiệm của trung tâm điều trị và yêu cầu được đền bù thỏa đáng, gồm cả phí dịch vụ, phí điều trị bác sĩ da liễu và phần tổn thất tài chính do chị phải nghỉ việc để điều trị bệnh. Sau nhiều lần thương thảo, Văn phòng khiếu nại của người tiêu dùng TP.HCM cho biết cuối tháng 3 vừa qua, cơ quan này đã hòa giải thành công trường hợp khiếu nại của chị K.V.. Theo đó, trung tâm điều trị mụn phải thanh toán cho chị toàn bộ tiền thuốc, tiền điều trị, do phải nghỉ việc để khắc phục sự cố, tổng cộng trên 16 triệu đồng.

Tương tự, sau khi gửi đơn khiếu nại lên cơ quan bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của TP.HCM, anh Nguyễn Hữu Thăng cho biết cách nay hơn một tuần chiếc kính 600 USD của anh cũng đã được thay mới. Tuy nhiên, theo anh Thăng, trước khi anh gửi đơn lên Văn phòng khiếu nại của người tiêu dùng TP.HCM, cửa hàng này đã không chấp thuận đề nghị trả lại tiền hoặc thay thế sản phẩm mới như ban đầu đã cam kết. Nhưng sau khi nhận được thư khiếu nại, cửa hàng đã chủ động làm việc và giải quyết yêu cầu của anh.
Theo TS Vũ Thị Bạch Nga – trưởng ban bảo vệ người tiêu dùng, Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương, trong quá trình sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều có thể gặp lỗi, có những sản phẩm không đạt chất lượng như công bố. Do đó, khi chẳng may mua phải những sản phẩm, dịch vụ chất lượng không như mong muốn, trước tiên người tiêu dùng nên phản ảnh với nơi bán hàng, doanh nghiệp sản xuất để được giải quyết.
Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận, nên khiếu nại, phản ảnh lên các cơ quan bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Ngoài ra, khi mua hàng người tiêu dùng nên giữ lại những giấy tờ liên quan như: hóa đơn thanh toán, giấy bảo hành… để thuận tiện khi làm việc với doanh nghiệp và cơ quan chức năng.
Hàng giá trị nhỏ cũng cần phản ảnh kịp thời
Theo ghi nhận của Tuổi Trẻ, đối với những sản phẩm có giá trị nhỏ, khoảng 100.000 đồng, khi chất lượng không như ý và không đạt tiêu chuẩn mà nhà sản xuất công bố, đa số người tiêu dùng đều dễ dãi cho qua và chấp nhận thiệt thòi. Tuy nhiên, các doanh nghiệp có uy tín lại cho biết họ sẵn sàng bồi thường hoặc đổi sản phẩm mới cho khách hàng. TS Vũ Thị Bạch Nga cũng cho rằng dù sản phẩm có giá trị nhỏ, người tiêu dùng cũng nên phản ảnh kịp thời với người bán hàng, nhà sản xuất hoặc với các cơ quan có chức năng tiếp thu phản ảnh và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
SOURCE: BÁO TUỔI TRẺ

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ THEO HỢP ĐỒNG: 1001 KIỂU BỒI THƯỜNG CHẬM GIAO NHÀ

VŨ LÊ
Trong khi khách hàng mua căn hộ với giá gốc chỉ thắc mắc và dễ dàng xí xóa chuyện bồi thường chậm giao nhà thì những người mua lại với giá cao, bị sang tay nhiều chủ lại tỏ rõ thái độ bất bình. Tình huống căng thẳng nhất là đôi bên lôi nhau ra tòa.
Từ nhiều năm nay, các dự án nhà ở thường mắc căn bệnh trầm kha là "trễ hạn bàn giao căn hộ" với vô vàn lý do. Cách phản ứng và hành xử của người trong cuộc cũng muôn hình vạn trạng. Có những đại gia đóng tròn vai chủ đầu tư sòng phẳng, cũng không ít doanh nghiệp hạn chế về tài chính phải xuống nước xin khách hàng xí xóa. Tình huống căng thẳng cũng từng xảy ra, trong trường hợp này khách hàng dọa kiện chủ đầu tư nếu việc bồi thường chậm giao nhà không làm đúng theo quy định của pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, quả bồ hòn mà khách hàng phải nếm còn đắng hơn khi dự án không thể thực hiện được hoặc chủ đầu tư can đảm thông báo tăng giá dù công trình có tiến độ rùa bò.
Nhận nhà trễ hạn so với cam kết trong hợp đồng, nhiều khách hàng mua căn hộ Hoàng Anh 2, quận 7, TP HCM phản ánh họ chưa nhận được tiền bồi thường dù chủ đầu tư có thỏa thuận điều này. Trao đổi vớiVnEpress.net Giám đốc Công ty Hoàng Anh (HAGL) Lê Hùng giải thích, do năm 2008 thị trường bất động sản rơi vào giai giai đoạn thoái trào, vật liệu xây dựng tăng giá, ngân hàng thắt chặt tín dụng nên chủ đầu tư gặp rất nhiều khó khăn. Dù vậy, HAGL vẫn nỗ lực hoàn thành dự án sớm nhất trong khả năng có thể. "Tôi đã ký nhiều biên bản cam kết với khách hàng dời thời hạn nộp phạt vào tháng 6/2009 để doanh nghiệp sắp xếp chi trả", ông Hùng khẳng định.
Còn khách mua căn hộ Thái An 2 tại quận 12, TP HCM, tuy bị giao nhà trễ so với cam kết trong hợp đồng nhưng vẫn giải quyết ôn hòa trên tinh thần chín bỏ làm mười. Chủ đầu tư (Công ty Đất Lành) giải thích, đây là điều bất khả kháng, nhiều dự án khác cũng mắc phải nên xin khách hàng “bỏ qua” chuyện nộp phạt. Sau chuyện này, một cư dân chung cư Thái An 2 chia sẻ với VnExpress.net: "Có nhà là mừng hú vía, tôi không dám mong gì hơn, vả lại mình mua với giá khá "mềm" nên ai nấy đều xề xòa cho qua chứ không đòi bồi thường".
Trong khi đó, khách hàng mua căn hộ chung cư Mỹ Thuận quận 8, TP HCM cũng bị giao nhà trễ 4-12 tháng nhưng chủ đầu tư chỉ bồi thường qua loa. Trường hợp khách kiên quyết đòi thì được trả, có người bị đề nghị trừ vào diện tích dôi ra so với hợp đồng hoặc cấn vào 5% tiền làm giấy tờ nhà (khoản tiền làm tin trước khi nhận giấy hồng) và cũng có cả những chủ hộ không được nhận đồng bồi thường nào.
Một hộ dân ngụ trong chung cư Mỹ Thuận tiết lộ, anh phải làm căng với Công ty M&C (chủ đầu tư) thậm chí dọa thuê luật sư kiện thì doanh nghiệp này mới ngồi lại đàm phán chuyện bồi thường. Theo đó, khách hàng này trưng ra giấy tờ thuê nhà trong 4 tháng chủ đầu tư chậm bàn giao, doanh nghiệp đã hoàn tiền thuê nhà cho khách hàng, tổng cộng 8 triệu đồng, vị chi 2 triệu đồng mỗi tháng. "Chuyện này tuy rất nhỏ và khoản tiền bồi thường cũng không lớn nhưng trách nhiệm của doanh nghiệp quá kém nên tôi làm cho ra lẽ", người này nói.

