Chương 2: Học thuyết phân chia quyền lực với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Về mặt khoa học, chủ nghĩa Mác coi phân quyền thực chất chỉ là sự phân
công lao động bình thường trong nội bộ bộ máy nhà nước, với một số nhân
viên làm công việc lập pháp, một số làm công việc hành pháp, và một số
làm công việc tư pháp; sự chuyên trách ấy nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của nhà nước, cũng giống như sự phân công lao động nhằm nâng cao
năng suất trong các nhà máy công nghiệp của chủ tư bản.
Trong
suốt một thời kỳ dài, các học giả của chủ nghĩa cộng sản đều gán tư
tưởng phân quyền cũng như nguyên tắc phân quyền cho bộ máy nhà nước tư
sản, mà phủ nhận việc áp dụng nó trong tổ chức bộ máy nhà nước xã hội
chủ nghĩa.
Ở Việt Nam cũng đã có một thời kỳ như vậy. Do chịu
ảnh hưởng mạnh mẽ từ Hiến pháp Liên bang xã hội chủ nghĩa Xô viết 1977,
mà bản Hiến pháp năm 1980 của nước ta được xem là biểu hiện cao độ nhất
của nguyên tắc tập quyền: chỉ có chức năng tư pháp là được tách ra tương
đối độc lập, còn chức năng lập pháp và hành pháp thì gần như nhập lại
làm một.
Nhưng ngày nay quá trình hội nhập quốc tế, cũng như
nhiệm vụ xây dựng Nhà nước ta theo hướng nhà nước pháp quyền đã đặt ra
đòi hỏi phải xem xét những giá trị tiến bộ, tích cực của tư tưởng phân
chia quyền lực, phải áp dụng những hạt nhân hợp lý của nó vào tổ chức bộ
máy nhà nước, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Nhà nước.
Bởi vậy, Điều 2 Hiến pháp năm 1992 ( sửa đổi năm 2001 ) ghi nhận: "Quyền
lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ
quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp"(1).
_____________
(1) Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2006, tr.11
1. Sự vận dụng tư tưởng phân chia quyền lực vào việc tổ chức bộ máy Nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền.
Khái niệm nhà nước pháp quyền.
Những tư tưởng sơ khai đầu tiên về một nhà nước chịu sự ràng buộc bởi
luật pháp do chính nó là người ban hành, một nhà nước vì nhân dân đã ra
đời từ rất sớm trong lịch sử, nhưng thuật ngữ "nhà nước pháp quyền" lần
đầu tiên được sử dụng là bởi hai nhà luật học người Đức là K.T Vancơ và
R.F Môn vào năm 1813. Bản thân hai ông cho rằng nhà nước pháp quyền là
nhà nước đảm bảo các nguyên tắc: tính tối cao của pháp luật; chủ quyền
nhân dân thông qua cơ quan đại diện; mọi công dân đều bình đẳng trước
pháp luật; mà mục tiêu quan trọng hơn hết cả của Nhà nước pháp quyền là
"làm thế nào để tổ chức được đời sống nhân dân sao cho mỗi thành viên
trong đó nhận được sự giúp đỡ và khuyến khích sự phát triển tự do tối đa
và hoàn thiện năng lực tổng hợp của mình"(1).
Nhà triết học cổ
điển Đức Imanuel Kant (1724-1804) cho rằng: "Ở nơi mà nhà nước hoạt
động trên cơ sở quyền lập hiến và phù hợp với ý chí chung của nhân dân, ở
đó nhà nước mang tính pháp quyền, ở đó không thể có sự hạn chế quyền
của công dân trong lĩnh vực tự do cá nhân"(2). Từ đó có thể thấy mô hình
nhà nước pháp quyền của Kant có những đặc điểm: tính tối cao của hiến
pháp và pháp luật; chủ quyền nhân dân và sự tôn trọng, bảo vệ các quyền
công dân và quyền con người.
Theo ông, mối quan hệ giữa các cơ
quan trong nhà nước pháp quyền với công dân được trực tiếp thể hiện
thông qua sự phân quyền: với quyền lập pháp thuộc về nghị viện, quyền
hành pháp thuộc về chính phủ và quyền tư pháp thuộc về toà án. Nhà nước
pháp quyền, theo Kant, đó là một tổ chức pháp lý có sự phân quyền.
