Được
sự đồng ý của Chủ tịch Nước, Đoàn công tác của Ban Chỉ đạo cải cách tư
pháp Trung ương do đồng chí Trương Vĩnh Trọng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí
thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Trưởng ban thường trực
Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương dẫn đầu đi thăm và nghiên cứu
về công tác cải cách tư pháp ở các nước Ca-na-đa, Trung Quốc và Nhật
Bản. Là thành viên của Đoàn, tôi xin thông tin một số nhận thức về công
tác cải cách tư pháp ở các nước nói trên như sau:
1. Một số vấn đề chung
Trung
Quốc, Ca-na-đa, Nhật Bản tuy có những đặc điểm khác nhau về thể chế
chính trị, về điều kiện kinh tế - xã hội, về hệ thống pháp luật và tổ
chức các cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, xét về hoạt động tư pháp và cải
cách tư pháp, có thể khái quát ở những nội dung có tính chất chung nhất
là:
1.1.
Mặc dầu nền tư pháp ở các nước này đã có lịch sử phát triển lâu dài và
đạt được kết quả quan trọng, tạo được lòng tin của người dân vào hoạt
động tư pháp, tuy nhiên tất cả các nước đều xác định việc nghiên cứu để
tiếp tục đổi mới hoạt động tư pháp vẫn là một yêu cầu thiết thực nhằm
xây dựng nền tư pháp trong sạch, độc lập, hoạt động có hiệu quả, tạo mối
quan hệ tin cậy, hợp tác và tăng cường sự giám sát của công chúng đối
với hoạt động tư pháp; tạo các điều kiện cần thiết để công chức tư pháp
yên tâm thực hiện tốt công vụ… Các nước đều xác định cải cách tư pháp
không chỉ có ý nghĩa đối với các cơ quan tư pháp mà còn là nội dung có
quan hệ chặt chẽ với hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp. Vì
lẽ đó mà cải cách tư pháp đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng thông
qua Uỷ ban Chính pháp (Trung Quốc); có mối quan hệ hữu cơ với lập pháp,
hành pháp (Ca-na-đa, Nhật Bản). Các nước cũng đều xác định: Cải cách tư
pháp không chỉ vì các cơ quan tư pháp mà còn vì yêu cầu của sự hoà nhập
và phát triển, mở rộng sự hợp tác để học tập các kinh nghiệm trong việc
xây dựng pháp luật, việc áp dụng pháp luật trong các hoạt động tố tụng,
việc xác định trình tự và thẩm quyền tố tụng (vấn đề áp dụng án lệ và
luật thành văn…), vai trò của công chúng trong hoạt động tư pháp…
1.2.
Các nước đều quan tâm đến việc xây dựng hệ thống pháp luật, bảo đảm các
lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội đều được điều chỉnh bằng các quy
định pháp luật. Các đạo luật chủ yếu là do Chính phủ hoặc đại biểu Quốc
hội trình, khắc phục tình trạng các Bộ, ngành trình các dự án luật (hạn
chế tư tưởng lợi ích cục bộ trong việc xây dựng luật); các văn bản luật
được thẩm định chu đáo, kỹ lưỡng trước khi trình Quốc hội nên rút ngắn
được thời gian thảo luận; kỳ họp Quốc hội thông qua được nhiều luật.
Thông thường Quốc hội Nhật Bản họp định kỳ với thời gian là 150 ngày và
mỗi kỳ họp thông qua khoảng 100 đạo luật. Luật xây dựng cụ thể, tạo sự
thống nhất về nhận thức và áp dụng pháp luật, khắc phục tình trạng luật
được ban hành nhưng chậm được triển khai thực hiện do phải chờ văn bản
hướng dẫn. ở các nước Ca-na-đa, Nhật Bản, luật được ban hành và thực
hiện kể từ ngày có hiệu lực pháp luật, không có các loại văn bản hướng
dẫn áp dụng (Nghị định, Thông tư…). Trung Quốc cũng rất hạn chế việc ban
hành các văn bản tương tự.