Còn trường hợp của khách hàng Saigon Pearl cá biệt hơn, giao nhà trễ 1 năm so với cam kết, Vietnam Land (chủ đầu tư) sẵn sàng bồi thường chậm giao nhà theo lãi suất tiền USD như thỏa thuận ban đầu nhưng khách hàng kiên quyết yêu cầu được bồi thường theo lãi suất tiền đồng. Trong trường hợp này đồng đôla bị rẻ rúng vì lãi suất USD trong năm 2008 chỉ ở mức 4% còn lãi suất tiền đồng lên đến 18%.
Câu chuyện của khách hàng mua căn hộ Horizon 22 tầng tại số 214 Trần Quang Khảicó phần mệt mỏi hơn, họ đang đứng ngồi không yên vì dự án không những chậm triển khai (có thời gian bị dừng hẳn). Việc giao nhà trễ chắc chắn không thể tránh khỏi mà còn bị chủ đầu tư nâng giá bán căn hộ.
Trong hợp đồng hứa mua hứa bán ký với khách hàng hồi tháng 5/2004, Công ty địa ốc Fico (chủ đầu tư) cam kết hoàn tất dự án trong 30 tháng kể từ ngày ký. Nếu chậm giao nhà, chủ đầu tư trả lãi suất 0,5% mỗi tháng trong khoảng thời gian kéo dài bàn giao căn hộ cho tổng số tiền khách hàng đã đóng trước. Tuy nhiên, hồi tháng 7/2008 khách hàng bật ngửa khi được doanh nghiệp thông báo tăng giá bán từ 13-14 triệu thành 19-20 triệu đồng mỗi m2, vị chi tăng thêm 6 triệu đồng mỗi m2. Gần 5 năm trôi qua, dự án chưa hình thành theo cam kết, không những chưa được bồi thường mà khách hàng còn phải đối mặt với việc trả thêm trung bình 400-800 triệu đồng mỗi căn hộ. Hiện nay nhiều khách hàng đang tính đến chuyện kiện chủ đầu tư ra tòa vì không chấp thuận cách tăng giá theo kiểu áp đặt này.
Tổng giám đốc Công ty cổ phần địa ốc ACB (ACBR) Phạm Văn Hải phân tích, việc kéo dài thời gian chậm giao nhà đã trở thành chuyện cơm bữa ở thị trường địa ốc VN. Có nhiều nguyên nhân: do năng lực tài chính của chủ đầu tư còn hạn chế, tình hình kinh tế có nhiều biến động, vật liệu xây dựng, lãi suất bất ổn… Chỉ cần thị trường có những trồi sụt nhất thời cũng dễ khiến công trình bị đình trệ. Ông đề cập thêm, trên thực tế từng xảy ra chuyện chủ đầu tư sử dụng tiền góp vốn của khách hàng vào phi vụ làm ăn khác khiến cho dự án bị hụt vốn, dẫn đến chậm tiến độ.
Tuy nhiên, ông Hải cho rằng nếu chỉ chậm giao nhà 3-4 tháng thì khách hàng vẫn có thể chấp nhận được. Trường hợp chậm từ 2 quý trở lên, nhiều khả năng xung đột sẽ xảy ra vì thiệt hại lúc này tương đối lớn.
Theo lãnh đạo ACBR, người mua căn hộ với giá gốc sẽ không quan tâm chuyện bồi thường chậm giao nhà vì bản thân họ không bị mua hớ với giá cao. Ngược lại, chính những người mua sang tay với giá đắt đỏ cùng với các khoản chênh lệch khá lớn sẽ kỳ vọng nhận được một khoản tiền bồi thường chậm giao nhà để gỡ gạc cơn thua lỗ.
Chuyên gia này đề xuất thêm, đối với việc mua nhà hình thành trong tương lai, để đảm bảo tiền vốn khách hàng góp với chủ đầu tư được sử dụng đúng mục đích, đôi bên nên chọn ra một đơn vị thứ 3 là ngân hàng giám sát việc sử dụng khoản tiền này. Toàn bộ vốn khách hàng góp vào sẽ được giải ngân theo tiến độ công trình để đảm bảo công bằng.
Trong khi đó, Trưởng văn phòng luật sư Nguyễn Gia Linh, Nguyễn Sa Linh, khẳng định, nếu trong hợp đồng có đề cập đến chuyện bồi thường chậm giao nhà nhưng chủ đầu tư chưa thực hiện đúng thì khách hàng có quyền khởi kiện theo Bộ Luật dân sự.
Tuy nhiên, ông Linh khuyến cáo khách hàng nên cân nhắc, đọc kỹ hợp đồng và tìm chuyên gia tư vấn trước khi quyết định mua căn hộ hình thành trong tương lai. Bởi lẽ, theo ông, hiện nay mua nhà kiểu này tỷ lệ rủi ro khá cao. Doanh nghiệp trực tiếp và chủ động soạn thảo hợp đồng, trong khi đó khách hàng không có vị thế thỏa thuận ngang bằng nên việc bảo vệ quyền lợi người mua nhà chưa được chặt chẽ.
Giới kinh doanh bất động sản ví von câu chuyện bồi thường chậm giao nhà bằng "phép vua thua lệ làng", những gì luật chưa quy định rõ thì người mua kẻ bán có quyền thỏa thuận theo thông lệ. Những gì đôi bên đã hứa với nhau trong hợp đồng góp vốn, hợp đồng hứa mua hứa bán, hợp đồng góp vốn đầu tư… đều là cam kết có tính tương đối vì hiện nay không có mẫu số chung cho việc bồi thường chậm giao nhà.
SOURCE: VNEXPRESS.NET

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM: TRANH CHẤP GIỮA AAA VÀ NGÂN HÀNG ĐẠI TÍN, ĐỪNG ĐỔ HẾT CHO BẢO HIỂM!