_____________
(1) GS-TS Đào Trí Úc: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2006, tr.18
(2) TS Trần Hậu Thành: Sđd, tr.56
Nhận xét về tư tưởng nhà nước của Kant, Mác đã viết: "nó tuy không bao
giờ thực hiện được nhưng việc thực hiện nó phải luôn luôn là mục tiêu
của chúng ta và là đối tượng suy tưởng của chúng ta"(1).
Nếu
như nhà nước theo quan điểm của Kant là nhà nước lý tưởng cần phải đạt
đến, thì nhà nước pháp quyền theo quan điểm của V.F Heghen (1770-1831)
đã được hiện thực hoá trong lý trí và thực tiễn cuộc sống hàng ngày của
con người.
Theo Heghen, nhà nước cũng là pháp luật, là pháp
luật phong phú, sâu sắc và phát triển nhất, là toàn bộ hệ thống pháp
luật. Nhà nước là một tổ chức hoàn thiện nhất của đời sống xã hội - một
xã hội mà tất cả mọi thứ trong nó đều được xây dựng trên nền tảng là
pháp luật, qua pháp luật mà thể hiện sự thống trị của tự do.
Giá trị trong quan điểm của Heghen về nhà nước là ở chỗ nó hạn chế chức
năng bạo lực, cưỡng chế mà đề cao tính định hướng, tính lý trí và lợi
ích của nó đối với xã hội cũng như với mỗi công dân. Có thể nói Heghen
đã sử dụng tư tưởng về nhà nước của mình để chống lại chủ nghĩa cực
quyền lẫn chủ nghĩa vô chính phủ.
Từ sau Cách mạng tháng Mười,
nước Nga Xôviết ra đời, những tư tưởng về xây dựng nhà nước kiểu mới,
nhà nước xã hội chủ nghĩa bắt đầu được hoàn thiện. Mà trong đó có một tư
tưởng nổi bật, là tư tưởng về pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Nền
pháp chế xã hội chủ nghĩa và mô hình nhà nước pháp quyền có nhiều điểm
tương đồng, cụ thể là: cả hai đều đòi hỏi tính tối cao của luật, mọi
công dân, tổ chức và cả nhà nước đều phải tôn trọng và thực hiện pháp
luật; cả hai đều đòi hỏi sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật, đều đòi
hỏi phải kiên quyết đấu tranh chống mọi hành vi vi phạm pháp luật... và
trên hết là cả hai đều đòi hỏi phải có một nền dân chủ thực sự và rộng
khắp.
Trong công cuộc cải tổ nhà nước Liên Xô cũ đã hình thành
nhiều tư tưởng, quan điểm mới về mối liên hệ giữa nhà nước và pháp luật
"khá hoàn hảo. Đáng tiếc rằng, mô hình đó chưa kịp đưa vào cuộc sống thì
chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô bị sụp đổ"(1). Các nhà khoa học
Xôviết đã đề cập đến cả hai khía cạnh cơ bản của nhà nước pháp quyền, đó
là:
_____________
(1) TS Trần Hậu Thành: Sđd, tr.57
(2) TS Trần Hậu Thành: Sđd, tr.68
- Về mặt hình thức, nhà nước pháp quyền là sự thống trị tối cao của
pháp luật, nhà nước, các cơ quan nhà nước, nhân viên của bộ máy nhà
nước, mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội đều bị ràng buộc bởi pháp luật.
- Về mặt bản chất, pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành không phải
một sản phẩm của sự tự do duy ý chí, không phải từ ý muốn của người làm
luật, mà nó phải phản ánh thực tại khách quan của xã hội, nhằm đáp ứng
các yêu cầu của tiến bộ xã hội.
Tựu chung lại, các tư tưởng về nhà nước pháp quyền có các đặc điểm như sau:
- Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước:
Nhà nước pháp quyền về mặt lý thuyết, phải là một nhà nước mà nhân dân
là chủ thể của quyền lực và nhà nước chỉ là tổ chức được ủy nhiệm quyền
lực mà thôi. Khi nhà nước không thể đáp ứng được các nhu cầu của nhân
dân thì nhân dân có quyền xóa bỏ nhà nước ấy đi mà thay bằng một nhà
nước khác.