1.3.
Các nước đều tôn trọng tính độc lập trong hoạt động công tố và xét xử;
với ý thức đề cao tính tối thượng và công minh của pháp luật; tạo sự tôn
trọng và tự giác chấp hành pháp luật trong công chúng. Trong hệ thống
tư pháp của các nước đều tôn trọng tối đa nguyên tắc xét xử hai cấp.
Phán quyết của Toà án được chấp hành nghiêm túc, hạn chế việc xem xét
lại các bản án theo trình tự giám đốc… ở Ca-na-đa, Nhật Bản, mỗi năm Toà
án tối cao chỉ xem xét theo trình tự giám đốc không quá 100 vụ và cũng
chủ yếu là xem xét về việc áp dụng pháp luật, ít khi xem xét giải quyết
các vụ việc cụ thể. Tính tôn trọng hoạt động công tố được thiết lập bởi
các quy định của pháp luật cụ thể. ở Ca-na-đa, mặc dầu cơ quan Công tố
thuộc sự quản lý của cơ quan hành pháp song hoạt động công tố hoàn toàn
độc lập và chịu trách nhiệm trước Quốc hội; ngân sách do Quốc hội cấp.
Theo xu thế vận động của cải cách tư pháp, Ca-na-đa đang nghiên cứu để
có thể xây dựng cơ quan Công tố độc lập, không trực thuộc sự quản lý của
cơ quan hành pháp. ở Nhật Bản, Bộ Tư pháp quản lý cơ quan Công tố về
hành chính và nhân sự, còn hoạt động công tố hoàn toàn độc lập theo chỉ
đạo thống nhất của Tổng Công tố. Bộ trưởng tư pháp không được can thiệp
vào hoạt động công tố. Trong trường hợp có ý kiến khác nhau giữa Bộ
trưởng Bộ Tư pháp và Tổng Công tố thì báo cáo để Nội các xem xét và
quyết định. Thực tế cũng rất ít khi xảy ra các trường hợp tranh chấp;
theo tài liệu của Viện công tố Nhật Bản cung cấp thì duy nhất chỉ xẩy ra
một trường hợp có ý kiến khác nhau và Nội các chấp nhận ý kiến của Công
tố (năm 1940). Đồng thời để đảm bảo tính độc lập trong hoạt động tư
pháp, Chính phủ các nước có các thiết chế để xây dựng các tổ chức chăm
lo về kinh phí, về cơ sở vật chất, về cán bộ cho các cơ quan tư pháp…
1.4.
Tuy mức độ có khác nhau song cả Ca-na-đa, Trung Quốc và Nhật Bản đều có
các cơ chế để mở rộng sự tham gia của công chúng vào hoạt động của các
cơ quan tư pháp. Cùng với việc đề cao vị trí của Luật sư thì các nước
đều có chủ trương công khai các bản án để nhân dân có cơ hội tiếp cận
công lý và giám sát hoạt động xét xử của Toà án. Đồng thời, tăng cường
số lượng và chất lượng tham gia của nhân dân vào các Hội đồng xét xử
thông qua chế định xét xử có Hội thẩm nhân dân hoặc xét xử theo chế định
Bồi thẩm đoàn. Hiện nay, Nhật Bản đang xây dựng Bộ luật xét xử các vụ
án hình sự với Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán chuyên nghiệp và sáu Hội
thẩm nhân dân.
1.5.