PHẠM HÙNG
Những tranh chấp về quyền lợi bảo hiểm không phải bây giờ mới có. Tuy nhiên, để tìm được tiếng nói chung của cả bên thiệt hại và DN bảo hiểm không hề đơn giản dù pháp luật đã quy định cụ thể. Câu chuyện của Ngân hàng TMCP Đại Tín và Cty cổ phần Bảo hiểm AAA là một minh chứng cụ thể.
Sự việc diễn ra đã khá lâu nhưng hai bên vẫn chưa thống nhất được với nhau về khái niệm: “rủi ro bất ngờ”.
“Rủi ro bất ngờ”?
Ngược lại thời gian, ngày 1/8/2008 một cơn mưa lớn đổ xuống tràn ngập hầu hết các tuyến đường ở TP HCM. Theo Đài khí tượng thủy văn TP HCM, từ 12h20 – 12h35 và từ 15h35 – 18h45 trời có mưa rào và lượng mưa tại quận 1 là 130 mm, lớn nhất trong các quận của thành phố.
Vì thế, lúc 16h, nước ngập đã tràn vào tầng hầm để xe của Ngân hàng Đại Tín (số 75 Hồ Hảo Hớn, phường Cô Giang, quận 1). Khoảng 1 tiếng rưỡi sau (17h30) nước dưới tầng hầm dâng cao 1m đã làm chiếc Mecerdes của Ngân hàng Đại Tín chìm trong nước.
Nhưng mãi 3 ngày sau (ngày 4/8), Ngân hàng Đại Tín mới thông báo sự việc này cho nhà bảo hiểm (theo giấy biên nhận của Cty Bảo hiểm AAA) với yêu cầu xác nhận thiệt hại và bồi thường vì phía ngân hàng cho rằng đây là sự kiện “rủi ro bất ngờ” và ngân hàng đã mua bảo hiểm cho chiếc xe này.
Tuy vậy, sau các thủ tục giám định, Bảo hiểm AAA xác định: “Thiệt hại hệ thống điện của xe BKS 52P -1980 không thuộc phạm vi bảo hiểm vật chất thân xe của Bảo hiểm AAA”. Vì sự việc trên không phải là rủi ro bất ngờ.
Ý kiến của chuyên gia
Đại diện cho ngành bảo hiểm, ông Phùng Đắc Lộc – Tổng Thư ký Hiệp hội Bảo hiểm VN khẳng định: “Trong trường hợp này, người tham gia bảo hiểm là Ngân hàng Đại Tín đã không mẫn cán trong việc khắc phục sự cố. Diễn biến nước mưa tràn ngập tầng hầm xe kéo dài từ 16h đến 17h30 nên không thể cho đó là yếu tố bất ngờ hoặc không lường trước được”.
Đồng tình với quan điểm của ông Lộc, Luật sư Bùi Quang Nghiêm – Phó Đoàn Luật sư TP HCM cho rằng: Cty CP Bảo hiểm AAA không có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho Ngân hàng Đại Tín do không xảy ra sự kiện bảo hiểm theo sự thoả thuận giữa các bên, vì:
Ngân hàng Đại tín áp dụng điểm e Điều 12.1 Quyết định của TGĐ Cty cổ phần Bảo hiểm AAA để yêu cầu Bảo hiểm AAA trả tiền bảo hiểm. Tuy vậy, điểm e Điều 12.1 quy định: Bảo hiểm AAA bồi thường cho Chủ xe những thiệt hại vật chất do những tai nạn bất ngờ, ngoài sự kiểm soát của Chủ xe, lái xe trong những trường hợp:… e. Tai nạn rủi ro bất ngờ khác ngoài những điểm loại trừ quy định tại Điều 13 dưới đây.
Nhưng theo LS Nghiêm, việc ôtô mang BKS 52P-1980 bị thiệt hại nặng hệ thống điện do ngập nước là một rủi ro nhưng không mang yếu tố bất ngờ. Ngân hàng không thể cho rằng mình không thể lường trước được thiệt hại có thể gây ra cho chiếc xe do: đã có dự báo trước của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn khu vực Nam Bộ là sẽ có mưa lớn bất thường trong năm ngày đầu tháng tám. Mặt khác, vào ngày 1/8/2008, mưa bắt đầu vào lúc 16.00 giờ, nước mưa ngoài đường bắt đầu tràn vào tầng hầm lúc 16 giờ 30 đến 17.00 nước trong tầng hầm dâng lên và đã ngập 0,5 m. Từ lúc bắt đầu mưa đến lúc nước ngập tầng hầm kéo dài 1 tiếng, lẽ ra ngân hàng phải nhìn thấy được rủi ro có thể xảy ra đối với chiếc xe. Như vậy, rủi ro là có thật và gây ra thiệt hại thực tế nhưng hoàn toàn không mang tính bất ngờ đối với ngân hàng.
LS Nghiêm còn chứng minh rằng, Bảo hiểm AAA không có trách nhiệm bồi thường ngay cả khi đó là sự kiện bảo hiểm, vì:

- Khoản 1 Điều 575 BLDS quy định: “Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên mua bảo hiểm hoặc bên được bảo hiểm phải báo ngay cho bên bảo hiểm và phải thực hiện mọi biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại”. Giả sử sự kiện mưa lớn vào ngày 1/8/2008 và việc nước tràn vào tầng hầm là bất ngờ đối với ngân hàng, tuy nhiên, ngân hàng có thể hành động trong khả năng cho phép bằng cách đưa xe ra khỏi tầng hầm. Việc làm này kéo dài không quá 5 phút so với khoảng thời gian ngồi nhìn từ lúc nước bắt đầu tràn vào đến khi dâng cao 0,5 m là 30 phút. Điều này có thể giải thích, ngân hàng đã không mẫn cán trong việc khắc phục sự cố.
Cũng cùng quan điểm này, LS Trần Đình Bảo Quốc (Đoàn Luật sư TP HCM) cũng cho biết:
Theo khoản 1 Điều 161 Bộ luật Dân sự, một sự kiện khi xảy ra được xem là bất khả kháng phải có đủ các yếu tố cấu thành như: tính khách quan, tính không tiên liệu được về sự kiện đó và tính không thể khắc phục. Các yếu tố này phải đáp ứng điều kiện là mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép đã được áp dụng để khắc phục sự kiện bất khả kháng đó. Do vậy, lập luận của ngân hàng là không có cơ sở… Lập luận trên của ngân hàng cho thấy lỗi chủ quan của ngân hàng trong việc chậm trễ ứng cứu chính tài sản của mình. Ngân hàng do chủ quan đã chậm trễ và không làm hết khả năng trong việc cứu hộ chiếc xe – tài sản của ngân hàng. Do đó, Cty bảo hiểm không đồng ý bồi thường theo hợp đồng mà chỉ hỗ trợ là đúng.
Cũng cần phải nói thêm rằng, thời điểm từ 16 giờ đến 17 giờ 30 được coi là giờ hành chính, vì thế không thể nói đây là sự kiện bất khả kháng và phía ngân hàng không thể tự khắc phục được.
Ông Phạm Trường Khê – PTGĐ Cty CP BH AAA khi trao đổi với DĐDN cho biết: Nhiều khách hàng có tâm lý, các nhà bảo hiểm chỉ mong thu được phí còn khi xảy ra rủi ro thì tìm cách tránh né. Qua sự việc này, chúng tôi rất mong muốn khách hàng tìm hiểu kỹ hợp đồng, tránh tranh cãi và kiện tụng sau này.

SOURCE: BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP
Trích dẫn từ:

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN NÔNG SẢN: BỊ QUỴT NỢ HÀNG TRĂM TRIỆU ĐỒNG

THÁI HIẾU
Hay giao dịch theo kiểu “đưa hàng trước, nhận tiền sau” nên các hộ nông dân đã bị rủi ro. Gần chục hộ nông dân cư trú ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã kéo nhau đến trụ sở doanh nghiệp tư nhân Nam Phát nằm trên địa bàn huyện (KP Cầu Xéo, xã Hậu Thành) để ngăn cản chủ doanh nghiệp bán máy móc, thiết bị trả nợ cho ngân hàng. Thì ra chủ doanh nghiệp này vẫn còn mắc nợ của các hộ hàng trăm triệu đồng.
Chỉ hứa hẹn suông
Đầu tháng 6-2008, nhiều hộ nông dân đã tin tưởng bán gạo cho doanh nghiệp Nam Phát với số tiền hơn 760 triệu đồng. Sau khi bán, các hộ đã tới lui nhiều lần để yêu cầu doanh nghiệp trả tiền nhưng họ chỉ nhận được những lời hứa suông. Tức mình, các hộ đã kéo đến nhà máy của doanh nghiệp để đòi lại số gạo đã bán. Chủ doanh nghiệp liền tìm cách thương lượng cho qua, rồi sau đó chở số gạo trong kho đi nơi khác. Đến ngày 25-6-2008, vợ chồng chủ doanh nghiệp đã bỏ trốn khỏi địa phương.
Không còn cách nào khác, một số bà con đã khởi kiện chủ doanh nghiệp ra Tòa án huyện Cái Bè. Ngày 16-7-2008, TAND huyện đã có phiếu chuyển hồ sơ vụ án sang công an huyện vì nhận thấy chủ doanh nghiệp có dấu hiệu phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Nhưng sau đó, công an huyện đã chuyển trả hồ sơ cho tòa án với lý do chỉ là tranh chấp dân sự. Lại nữa, khi được triệu tập thì vợ chồng chủ doanh nghiệp đều đến trình diện đầy đủ và cam kết sẽ trả nợ. Cuối năm 2008, TAND huyện Cái Bè đã lần lượt xét xử các vụ án đòi nợ nêu trên theo hướng buộc chủ doanh nghiệp phải trả nợ cho bà con.
Âm thầm bán tài sản để “xù” nợ
Bà Huỳnh Thị Thúy, một trong những nông dân đã bán lúa, than thở: “Vì tin tưởng doanh nghiệp nên tôi đã nhận bán gạo giúp cho ba người khác với số tiền gần 155 triệu đồng. Đến nay tôi chỉ mới thu hồi được hơn 55 triệu đồng!”. Bà Trần Thị Hồng Hạnh phản ánh: “Trước đó, chủ doanh nghiệp đã lén lút bán máy móc trong nhà xưởng để trả nợ ngân hàng khi chưa đáo hạn. Tiếp nữa, sau khi chủ doanh nghiệp bỏ trốn, ngân hàng đã đến tháo máy móc của doanh nghiệp để cấn trừ nợ. Biết đến bao giờ bà con tụi tui mới được trả hết tiền?”. Một người dân khác nói: “Trước khi Thi hành án huyện đến kê biên tài sản của doanh nghiệp để đảm bảo việc thi hành án thì chủ doanh nghiệp đã âm thầm sang nhượng một lô đất ở huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nhằm tránh né nghĩa vụ trả nợ”.