Còn pháp luật pháp quyền, đó phải là ý chí chung của
nhân dân, nhằm bảo vệ tự do và tài sản của mỗi cá nhân trong cộng đồng.
Mỗi thành viên tuân thủ ý chí chung của cộng đồng tức là tuân thủ ý chí
của chính mình, nghĩa là vẫn hoàn toàn tự do.
Từ nguyên tắc
tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nhà nước pháp quyền đồng
thời là sự phủ nhận đối với nhà nước chuyên chế, cực quyền, độc quyền và
phát xít.
- Tôn trọng và bảo vệ quyền công dân và quyền con người:
Cùng với sự ra đời của tư tưởng nhà nước pháp quyền và sự hình thành
thực sự của nhà nước pháp quyền tư sản, lần đầu tiên con người bước từ
địa vị nô lệ trong xã hội thần dân lên địa vị một người chủ trong xã hội
công dân. Người công dân ấy trong mối quan hệ với nhà nước là một con
người - một con người mà những quyền lợi cơ bản và thiêng liêng của họ
như quyền được sống, quyền được tự do, quyền sở hữu tài sản, quyền mưu
cầu hạnh phúc... được nhà nước và pháp luật bảo vệ.
Những quyền
lợi cơ bản của công dân cũng được đảm bảo. Nhà nước cam kết bằng pháp
luật bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp, danh dự và nhân phẩm của công
dân. Với nguyên tắc cơ bản là công dân có quyền làm tất cả những gì mà
pháp luật không cấm, người dân có cơ hội để phát triển và hoàn thiện bản
thân.
Các quyền của con người và công dân càng được mở rộng
bao nhiêu thì quyền hạn của nhà nước càng bị giới hạn và kiểm soát chặt
chẽ bấy nhiêu.
- Bảo đảm và phát huy dân chủ:
Dân
chủ vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện của nhà nước pháp quyền. Trong
nhà nước pháp quyền, bởi quyền lực thuộc về nhân dân, nên với pháp luật
là ý chí chung của mình, nhân dân tham gia quản lý nhà nước - đó là biểu
hiện của dân chủ. Và dân chủ cũng chỉ có thể đạt được đến đúng nghĩa
của nó trong xã hội nhà nước pháp quyền.
Có thể khẳng định"hạt nhân của lý luận Nhà nước pháp quyền là vấn đề dân chủ"(1).
- Sự ngự trị của pháp luật trong đời sống Nhà nước và xã hội:
Các tư tưởng về nhà nước pháp quyền ra đời đã thay đổi căn bản mối liên
hệ giữa nhà nước và pháp luật, từ chỗ pháp luật là công cụ do nhà nước
ban hành để quản lý xã hội, quản lý các thần dân đến chỗ pháp luật còn
thống trị ngay cả bản thân nhà nước.
"Nhà nước pháp quyền
về mặt lý thuyết tự đặt mình dưới pháp luật mà không phải đứng ngoài hay
đứng trên pháp luật. Pháp luật không chỉ là công cụ để duy trì và phát
triển xã hội mà còn là công cụ để duy trì sự tồn tại của ngay chính bản
thân nhà nước. Chức năng, quyền hạn của nhà nước chỉ nằm trong khuôn khổ
pháp luật"(2).
- Tổ chức theo nguyên tắc phân định quyền lực, dùng quyền lực kiểm tra và giám sát quyền lực:
Thực tiễn lịch sử cho thấy rằng các cá nhân hay tổ chức nắm giữ quyền
lực nhà nước đều có xu hướng muốn lạm quyền, bởi vậy, một đặc trưng của
nhà nước pháp quyền là quyền lực phải được phân định thành lập pháp,
hành pháp và tư pháp, với mục đích chính là để bảo đảm quyền lực do nhân
dân ủy nhiệm không bị lợi dụng.
Đặc trưng này sẽ được phân tích làm rõ hơn trong phần sau.
- Sự tương ứng giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế:
Pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế có mối liên hệ qua lại chặt chẽ
với nhau, làm bổ sung, hoàn thiện lẫn nhau. Bởi vậy, cần xác định được
rõ ràng mối tương quan giữa hai hệ thống pháp luật này và đảm bảo rằng,
khi có sự khác biệt giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế trong
việc điều chỉnh cùng một quan hệ thì ưu tiên sử dụng các quy định của
điều ước quốc tế mà quốc gia đó đã tham gia hoặc ký kết.