Các nước đều quan tâm đầu tư để làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục
pháp luật nhằm tạo điều kiện để công dân nhận thức đúng đắn, kịp thời
về pháp luật. Trên cơ sở đó xây dựng ý thức tự giác chấp hành pháp luật
của đông đảo quần chúng nhân dân. ở các nước đều thực hiện tốt việc hoà
giải trong nội bộ nhân dân và hoà giải từ cơ sở; khuyến khích việc tự
hoà giải, hạn chế các vụ việc phải giải quyết tại Toà án. Mặt khác, để
tạo cho công dân có cơ hội tiếp cận công lý và khắc phục các khó khăn về
điều kiện tự nhiên, điều kiện địa lý… ngoài việc quan tâm thiết lập cơ
chế trợ giúp pháp lý thì Trung Quốc, Nhật Bản còn tăng cường các Toà án
cấp cơ sở để giải quyết các vụ việc từ cơ sở.
1.6.
Để đảm bảo công tác cải cách tư pháp có hiệu quả, các nước đều quan tâm
thực hiện tốt công tác tuyển chọn, đào tạo và thực hiện chính sách đối
với công chức các cơ quan tư pháp. Cùng với việc ưu tiên lựa chọn để bổ
nhiệm Thẩm phán, Kiểm sát viên trong số công chức chuyên môn của ngành
thì các nước đều mở rộng cơ chế để tuyển chọn các Luật sư, các chuyên
gia giỏi trong các lĩnh vực để có thể được bổ nhiệm làm Thẩm phán, Kiểm
sát viên… Vấn đề chất lượng các chức danh tư pháp được quan tâm, trong
đó có cơ chế để có thể sử dụng kinh nghiệm và uy tín của công chức tư
pháp (tuổi nghỉ hưu của Thẩm phán ở Ca-na-đa là 75, ở Nhật Bản là 70).
Thực hiện chế độ bổ nhiệm không thời hạn đối với Thẩm phán, Công tố viên
để họ yên tâm làm việc và phụng sự công lý. Đồng thời có chế độ tiền
lương đặc biệt đối với công chức tư pháp nhằm tạo điều kiện để Thẩm
phán, Công tố viên thực hiện công vụ một cách độc lập, khách quan, không
bị lôi kéo, cám dỗ bởi lợi ích vật chất và tiêu cực xã hội. Công tác
đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp được đầu tư thoả đáng. Các
nước đều có các trung tâm đào tạo các chức danh tư pháp; việc tuyển chọn
đào tạo dựa trên các quy định chặt chẽ để đảm bảo số lượng, chất lượng
đào tạo và sử dụng lâu dài.
1.7.
Cùng với việc xây dựng hệ thống pháp luật, quan tâm đến việc đào tạo và
thực hiện chế độ đãi ngộ đối với công chức tư pháp thì việc chăm lo đầu
tư cơ sở vật chất, điều kiện làm việc cho các cơ quan tư pháp nhận được
ưu tiên của Chính phủ và các ngành hữu quan. ở Nhật Bản, Ca-na-đa,
phòng xét xử được thiết kế và tổ chức phù hợp với đặc điểm các loại tội
như phòng xét xử với loại tội phạm vị thành niên, phòng xét xử tội phạm
về ma tuý, phòng xét xử đối với các tội phạm có đặc điểm hạn chế về thể
chất… Không chỉ cơ sở vật chất của các cơ quan tư pháp mà cả hệ thống
nhà tù, trại giam được đầu tư xây dựng khang trang, gắn việc giáo dục
cải tạo với việc lao động sản xuất tạo ra sản phẩm cho xã hội, các quyền
về con người được tôn trọng bảo vệ.
2. Một số ý kiến đề xuất
Thực
tiễn cải cách tư pháp ở Trung Quốc, Ca-na-đa, Nhật Bản đặt ra nhiều nội
dung cần được nghiên cứu kỹ để có thể học tập, vận dụng vào quá trình
đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp ở nước ta. Do đặc
thù về hệ thống chính trị, về điều kiện kinh tế - xã hội, về nhận thức
và ý thức pháp luật của người dân nên không thể nóng vội trong việc áp
dụng một mô hình nào đó. Mặt khác, do điều kiện thời gian, một số nội
dung chưa được nghiên cứu toàn diện nên có thể còn có nhận thức chưa
hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên, qua thực tế của chuyến công tác có thể
gợi mở một số vấn đề cần được quan tâm là:
2.1.