Trao đổi với phóng viên, ông Võ Quốc Định, Giám đốc Ngân hàng Phương Nam – Chi nhánh Tiền Giang (ngân hàng đã cho doanh nghiệp Nam Phát vay tiền), giải thích: “Pháp luật cho phép bên thế chấp bán tài sản để trả nợ mà không cần đợi đến đáo hạn. Chính ngân hàng cũng đã khởi kiện doanh nghiệp trên và trong phiên hòa giải tại tòa án thì doanh nghiệp đã cam kết trả nợ. Hiện ngân hàng đang chờ được thi hành án quyết định hòa giải đó”.
Ông Âu Văn Luyến, Trưởng Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, cho biết: “Thi hành án huyện đã kịp thời kê biên toàn bộ tài sản của doanh nghiệp Nam Phát để trả nợ cho ngân hàng và bà con. Nhưng theo ước tính thì số tài sản đó không đủ để chi trả cho các chủ nợ. Do vụ việc phức tạp nên Thi hành án huyện đã đề xuất Thi hành án tỉnh trực tiếp giải quyết”.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

KINH DOANH CÔNG SẢN

VOV - Vụ việc “kinh doanh công sản” của Viện Nghiên cứu Công nghệ và Phát triển SENA (gọi tắt là Viện SENA) có trụ sở bề thế tại tòa nhà 35 Điện Biên Phủ đang được dư luận đặc biệt quan tâm trong những ngày vừa qua. Ông Viện trưởng Nguyễn Sơn Lộ đã lý giải vụ việc này như thế nào? Cơ quan chức năng của thành phố Hà Nội sẽ xử lý ra sao?
Lý lẽ của ông Viện trưởng
17h00, ngày 17/3/2009, chúng tôi có mặt tại tòa nhà 35 Điện Biên Phủ theo lời hẹn làm việc của Viện trưởng Nguyễn Sơn Lộ. Tại buổi làm việc này, ông Lộ thừa nhận: Viện SENA không có các tổ chức như Chi bộ, Công đoàn, Đoàn Thanh niên… Viện cũng chỉ ký hợp đồng với “khoảng 7 đến 8 người”. Lý giải điều này, ông Lộ cho biết: Viện là một hệ thống bao gồm cơ quan Viện và các đơn vị trực thuộc. Cơ quan Viện có tư cách pháp nhân là viện nghiên cứu ứng dụng. Các đơn vị trực thuộc Viện có tư cách pháp nhân là các Công ty cổ phần.
Lý giải của ông Nguyễn Sơn Lộ rõ ràng là rất cần được làm rõ. Nhưng ông Lộ cho rằng đây là vấn đề nội bộ nên không đồng ý cung cấp cụ thể, kể cả những ai được Viện ký hợp đồng, được hưởng lương, đóng bảo hiểm xã hội (mà theo đơn tố cáo thì chỉ có 5 người là nhân viên kỹ thuật, bảo vệ, lái xe, nhân viên lễ tân và nhân viên tạp vụ) ông Lộ cũng cho rằng không quan trọng mà chỉ nói “khoảng 7 đến 8 người”.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự về hợp đồng cho thuê nhà và Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 27/1/2007 của Thủ tướng Chính phủ về xử lý, sắp sếp cơ sở nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước, Sở Xây dựng Hà Nội đề nghị UBNDTP. Hà Nội cho phép xử lý thu hồi lại toàn bộ diện tích nhà tại 35 phố Điện Biên Phủ.
Tuy nhiên, theo Điều lệ hoạt động của Viện SENA được ban hành theo Quyết định 134/TC-LHH ngày 3/3/2000 của Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam thì các đơn vị trực thuộc của Viện SENA là: Văn phòng, các phòng ban và các Trung tâm; không hề có hệ thống các Công ty cổ phần. Trong khi đó, theo qui định của pháp luật, cụ thể là theo Điều 77 Luật Doanh nghiệp, thì Công ty cổ phần không phải là đơn vị trực thuộc của bất kỳ tổ chức nào, nếu Viện SENA có góp vốn thì cũng chỉ là một trong những cổ đông thành lập Công ty mà thôi.
Việc ông Lộ tự ý ra quyết định bổ nhiệm bà Thạch Lê Anh làm Phó Viện trưởng SENA mà theo Điều lệ qui định thuộc thẩm quyền của Liên hiệp các hội KHKT, ông Lộ lý giải: Có 2 loại Viện phó, một là “Viện phó vĩnh viễn”, hai là “Viện phó Chương trình”. Bà Thạch Lê Anh thuộc loại thứ hai – Viện phó Chương trình – nên thuộc thẩm quyền ông Lộ bổ nhiệm. Tuy nhiên, trong Điều lệ của SENA lại không hề có chức danh “Viện phó Chương trình”. Thực tế, trong các văn bản mà chúng tôi thu thập được, bà Thạch Lê Anh đều ký với chức danh “Phó Viện trưởng SENA”!..