_____________
(1) GS-TS Đào Trí Úc: Sđd, tr.32
(2) GS-TS Đào Trí Úc: Sđd, tr.34
Nhà nước pháp quyền có thể được xem là ước mơ đẹp đẽ nhất của con
người, và các nguyên lý của nó có thể được xem là kết tinh cao nhất của
trí tuệ con người trong lĩnh vực khoa học chính trị - pháp lý. Việc xây
dựng nhà nước pháp quyền, ở tất cả các nước dân chủ, đều được xem là mục
tiêu hàng đầu và quan trọng nhất, để đảm bảo một xã hội công bằng, nhân
đạo và nhân văn.
Sự vận dụng tư tưởng phân chia quyền lực trong xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.
Nhìn vào lịch sử, có thể cho rằng sự phân quyền trong thời kỳ đầu của
Cách mạng Tư sản đơn thuần chỉ là sự phân chia quyền lực nhà nước cho
những lực lượng chính trị - xã hội khác nhau: giai cấp tư sản mới hình
thành nắm quyền soạn thảo và ban hành pháp luật, giai cấp quý tộc phong
kiến, mà đại diện cao nhất là vua, nắm quyền thi hành và bảo vệ pháp
luật; rồi khi tư sản ngày càng có vị thế, vua phải chia sẻ quyền xét xử
với hội thẩm nhân dân; và cuối cùng khi giai cấp phong kiến đã suy yếu
hoàn toàn thì tư sản nắm trọn vẹn quyền lực, vua bị bãi bỏ hoặc chỉ còn
tồn tại với danh nghĩa hình thức.
Nhưng bản chất của nó không hoàn toàn là như vậy.
Ngay trong các nhà nước cổ đại Hy Lạp, Lamã đã tồn tại sự phân chia
quyền lực và giao chúng vào tay những cơ quan có chức năng chuyên biệt
khác nhau, dù lúc ấy nhà nước chỉ thuộc về một giai cấp duy nhất là giai
cấp chủ nô mà thôi. Việc thỏa hiệp giữa các lực lượng chính trị - xã
hội không thể là câu trả lời cho hiện tượng này, mà nó chỉ có thể bắt
nguồn từ yêu cầu "nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước, đảm bảo cho Nhà
nước và nền dân chủ cổ đại của chủ nô không bị tiêu diệt". Bởi vậy, "sự
phân quyền với nghĩa phân công chức năng và kiểm soát quyền lực trở
thành phương thức tồn tại của chính" nhà nước, "phân quyền càng trở nên
rõ ràng thì kiểm soát quyền lực càng chặt chẽ" (1). Bởi vậy có thể khẳng
định phân quyền là hiện tượng phổ biến trong các xã hội khác nhau, có ý
nghĩa bảo đảm sự tồn tại của nhà nước và nền dân chủ.
_____________
(1) GS-TS Đào Trí Úc: Sđd, tr.39
Ưu điểm của nguyên tắc phân chia quyền lực, kiểm tra và giám sát, kiềm
chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp
quyền là ở chỗ nó đảm bảo việc ngăn chặn nguy cơ tập trung quyền lực nhà
nước trong tay một cá nhân, cơ quan hay một lực lượng chính trị - xã
hội nào đó như là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự lạm quyền, chuyên quyền
- những mô hình trái ngược hoàn toàn với nhà nước pháp quyền. Bên cạnh
đó, nguyên tắc phân quyền còn có khả năng bảo vệ nhân dân khỏi sự tùy
tiện, độc đoán, mang tính quan liêu, phiền nhiễu của các cơ quan và công
chức trong bộ máy nhà nước, đảm bảo các cơ quan và công chức này luôn
luôn chỉ thực hiện tuân theo pháp luật.
Những nguyên lý chủ đạo
của mô hình nhà nước pháp quyền là do các nhà học giả tư sản sáng tạo
và tổng hợp lên từ các tư tưởng từ thời cổ đại; và chỉ từ nhà nước tư
sản, người ta mới bắt đầu đặt ra yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền.