Theo nhận thức của tôi thì tư tưởng cải cách tư pháp của các nước với
nội dung trọng tâm không có khác biệt nhiều với tư tưởng cải cách tư
pháp ở nước ta được xác định tại Nghị quyết số 08 và Nghị quyết số 49
của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp. Tuy nhiên, do các đặc thù như đã
nêu trên, công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta cần được tiến hành một
cách kiên trì, có lộ trình gắn với nội dung và phương pháp thích hợp.
Trước mắt, cần nghiên cứu để xác định rõ chức năng, thẩm quyền, mối quan
hệ giữa các cơ quan tư pháp; mối quan hệ giữa tư pháp và hành pháp…
nhằm đảm bảo tính độc lập trong hoạt động tố tụng và cơ chế phối hợp
trong đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ trật tự pháp luật; tăng cường
hoạt động giám sát của công chúng đối với hoạt động tư pháp. Rà soát lại
chế độ, chính sách và chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp để có sự điều
chỉnh phù hợp. Mặt khác, cũng cần nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động của
Uỷ ban Chính pháp của Trung Quốc để đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng
đối với hoạt động tư pháp.
2.2.
Dù mức độ thể hiện khác nhau song việc tổ chức thực hiện tốt chức năng
công tố luôn là yêu cầu đầu tiên và có tính quyết định về quyền uy, về
trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân (hoặc là Viện công tố). Muốn thực
hiện tốt điều đó, Viện kiểm sát phải làm tốt công tác quản lý thông tin
tội phạm, có cơ chế để đảm bảo tính chủ động và chế ước trong mối quan
hệ với Cơ quan điều tra nhằm đảm bảo cho việc phát hiện điều tra, xử lý
tội phạm được kịp thời, triệt để, đúng pháp luật. Mặt khác, phải có cơ
chế để đảm bảo tất cả hoạt động tố tụng đều căn cứ vào các quy định của
pháp luật và vì mục đích bảo vệ pháp luật. Trong việc xử lý các mối quan
hệ luôn đặt lợi ích chung, lợi ích công lên trên các yêu cầu khác, tạo
sự đồng thuận của dư luận xã hội trước các quyết định của Viện kiểm sát.
Để thực hiện tốt quyền công tố cũng đồng nghĩa với việc tăng cường chất
lượng công tố của Kiểm sát viên tại các phiên toà, từng bước nâng chất
lượng hoạt động thẩm vấn, tranh tụng của Kiểm sát viên, đảm bảo tính chủ
động, khách quan và đúng pháp luật.
2.3.
Cần có một chiến lược trong công tác tuyển chọn, đào tạo và sử dụng cán
bộ tư pháp, đặc biệt là cán bộ có chức danh pháp lý (Điều tra viên,
Kiểm sát viên, Thẩm phán); có sự phân cấp hợp lý về thẩm quyền tố tụng
cho các cơ quan tiến hành tố tụng; tôn trọng và thực hiện triệt để
nguyên tắc xét xử hai cấp; khắc phục tình trạng xem xét theo trình tự
giám đốc thẩm có tính phổ biến như hiện nay. Cùng với việc nâng chất
lượng đội ngũ cán bộ thì cũng cần tiến hành sàng lọc, tinh giản đối với
số cán bộ không đảm bảo tiêu chuẩn về phẩm chất, về ý thức trách nhiệm;
thực hiện tốt hơn, công bằng hơn chế độ đãi ngộ đối với cán bộ tư pháp,
đảm bảo giữ được cán bộ và khích lệ, động viên cán bộ có sự cống hiến
trong việc thực thi nhiệm vụ./.
Hoàng Nghĩa Mai
(Phó Viện trưởng Thường trực VKSNDTC - nguồn TCKS số 15/2007
0 comments:
Post a Comment