Nội dung mà ông Nguyễn Sơn Lộ cho là quan trọng và nhấn mạnh với chúng tôi trong buổi làm việc là Tòa nhà 35 Điện Biên Phủ thuộc sở hữu của SENA chứ không phải của Nhà nước. Ông Lộ nói: “Thực ra nhà này xây bằng vốn tự có của chúng tôi. Đừng nhầm lẫn giữa quản lý và sở hữu. Ngôi nhà cũ có 164m2 sàn, nhà đấy theo qui định mình phải trả tiền thuê nhà cho Nhà nước. Họ bảo mình đăng ký kê khai. Nhưng phải xác định đơn vị mình là kinh doanh hay sự nghiệp. Nếu là sự nghiệp thì hình như là một nghìn tám. Nhà này trước là của Bộ Công an, sau này chuyển cho chúng tôi, bọn tôi làm khốn khổ thủ tục. Nếu có chậm thì chậm của Nhà nước mấy triệu. Tôi nghĩ là không lớn lắm…”.
Còn về việc Viện SENA cho các tổ chức nước ngoài thuê nhà, ông Lộ khẳng định: Các hợp đồng đã ký không phải là hợp đồng thuê nhà  mà là “Hợp đồng thỏa thuận dịch vụ” nằm trong chương trình hợp tác “Ngôi nhà Khoa học và Công nghệ”. Trong văn bản gửi Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam, Viện trưởng Nguyễn Sơn Lộ ghi rõ: “Lấy các Viện của Pháp làm ví dụ. Họ đến ngôi nhà 35 Điện Biên Phủ không phải để thuê trụ sở mà là để phối hợp cùng Viện SENA thực hiện chương trình “Ngôi nhà Khoa học và Công nghệ”… Chúng tôi hỏi: “Chương trình “Ngôi nhà Khoa học và Công nghệ” qui mô như thế nào?”.
Ông Lộ: “Chương trình này chỉ muốn những Viện của Pháp và Việt Nam ngồi cạnh với nhau cái đã”. Lại hỏi: “Đơn vị nào đứng ra chủ trì việc này? Có quyết định của cơ quan có thẩm quyền hay không?”. Ông Lộ nói nhanh: “Đại sứ quán Pháp.” – Rồi ông lái ngay sang chuyện: “Vừa rồi, tôi nghĩ, người tố cáo kiện 2 vấn đề lớn nhất là cho thuê nhà thuộc sở hữu Nhà nước và trốn thuế. Còn tất cả các vấn đề khác thì nó là nội bộ. Hai vấn đề lớn nhất thì tôi đã nói với các anh rồi…”.
Chúng tôi tiếp tục đặt vấn đề, “Ngôi nhà Khoa học và Công nghệ” với sự tham gia hoạt động của các tổ chức nước ngoài nhưng có được phép thành lập và hoạt động hay không? – Ông Lộ không trả lời vấn đề này, chỉ đưa ra một tấm bảng gỗ nhỏ in hình tòa nhà để làm… căn cứ. Theo tìm hiểu của chúng tôi, tham gia vào “ngôi nhà” này, ngoài các tổ chức của Pháp, còn có Công ty JETWIEW, chuyên mua bán tấm cách nhiệt, có trụ sở tại Hồng Kông?
Những lý lẽ trên của ông Viện trưởng Nguyễn Sơn Lộ, dưới góc nhìn của các cơ quan chức năng, tiếc thay, lại không đồng nhất.
Cơ quan chức năng đề nghị thu hồi tòa nhà 35 Điện Biên Phủ!
Trong lý lẽ của ông Lộ, tòa nhà 35 Điện Biên Phủ thuộc sở hữu của Viện SENA. Tuy nhiên, tại văn bản số 573/QL&PTN-QL ngày 9/3/2009, Cty Quản lý và Phát triển nhà Hà Nội đã khẳng định nguồn gốc và quyền sở hữu nhà đất tại 35 Điện Biên Phủ là thuộc sở hữu Nhà nước. Do đó, cơ quan này đề xuất một số biện pháp xử lý. Trong đó có nội dung: truy thu số tiền thuê nhà thuộc sở hữu Nhà nước mà SENA chưa thực hiện theo đúng quy định của pháp luật từ 1/1/2005 đến 31/12/2008. Văn bản này, Công ty Quản lý và Phát triển nhà Hà Nội đã gửi Sở Xây dựng Hà Nội để báo cáo.
Cùng liên quan đến việc xử lý nhà 35 Điện Biên Phủ, ngày 10/3/2009, Sở Xây dựng Hà Nội đã có văn bản số 1370/SXD-QLN gửi UBND thành phố Hà Nội, nội dung như sau:
Nhà 35 Điện Biên Phủ là nhà thuộc sở hữu Nhà nước của thành phố Hà Nội do Công ty Quản lý và Phát triển nhà Hà Nội quản lý, cho thuê. Theo hồ sơ lưu tại Công ty Quản lý và Phát triển nhà Hà Nội, có hợp đồng thuê nhà ngày 6/5/1997 đứng tên bên thuê nhà là Viện Nghiên cứu Kỹ thuật và Phát triển đô thị (Viện SENA), diện tích thuê là ngôi nhà 2 tầng có sẵn, diện tích thuê 164m2, thời hạn thuê đến 6/5/2000. Ngày 28/10/1997, Kiến trúc sư trưởng thành phố cấp Giấy phép xây dựng số 241/GPXD cho Công ty Kinh doanh nhà số 1 xây lại thành 2 ngôi nhà làm việc: 1 ngôi 4 tầng, diện tích sàn xây dựng 545m2; 1 ngôi 7 tầng, diện tích sàn 1.287,7m2.
Diện tích nhà sau khi xây dựng xong thuộc về Cty Kinh doanh nhà số 1 quản lý. Và Viện SENA thực hiện ký lại hợp đồng thuê nhà theo quy định hiện hành. Công ty Kinh doanh nhà số 1 đã ủy quyền cho Viện SENA đầu tư vốn và thực hiện xây dựng. Hết hạn hợp đồng thuê nhà, Cty Quản lý và Phát triển nhà Hà Nội (thời điểm này là Công ty Kinh doanh nhà số 1 Hà Nội) thông báo cho Viện SENA ký tiếp hợp đồng thuê nhà nhưng Viện không thực hiện, với lý do: Viện SENA là một đơn vị sự nghiệp. Hiện nay, Viện SENA không sử dụng nhà mà cho các tổ chức khác thuê lại, cụ thể có các tổ chức thuê lại để làm văn phòng như sau: JETVIEW Việt Nam (Hồng Kông); CENTRE DE LA RECHERCHE SCIENTIFIQUE (Pháp); Tổ chức CIRAD (Pháp); Viện Nghiên cứu phát triển IRD (Pháp).
Văn bản của Sở Xây dựng Hà Nội kết luận và đề nghị: “Viện SENA không ký hợp đồng thuê nhà, không trả tiền thuê nhà cho Cty Quản lý và Phát triển nhà Hà Nội và không có nhu cầu sử dụng nhà mà đem cho thuê lại. Thực tế số nhà 35 Điện Biên Phủ hiện nay không do Viện SENA sử dụng, Viện SENA cũng không có chức năng kinh doanh nhà nhưng đã đem nhà thuê của Nhà nước cho thuê lại, thu lợi nhuận mà không đăng ký cho thuê và không được sự đồng ý của bên cho thuê nhà là vi phạm quy định về hợp đồng thuê nhà và đã sử dụng nhà không đúng mục đích thuê; đồng thời vi phạm các quy định về nghĩa vụ tài chính, thuế… của Nhà nước.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự về hợp đồng cho thuê nhà và Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 27/1/2007 của Thủ tướng Chính phủ về xử lý, sắp xếp cơ sở nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước, Sở Xây dựng Hà Nội đề nghị UBND thành phố Hà Nội cho phép xử lý thu hồi lại toàn bộ diện tích nhà tại 35 phố Điện Biên Phủ”.
SOURCE: VOVNEWS

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ: BỊ KIỆN ĐÒI 330 TRIỆU ĐỒNG VÌ … LÀM HƯ BỘ NGỰC