Vậy, đến bây giờ, đã có nhà nước tư sản nào xây dựng thành công nhà nước
pháp quyền chưa ? Điều này ta có thể trả lời dứt khoát là chưa; bởi vì
nền dân chủ tư sản chưa phải là một nền dân chủ thực sự, trong một xã
hội nếu vẫn còn tồn tại những người có quyền lợi kinh tế khác nhau thì
không bao giờ có được một nền dân chủ thực sự, cũng có nghĩa là không
bao giờ có được một nhà nước pháp quyền thực sự.
Bởi vậy, trong
công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay, ta không
thể bắt chước một cách máy móc theo cách thức của một nước nào đó trước
đây, mà cần phải tự tìm ra một con đường riêng, phù hợp với bản chất xã
hội chủ nghĩa, phù hợp với những đặc điểm vốn có của Việt Nam.
Việc áp dụng nguyên tắc phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước ta cũng cần có một cách đi riêng.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồi trong Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với
việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước đã chỉ ra rằng: việc áp dụng
tư tưởng phân quyền một cách cứng rắn và triệt để như ở nhà nước Hoa Kỳ
cũng không thể ngăn chặn được tình trạng lạm quyền, như giai đoạn "Chính
phủ của những ông Tòa" trong những năm 1800 - 1940. Từ đó có thể thấy
việc tổ chức nhà nước theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất,
có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan như ở nước ta hiện nay là
hoàn toàn hợp lý.
Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất. Chế định này hoàn toàn hợp lý bởi Quốc hội là cơ quan đại biểu cao
nhất của nhân dân, là cơ quan trực tiếp nhận được sự ủy quyền của nhân
dân. Điều thiết yếu là phải đảm bảo sao cho trong các hoạt động thực
tiễn của mình, Quốc hội thể hiện rõ ràng là cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất.
Hệ các cơ quan hành pháp với chức năng chấp hành và
hành chính, là các cơ quan thường trực, tiếp xúc và tác động trực tiếp
tới đời sống nhân dân. Theo kinh nghiệm của các nước cũng như thực tiễn
đòi hỏi của Việt Nam, hệ các cơ quan này cần được mở rộng thêm lĩnh vực
hoạt động, tăng cường thêm quyền hạn, nhằm đảm bảo phục vụ nhân dân một
cách tốt nhất.
Các cơ quan tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ sự nghiêm
minh của pháp luật. Với trách nhiệm đó, cơ quan này có vai trò hết sức
quan trọng trong xây dựng nhà nước pháp quyền. Đòi hỏi hiện nay là phải
đảm bảo cho hoạt động của các cơ quan này thực sự độc lập, không chịu sự
chi phối, ràng buộc từ bất kỳ một thế lực nào, có như vậy mới giữ được
sự nghiêm minh của pháp luật.
Còn về mối quan hệ giữa chính
quyền trung ương và chính quyền địa phương hiện nay, chúng ta đang thực
hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc này đảm bảo được cho
sự thống nhất của đất nước, tránh khuynh hướng địa phương, cục bộ. Nhưng
một yêu cầu cấp thiết là cần phải tăng cường hơn nữa tính linh hoạt
trong hoạt động của chính quyền địa phương; cần cho phép chính quyền địa
phương được tự chủ về hoạt động hành chính công, ngân sách, tổ chức cán
bộ... Việc này vừa là thực hiện dân chủ ở cơ sở, vừa là giúp giảm tải
áp lực công việc lên chính quyền trung ương: Việc gì địa phương có thể
làm được thì chuyển giao cho địa phương, trung ương sẽ chỉ đảm bảo khuôn
khổ pháp lý và hoạch định chính sách mà thôi.
2. Về cách thức tổ
chức, phân công và phối hợp hoạt động giữa các nhánh của quyền lực nhà
nước trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6 ( năm 1986 ) đề ra con đường Đổi
mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 7 (năm 1991) thông qua Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sự sụp
đổ của các nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu ... những sự kiện đó trở
thành yêu cầu bức thiết đối với Đảng và Nhà nước ta phải đổi mới nhận
thức, phải cải tổ bộ máy nhà nước theo hướng khoa học, tiến bộ, hợp lý
hơn.