PHAN GIA HI
Theo bệnh nhân, bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ đã tắc trách, làm bộ ngực của bệnh nhân thay vì đẹp hơn thì lại “bằng phẳng như đàn ông”, rụng mất núm phải… TAND TP.HCM vừa thụ lý đơn của bà L. (Việt kiều Mỹ) kiện đòi bác sĩ H. (giám đốc một mỹ viện ở quận Phú Nhuận) bồi thường hơn 330 triệu đồng vì khi giải phẫu thẩm mỹ đã khiến bộ ngực của bà bị cắt bỏ, núm vú bên phải bị rụng mất và trên ngực đầy những vết sẹo. Ngoài ra, bà L. còn yêu cầu Bệnh viện V. (quận 3) phải có trách nhiệm liên quan vì bác sĩ H. đã giải phẫu cho bà ở chính bệnh viện này.
Chê bác sĩ Mỹ lên mạng gặp bác sĩ H.
Theo đơn kiện, cuối năm 2007, bà L. lên mạng tìm bác sĩ thẩm mỹ và gặp trang web của mỹ viện bác sĩ H. Trang web giới thiệu bác sĩ H. là thành viên viện hàn lâm phẫu thuật thẩm mỹ Hoa Kỳ, châu Âu, châu Á, Nam Mỹ; tốt nghiệp bác sĩ hệ chính quy năm 1972, chuyên ngành phẫu thuật, có kinh nghiệm phẫu thuật hơn 25 năm… Ngoài ra, trang web còn giới thiệu về phẫu thuật đặt túi ngực, hút mỡ, phẫu thuật bụng và những ca phẫu thuật thẩm mỹ tại mỹ viện nói chung, đặc biệt là phẫu thuật thẩm mỹ đặt túi ngực luôn đạt tỷ lệ thành công tuyệt đối…
Choáng ngợp vì những lời quảng cáo, bà L. đã điện thoại cho bác sĩ H. xin tư vấn phẫu thuật ngực cho bà. Trước đó, bà đã phẫu thuật tại Mỹ ba lần nhưng không ưng ý vì kích thước túi đặt quá to làm ngực xệ xuống. Bà L. nhờ bác sĩ H. lấy túi ngực ra, thu nhỏ ngực lại, bỏ túi đặt nhỏ vào và đặc biệt không được đụng đến núm vú. Trước đơn đặt hàng này, bác sĩ H. đã bảo đảm với bà là sẽ thực hiện đúng bởi ông rất có kinh nghiệm. Rồi ông hẹn bà ngày về Việt Nam để phẫu thuật.
Tan nát bộ ngực
Đầu tháng 2-2008, bà L. bay về TP.HCM. Khi gặp, bác sĩ H. đã cam kết thực hiện đúng bốn yêu cầu trên của bà và ra chi phí là 32 triệu đồng cho việc phẫu thuật cùng 3,2 triệu đồng cho nhân viên phụ mổ tại bệnh viện… Theo bà L. vài ngày sau, bác sĩ H. bảo bà đi khám tổng quát (tiền khám bà tự lo) với một người mà ông giới thiệu. Khám xong, bác sĩ H. nhận trước 35,2 triệu đồng (khoảng 2.200 USD). Đến ngày 18-2, bác sĩ H. đưa bà đến Bệnh viện V. để mổ sửa ngực.
Sau khi mổ, bà được nhập viện và truyền sáu túi dịch. Qua ba ngày, bà soi gương và hoảng hốt thấy núm vú bên phải sưng lên, đen như hòn than. Bà liền báo cho bác sĩ H. thì được ông bảo rằng đó là do ông nâng núm vú lên (việc này nằm ngoài yêu cầu của bà L.). Sau đó, bác sĩ H. tiếp tục truyền cho bà thêm sáu túi dịch truyền nữa và chích thuốc trong vòng 10 ngày vì vết thương bị nhiễm trùng.

Qua 10 ngày, bà được băng ngực rất chặt nhưng vẫn thấy có nước chảy ra trong khi bác sĩ H. lại nói chẳng sao cả. Đến khi cắt chỉ, bà thấy toàn thân lạnh toát, người rất mệt… nên đã mở băng ra xem thì thấy vết mổ bị hở, thấy cả túi nước bên trong. Bà vội gọi bác sĩ H., được mổ lần hai để may lại rồi chích thuốc và truyền tiếp sáu túi dịch.
Bà L. nhớ lại: Được vài ngày, vết mổ bên phải lại bị hở, nước dịch lại rỉ ra. Bà hốt hoảng báo cho bác sĩ H. biết. Hôm sau, khi bác sĩ H. vào, bà đã yêu cầu lấy túi trong ngực ra vì vết thương bị nhiễm trùng, bác sĩ may tới may lui mấy lần mà vết khâu cứ hở mãi làm bà rất nhức nhối, mệt mỏi. Vì yêu cầu này, bà phải mổ lần ba. 10 ngày sau, bác sĩ H. cắt chỉ và nói “Không sao, cứ yên chí, mai mốt phẫu thuật đẹp hết lại cho”… Sau đó, bác sĩ H. cam kết làm lại miễn phí cho bà (có giấy cam kết và biên nhận ngày 7-3-2008).
Sau gần một tháng nằm bệnh viện, bà L. xuất viện, quay về Mỹ với bộ ngực phẳng như đàn ông nhưng lại đầy những vết sẹo ngang dọc. Chưa hết, sau đó núm vú bên phải của bà… bị rơi ra. Bà gọi điện thoại cho bác sĩ H. nhưng ông không trả lời và không hề liên lạc lại.
Kiện đòi bồi thường hơn 330 triệu đồng
Về Mỹ, bà L. phải nghỉ dưỡng sức thêm một thời gian, mãi đến tháng 5-2008 mới trở lại làm việc bình thường. Tháng 9-2008, bà quay về nước để làm rõ trắng đen chuyện bác sĩ H. “bỏ mặc bà sau khi phẫu thuật làm đẹp gây ra các biến chứng cho sức khỏe, phá hủy thiên chức làm mẹ và gây xáo trộn đời sống tình cảm” của bà.
Đầu tiên bà khởi kiện yêu cầu bác sĩ H. bồi thường gần 40 triệu đồng chi phí thuốc men, tiền phẫu thuật. Ngoài ra, bác sĩ H. còn phải bồi thường hơn sáu triệu đồng chi phí khách sạn, ăn uống do bà phải ở Việt Nam thêm 22 ngày để chữa bệnh; gần năm triệu đồng phụ phí đổi lại vé máy bay; 128 triệu đồng thu nhập bị mất từ lương trong hai tháng 3, 4-2008.
Đặc biệt, bà L. cho rằng mình bị tổn thất quá lớn về tinh thần từ việc bộ ngực bị cắt bỏ, ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt (cụ thể là bà đã bị hôn phu ruồng bỏ). Từ đó, bà yêu cầu bác sĩ H. phải bồi thường về tổn hại sức khỏe cho bà gần 20 triệu đồng, cộng thêm 30 triệu đồng bù đắp tổn thất về tinh thần. Hơn nữa, chi phí để bà trở về Việt Nam khởi kiện là khoảng 102 triệu đồng, bác sĩ H. cũng phải có trách nhiệm trả cho bà. Như vậy tổng cộng hết tất cả, bà buộc bác sĩ H. bồi thường hơn 330 triệu đồng.
Tố cáo sai phạm
Song song với việc khởi kiện, bà L. cũng gửi đơn tố cáo bác sĩ H. đến Sở Y tế TP vì “đã hoạt động sai chuyên môn, lĩnh vực, đã gây ra hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe cũng như tinh thần” của bà.
Theo bà L., sau này bà tìm hiểu mới biết cơ sở phẫu thuật thẩm mỹ mà bác sĩ H. làm giám đốc chỉ được phép xăm môi, xăm mí, hút mụn, các dịch vụ chăm sóc gây chảy máu, cấy tóc, gây gò má thấp, nâng sống mũi, phẫu thuật căng da mặt, xử lý nếp nhăn mi trên và mi dưới, tạo hình mắt một mí thành hai mí. Thế nhưng trang web của cơ sở này lại đưa ra nhiều loại phẫu thuật khác như đặt túi ngực, hút mỡ, phẫu thuật ngực, phẫu thuật bụng. Bà yêu cầu cơ quan quản lý phải có biện pháp xử lý thích đáng đối với bác sĩ H. để tương lai không còn có những nạn nhân như bà.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

TIN LUẬT HAY TIN … “CÒ”?