Hiến pháp năm 1992 ra đời là sự cụ thể hóa của quá trình
đổi mới đó. Bộ máy nhà nước tập quyền cao độ, cồng kềnh, hoạt động kém
linh hoạt và hiệu quả, chế độ hành chính bao cấp tạo ra tệ quan liêu,
lãng phí... tất cả những khuyết điểm ấy trong Hiến pháp 1980 đã được sửa
đổi sâu sắc và triệt để trong bản hiến pháp mới này, nhất là sau khi
được Quốc hội khóa X, kì họp thứ 11 thông qua Nghị quyết về việc sửa
đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 1992 ( ngày 25/12/2001).
2.1 Thực trạng tổ chức bộ máy nhà nước hiện nay và những tồn tại cần khắc phục:
Xét theo lĩnh vực và chức năng hoạt động để thực hiện quyền lực nhà
nước, theo Hiến pháp 1992, bộ máy nhà nước Việt Nam về cơ bản bao gồm 5
bộ phận: các cơ quan quyền lực nhà nước là Quốc hội, Hội đồng nhân dân
các cấp ; Chủ tịch nước; các cơ quan quản lý nhà nước là Chính phủ và hệ
các cơ quan hành chính; các cơ quan tòa án; các cơ quan kiểm sát. Giữa
các bộ phận này không tồn tại mối liên hệ đối trọng, kìm chế lẫn nhau
như ở các nhà nước tư sản, mà là sự phân công và phối hợp thực hiện các
chức năng của nhà nước, với vai trò trung tâm thuộc về cơ quan đại biểu
cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất - Quốc hội.
Điều 84 Hiến pháp năm 1992 (đã sửa đổi) có 14 khoản quy định về nhiệm
vụ và quyền hạn của Quốc hội, mà đáng chú ý nhất là: lập hiến và lập
pháp, quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; thực hiện quyền
giám sát tối cao đối với việc tuân thủ Hiến pháp, luật, nghị quyết của
Quốc hội; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước như kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội, chính sách tài chính tiền tệ, các vấn đề về
ngân sách nhà nước, thuế, các chính sách dân tộc, tôn giáo của Nhà
nước; quy định tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; bầu, miễn
nhiệm, bãi nhiệm một số quan chức cao cấp của Nhà nước theo luật định;
quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quyết định các chính sách đối
ngoại, phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế theo luật định...
Từ đó, ta có thể nhận thấy tuy Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất, nhưng lại không phải là cơ quan đứng ra trực tiếp giải quyết
tất cả mọi công việc nhà nước, mà chỉ tập trung thực hiện công việc
trong một số các lĩnh vực cụ thể như sau:
- Lập pháp: Quốc hội
là cơ quan duy nhất có quyền làm và sửa đổi Hiến pháp, làm và sửa đổi
luật. Giống như bất cứ cơ quan Nghị viện nào ở các nước khác, đây được
xem là nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng nhất của Quốc hội. Thông qua Hiến
pháp và luật, Quốc hội ghi nhận ý chí và nguyện vọng của toàn Đảng,
toàn dân, nhằm quản lý và điều chỉnh các mối quan hệ phức tạp trong xã
hội, vì lợi ích của đất nước, của nhân dân. Nhưng hiện nay, công tác lập
pháp của Quốc hội vẫn còn tồn tại rất nhiều những hạn chế như: các
luật, pháp lệnh được ban hành thường đi sau thực tế đời sống, và càng
không có khả năng đi trước định hướng cho xã hội; các luật, pháp lệnh
được ban hành chủ yếu vẫn là luật khung, không có khả năng áp dụng ngay
lập tức vào cuộc sống mà cần phải có những văn bản hướng dẫn thi hành
kèm theo, làm giảm khả năng tác động cũng như giá trị pháp lý của văn
bản luật: các quan hệ xã hội thực tế không được điều chỉnh bởi luật mà
bởi các văn bản hướng dẫn thi hành... Ngoài ra còn rất nhiều những tồn
tại khác như năng lực của các đại biểu quốc hội chưa đáp ứng được với
công tác lập pháp; phần lớn dự án luật, các dự thảo nghị quyết của Quốc
hội được soạn thảo bởi Chính phủ, và sau khi được Quốc hội thông qua thì
lại do Chính phủ hướng dẫn thi hành, thực tế này làm Quốc hội không
phát huy được hết hiệu quả của mình, đồng thời làm hoạt động của Chính
phủ trở nên quá tải.
- Quyết định các vấn đề quan trọng của đất
nước: " Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối
ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước,
những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về
quan hệ xã hội và hoạt động của công dân" (điều 1 Luật Tổ chức Quốc hội
năm 2001). Đây là một hoạt động mà Quốc hội đã tiến hành khá tốt, mà
biểu hiện đã được thấy rõ thông qua tình hình đất nước trong 20 năm vừa
qua: " Đất nước ta đã ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội,
có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa đang đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện
rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng
cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được
giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức
mạnh tổng hợp của quốc gia tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho
đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp"(1).
- Thực
hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước:
Thông qua các hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội như Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội và các
đại biểu Quốc hội, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình.
Nhiệm vụ này của Quốc hội được tiến hành qua chất vấn các cán bộ cao cấp
của Nhà nước, giám sát việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của
các cơ quan khác, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo... Theo
luật định, Quốc hội có quyền " bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người
giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn"(2) mà cụ thể là các chức
danh: Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ
tịch Quốc hội, các Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính
phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính
phủ, các thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh... Hoạt động này của
Quốc hội cũng còn rất nhiều tồn tại như: số lượng đại biểu kiêm nhiệm
chiếm tỉ lệ lớn (tỉ lệ này trong Quốc hội khoá 11 là 75%, trong Quốc hội
khoá 12 vừa bầu cử xong giảm xuống còn khoảng 70% ), nên dẫn tới hai
vấn đề trong hoạt động giám sát của các đại biểu: do vừa thực hiện nhiệm
vụ ở cơ quan hành pháp lẫn Quốc hội, nên các đại biểu thường quá tải
trong hoạt động, và thường không đủ thời gian thực hiện nhiệm vụ đại
biểu; thứ hai, do các đại biểu Quốc hội lại đồng thời là cán bộ của các
cơ quan hành pháp, nên trong công tác giám sát, kiểm tra dễ dẫn tới hành
vi tiêu cực, bao che lẫn nhau do nể nang, kiêng dè...
Đối với
cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước, cơ quan đại diện cao nhất của
nhân dân như Quốc hội, việc khắc phục ngay những hạn chế này là một đòi
hỏi cấp thiết.
_____________
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2006, tr.17
(2) Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 ( sửa đổi ), Sđd, khoản 7 điều 2 Luật Tổ chức Quốc hội, tr.77
Chủ tịch nước và Chính phủ, theo luật định, là cơ quan hành pháp của Nhà nước.
Xét về nội dung của quyền hành pháp ở nước ta hiện nay (chấp hành và
hành chính) thì quyền đó bao gồm các hoạt động chủ yếu sau đây
1)
- Xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội;
- Soạn thảo chính sách và pháp luật;
- Ban hành các văn bản quy phạm dưới luật và quyết định hành chính trong tất cả các lĩnh vực;
- Đưa ra chủ trương để điều chỉnh các hoạt động kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại ở tầm vĩ mô;
- Quyết định các vấn đề về tổ chức và nhân sự trong bộ máy nhà nước (kể cả công tác đào tạo cán bộ);
- Quyết định chủ trương về khoa học và công nghệ;
- Chỉ đạo thực hiện các chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
bằng việc hướng dẫn, phối hợp, đôn đốc, kiểm tra, thanh tra, uốn nắn,
giúp đỡ;
- Quản lý ngân sách, quản lý dự trữ Quốc gia;
- Xử lý hành chính.
Thiết chế Chủ tịch nước được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận trong chương VII (từ Điều 101 đến Điều 108).
Khác với Hiến pháp 1980, chế định Chủ tịch nước hiện tại là một cá
nhân. "Sự phân tách Hội đồng Nhà nước thành Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và
Chủ tịch nước và là điểm quan trọng nhất trong sự phân công, phân nhiệm
rạch ròi giữa hai quyền lập pháp và hành pháp, vì nó đã xóa bỏ sự kiêm
nhiệm trong việc thực hiện quyền lực nhà nước"(2).