QUỐC DŨNG
Trong các Hợp đồng môi giới, bà Nguyễn Thị Kim Dung (xã Đại Hưng, Mỹ Đức, Hà Nội) cam kết sẽ đền bù gấp đôi số tiền đặt cọc nếu không “mua” được đất cho những người thuê bà. Nhưng khi đất không có, bà Dung hoàn toàn… vô sự, trong khi người thuê thì… mất tiền. Thực tế ấy đã đặt câu hỏi, người sử dụng dịch vụ phải tin vào luật, hay tin… “cò”, để tham gia thị trường bất động sản ?
Đúng lý: Vẫn mất tiền !
Để thực hiện thương vụ môi giới mua đất tại khu đô thị mới Nam An Khánh thuộc các xã An Khánh, An Thượng, huyện Hoài Đức, Hà Nội, bà Dung đã thể hiện thỏa thuận thành văn bản cụ thể với những người có nhu cầu với “tên” rất kêu: “Hợp đồng thuê làm thủ tục Đăng ký và mua quyền sử dụng” – nghĩa là ngay từ tiêu đề đã thể hiện người muốn mua đất đã chủ động thuê môi giới. Các hợp đồng đều có người làm chứng, có các điều khoản ràng buộc, có thời gian thực hiện, mức tiền, mức bồi hoàn, điều khoản xử lý vi phạm… Tóm lại là rất đầy đủ nội dung đối với một thỏa thuận dân sự và chắc chắn về pháp lý.
Chính vì thế, chỉ với hai khách hàng trong giai đoạn tháng 12/2007 và tháng 1/2008, bà Dung đã thu được tới 3,9 tỷ VND…. Trên hợp đồng, bà Dung và người giao tiền công nhận đó là tiền đặt cọc để phục vụ nhu cầu mua được đất. Nhưng cầm tiền xong, bà Dung không thực hiện được cam kết “mua được đất với giá gốc… trong vòng 15 ngày từ khi ký Hợp đồng tại khu đô thị mới Nam An Khánh”. Thế nên, bà Dung viết các giấy hẹn ghi rõ ngày thanh toán, trả lại tiền đặt cọc cho khách. Kết quả là tới tận bây giờ, những nạn nhân của bà vẫn chưa lấy lại được một xu trong số tiền 3,9 tỷ trên.
Theo quy định của các Hợp đồng môi giới, khi có mâu thuẫn hoặc một bên vi phạm cam kết thì các bên phải tiến hành hòa giải, không hòa giải được thì tòa dân sự là nơi giải quyết tranh chấp. Như vậy, nếu làm đúng luật để buộc “cò” phải trả tiền cho mình, các nạn nhân sẽ phải khởi kiện ra Tòa án. Phải theo đuổi suốt thời gian dài kiện tụng. Theo đuổi mà không biết có đòi lại được tiền hay không. Vì chắc chắn tòa án tuyên họ thắng kiện, nhưng việc lấy lại tiền thì do cơ quan thi hành án quyết định, và phụ thuộc vào tình trạng gia sản của “cò”. Vậy là, dù rất đúng luật, nhưng nguy cơ mất trắng tiền môi giới rất rõ ràng với những người mua đất qua “cò”. Thế nên, nếu các cơ quan chức năng không vào cuộc làm rõ đây có phải một vụ lừa đảo hay không, thì dường như những người tin “cò” chẳng biết bấu víu vào đâu để mà bảo đảm quyền lợi cho mình.

Vì sao?
VN hiện đã có, đang vận hành Luật Kinh doanh bất động sản, kèm theo đó là văn bản như nghị định, thông tư hướng dẫn… Việc xây dựng và vận hành các quy định đối với thị trường bất động sản là một bước tiến dài về phương diện quản lý. Nhưng câu hỏi đặt ra là hiệu quả thực sự của những quy định này đến đâu thì quá khó để trả lời. Chẳng hạn, theo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bất động sản thì các cá nhân hoạt động môi giới, định giá bất động sản, quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản phải qua đào tạo để được cấp chứng chỉ môi giới, định giá bất động sản. Các cá nhân này không được là cán bộ, công chức nhà nước, phải có bằng tốt nghiệp cao đẳng, hoặc đại học. Đồng thời, người quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản phải có giấy chứng nhận đã hoàn thành khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản. Còn với các tổ chức, để được phép kinh doanh bất động sản, thì phải có vốn pháp định tối thiểu 6 tỷ VND…
Quy định thế, nhưng việc xử phạt các vi phạm lại quá nhẹ nhàng. Và vì thế, không quá khó để nhận thấy các vi phạm trong thực hiện dịch vụ bất động sản sẽ gia tăng, chứ không giảm. Hiện, mức xử phạt các vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản là 60 – 70 triệu VND, kèm theo là buộc khắc phục hậu quả. Nhưng như trên đã nói, việc khắc phục hậu quả lại liên quan tới các quy định pháp luật khác và khả năng kinh tế của người vi phạm. Như vậy, thu nhập từ hoa hồng môi giới cao hơn mức xử phạt lại trở thành “thuốc kích thích” nhà môi giới cung cấp thông tin sai lệch với khách hàng. Đó là thực tế đã xảy ra trong ví dụ nêu trên, cũng như trong vụ mua căn hộ Adonis 1, 2 của Cty Vạn Thịnh Hưng tại TP HCM.
Mặt khác, các khách hàng chắc chắn sẽ không nộp tiền nếu không có niềm tin vào nhà môi giới. Mà để tin, thì chính khách hàng đã phải thẩm định những thông tin nhà môi giới cung cấp, gồm cả thông tin chính thức và… không “chính thức”. Có nghĩa, là giữa nhà môi giới và chủ dự án, cơ quan quản lý vẫn tồn tại một… khoảng trống mà quy định của văn bản quản lý không giám sát được hết. Đó cũng là khoảng trống lớn giữa quy định tại văn bản quản lý và hiệu quả áp dụng thực tế.
Tại hội nghị quốc tế về môi giới và đầu tư bất động sản vừa tổ chức ngày 28/3/2009, đại diện một DN kinh doanh bất động sản nhận xét, Luật Kinh doanh bất động sản chỉ quy định “suông” về nghề môi giới mà thiếu cơ chế giám sát, chế tài. Vì thế mà thị trường vẫn còn nhiều môi giới “dỏm” và đó là nguyên nhân gây thiệt hại cho người mua. Một thông tin do DN đưa ra tại Hội nghị này, là cả nước hiện mới có dưới 50 sàn giao dịch bất động sản, nhưng một nửa trong số đó chỉ phục vụ các kinh doanh các dự án do Cty quản lý sàn làm chủ đầu tư. Và có rất ít sàn giao dịch bất động sản có chức năng chuyên về môi giới. Thông tin này được xác nhận bởi đại diện của Bộ Xây Dựng.
Thế nên, chuyện không khách hàng nào đòi được tiền môi giới, chứ chưa nói là đòi được tiền phạt khi hợp đồng bị phá vỡ thì cũng là điều dễ hiểu. Mà khi không được Luật bảo vệ có hiệu quả, thì người phải tin vào ai trên thị trường bất động sản đây? Tin vào “cò” – vốn được luật hóa bằng tên gọi người môi giới chăng ?
SOURCE: BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP

TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TPHCM: RỐI THÊM DO TÒA ÁN?

VIẾT ĐOÀN
Chỉ là một vụ án “Kinh doanh thương mại về tranh chấp Hợp đồng kinh tế” thế nhưng liên tiếp trong thời gian vừa qua TAND Q7 (TP HCM) đã có đến 1 thông báo và 2 quyết định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời yêu cầu ngăn chặn và phong tỏa tài sản tiền gửi của đương sự. Tuy nhiên, điều đáng nói là những văn bản này đều có dấu hiệu trái luật hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật khiến DN phải… kêu cứu.
Theo Hợp đồng số 110809/UREA/12,500/MT, ngày 11/8/2009 Cty CP Kim Phú Gia (bên Bán) và Cty CP vật tư nông sản (bên Mua) mua bán phân UREA N46% với số lượng mua hàng là 12.500 tấn, được giao hàng tại Cảng Đà Nẵng với giá trị trên 3,4 triệu USD (khoảng 61,875 tỷ đồng). Như thỏa thuận NH NN-PTNT VN CN 8 phát hành 1 bảo lãnh thực hiện hợp đồng tương ứng 3% giá trị lô hàng cho bên Bán và bên Mua thụ hưởng (hơn 1,856 tỷ đồng). Số tiền này được trả cho bên Mua như một khoản bồi thường thiệt hại phát sinh do lỗi của bên Bán. Đồng thời, theo yêu cầu của bên Mua, NH Đầu tư & Phát triển CN Hà Thành (BIDV) đã ra một chứng thư bảo lãnh thanh toán 100% trị giá hợp đồng cho bên Bán và người thụ hưởng chứng thư bảo lãnh là Ngân hàng TMCP Phương Nam (Southern Bank).
Rắc rối ngoài hợp đồng
Trong khi hợp đồng chưa được thực hiện thì hai bên đã xảy ra tranh chấp và bên Bán đã khởi kiện ra TAND Q 7 (TP HCM). Theo như đơn khởi kiện ngày 11/11/2009, bên Bán cho rằng bên Mua đã vi phạm hợp đồng và đòi bồi thường số tiền 2% hợp đồng do chậm thực hiện. Trong đó, công văn ngày 4/9/2009 bên Bán gửi cho bên Mua cho rằng chứng thư bảo lãnh của BIDV không được Southern Bank đồng ý với một số điều trong thư bảo lãnh và đòi hỏi những cái không cần thiết. Do đó, đã đề nghị chuyển người thụ hưởng là NH NN-PTNT VN CN Sài Gòn.
Ngày 16/9/2009 bên Bán lại có văn bản gửi bên Mua với nội dung cho rằng “Chứng thư bảo lãnh của BIDV đã ràng buộc thêm điều kiện kèm theo các chứng từ chứng minh bên Mua đã nhận đủ hàng nhưng không thanh toán theo quy định của hợp đồng”. Tuy nhiên, nội dung của những văn bản này và các cuộc đàm phán đều bị bên Mua bác bỏ. Ông Nguyễn Tiến Dũng – TGĐ Cty CP vật tư nông sản (đại diện bên Mua) khẳng định: “Việc xác định người thụ hưởng trong thư bảo lãnh chúng tôi đã làm theo đúng như cam kết trong hợp đồng. Còn việc thay đổi người thụ hưởng thì hợp đồng không ràng buộc mà chỉ do hai bên đàm phán nên việc chấp thuận hay không phụ thuộc vào nội dung của cuộc đàm phán và chúng tôi không chấp thuận”.

Xem xét về các điều khoản trong hợp đồng mua bán này LS Võ Xuân Trung, Đoàn LS TP HCM khẳng định về phía bên Mua không hề có lỗi. Theo điều 7.2 của hợp đồng có đề nghị rõ bên thụ hưởng là Southern Bank và ngay từ đầu chứng thư bảo lãnh này đã đúng còn việc bên Bán đề nghị đổi sang ngân hàng khác không được ghi trong hợp đồng. Do đó, trong vụ việc này thì việc chuyển đổi ngân hàng hay không là do quyền của bên Mua chứ không thể bắt buộc. Đồng nhất với quan điểm trên, Luật gia Nguyễn Thành Sinh nói: Với tất cả các vụ án tranh chấp thương mại kiểu này thì điều trước tiên là phải căn cứ trên hợp đồng giữa hai bên. Giải thích về việc bên Bán về nội dung Chứng thư bảo lãnh hợp đồng, ông Sinh cho rằng với nội dung chứng thư bảo lãnh của BIDV là phù hợp và việc nội dung của bảo lãnh có thêm điều kiện “kèm theo các chứng từ chứng minh bên Mua đã nhận đủ hàng nhưng không thanh toán theo quy định của hợp đồng” chỉ chứng minh thêm khi thực hiện đúng nghĩa vụ của ngân hàng bảo lãnh với các bên liên quan.
Đề nghị đổi thẩm phán!
Trước khi khởi kiện ra tòa, ngày 10/11/2009 bên Bán đã có đơn yêu cầu TAND Q 7 TP HCM ngăn chặn và phong tỏa tài khoản tiền gửi khẩn cấp tài khoản số 1702201128071 tại NH NN-PTNT CN 8. Theo đó, ngày 13/11/2009 TAND Q 7 đã ban hành Thông báo số 45 về việc thu lý vụ án và đồng thời cùng ngày thẩm phán tiếp tục ban hành Công văn số 267/CV-TA gửi NH NN-PTNT CN 8 yêu cầu không cho hai bên giao dịch số tiền 1,856 tỷ đồng. Do đó, tại văn bản gửi các cơ quan chức năng bên Mua đã khiếu nại việc thẩm phán ban hành văn bản trên là trái luật và không đủ hiệu lực về pháp luật để các bên thi hành. Tiếp theo đó, thẩm phán lại ban Quyết định số 1/2010/QĐ-BPKCTT ngày 3/2/2010 về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, tiếp tục đề nghị ngân hàng không cho thực hiện việc giao dịch trên. Thậm chí, quyết định trên TA cũng không gửi cho người bị đơn trong vụ kiện mà ngày 11/3/2010 người của công ty đến trực tiếp nhận tại TAND Q 7.
Trong khi những rắc rối trên chưa được giải quyết thì ngày 30/3/2010 thẩm phán lại tiếp tục có Quyết định số 02/2010/QĐ- BPKCTT áp dụng biện pháp phong tỏa  khẩn cấp tạm thời số tài khoản và số tiền trên với thời hạn 6 tháng kể từ ngày ra quyết định. Như vậy, có thể hiểu ở thời điểm hiện tại thì một văn bản và hai quyết định áp dụng biện pháp phong tỏa khẩn cấp tạm thời của TAND Q7 đều có hiệu lực như nhau. LS Võ Xuân Trung cho rằng cần xem xét lại trình độ của thẩm phán bởi giải quyết một vụ án tranh chấp thương mại chỉ giải quyết trong vòng 2 tháng, còn trong trường hợp thẩm phán và các bên phải thu thập chứng cứ để chứng minh thêm cho vụ án thì mới kéo dài thời hạn thêm 1 tháng nữa. Vậy dựa vào đâu để thẩm phán ra một quyết định phong tỏa tài khoản  tới 6 tháng ?
Trước những quyết định, văn bản của tòa bên Mua đã chính thức có văn bản đề nghị thay đổi thẩm phán với lý do “Trong quá trình làm việc thẩm phán không khách quan, ban hành một số văn bản có liên quan đến vụ án, không đúng pháp luật”.
Theo giới chuyên môn, đối với các đối tác nước ngoài khi có giao dịch với số lượng tiền lớn như trong hợp đồng này thì họ lựa chọn rất kỹ ngân hàng mở L/C cho việc thực hiện hợp đồng. Trong đó, thông thường họ chọn các ngân hàng nhà nước hoặc một trong 4 ngân hàng TMCP của nhà nước tham gia việc bảo lãnh và mở L/C về lĩnh vực này, đồng thời có uy tín trong nước và quốc tế. Với lựa chọn ngân hàng không phù hợp với đối tác nước ngoài thì việc bị hủy L/C là một điều rất dễ hiểu.
SOURCE: BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code