_____________
(1) LS Nguyễn Văn Thảo: Sđd tr.149
(2) TS Nguyễn Thị Hồi: Sđd, tr.245
Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra, chịu trách nhiệm trước Quốc hội, và
thực hiện nhiều công việc do Quốc hội giao như công bố Hiến pháp, luật,
pháp lệnh, căn cứ nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, bãi nhiệm, cách chức
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ... song
vẫn có những quyền hạn nhất định, như có thể tự mình bổ nhiệm, miễn
nhiệm, cách chức Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Phó
Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao... ; có thể tự
mình quyết định việc phong hàm, cấp sỹ quan cấp cao trong lực lượng vũ
trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp Nhà nước khác...
Chủ tịch nước có quyền tham gia vào cả lĩnh vực lập pháp, trong việc có
thể yêu cầu Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh, nếu Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội vẫn biểu quyết tán thành thì có quyền trình Quốc hội
xem xét, quyết định; cả lĩnh vực hành pháp, với việc tham gia tổ chức
nhân sự trong các cơ quan chấp hành của nhà nước; và lĩnh vực tư pháp tư
pháp, trong việc có quyền căn cứ nghị quyết Quốc hội mà tuyên bố đại
xá, hoặc tự mình có quyền đặc xá. Theo Hiến pháp 1992 thì Chủ tịch nước
giữ một vai trò quan trọng trong việc điều tiết, phối hợp hoạt động giữa
các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp; nhưng quyền hạn của Chủ
tịch nước còn rất hạn chế. Ngay những nước tư sản theo chế độ đại nghị,
quyền lực của Nguyên thủ rất bị hạn chế, nhưng ít nhất vẫn có khả năng
ảnh hưởng tới Chính phủ hay có quyền giải tán Hạ viện. So sánh với bản
Hiến pháp đầu tiên của nước ta, Hiến pháp năm 1946, quyền hạn của Chủ
tịch nước khi ấy cũng lớn hơn hiện nay rất nhiều: Chủ tịch nước là người
đứng đầu Nhà nước đồng thời cũng là người lãnh đạo Chính phủ; có quyền
chọn Thủ tướng trong Nghị viện để Nghị viện biểu quyết; ký sắc lệnh bổ
nhiệm Thủ tướng và các nhân viên khác của Chính phủ; tổng chỉ huy quân
đội, có quyền chỉ định hoặc cách chức các tướng soái trong lục quân,
không quân, hải quân; chủ tọa Hội đồng Chính phủ. Bởi vậy, theo thông lệ
quốc tế cũng như với tinh thần của bản Hiến pháp đầu tiên của đất nước
do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo soạn thảo, việc tăng cường quyền
lực cho Chủ tịch nước là một yêu cầu đáng quan tâm.
"Chính phủ
là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Định nghĩa này nằm ở Điều 109 của
Hiến pháp ( dù có một số ý kiến cho rằng định nghĩa này là không đúng,
do Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng là
những cơ quan có trách nhiệm phải thực hiện những việc Quốc hội giao,
nên không thể nói chỉ Chính phủ mới là cơ quan chấp hành của Quốc hội;
ngoài ra còn vì Chính phủ phải chấp hành cả lệnh, quyết định của Chủ
tịch nước, cũng như các bản án được ban hành của Tòa án nhân dân ).
Chính định nghĩa này đã thể hiện sự độc lập của hành pháp đối với lập
pháp, khi Chính phủ không phải một cơ quan, một bộ phận của Quốc hội, mà
là một cơ quan chấp hành theo ý chí của Quốc hội.
Nếu như cá
nhân Chủ tịch nước phải bắt buộc là thành viên Quốc hội, thì phần lớn
thành viên của Chính phủ lại không cần là đại biểu Quốc hội ( trừ chức
vụ Thủ tướng ). Không có chung nhân viên - đó cũng là một yêu cầu của
nguyên tắc phân quyền. Nếu như so sánh vị trí, vai trò, quyền hạn của
Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ hiện nay với Hội đồng Bộ trưởng và Chủ
tịch Hội đồng Bộ trưởng theo Hiến pháp năm 1980, có thể nhận thấy đây là
một bước tiến dài, Chính phủ hiện nay có một sự độc lập lớn hơn nhiều
trước Quốc hội, điều đó được thể hiện qua vài quy định mới: thành viên
của Chính phủ không thể đồng thời là thành viên của Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội, thành viên Chính phủ chỉ chịu trách nhiệm cá nhân trước Quốc
hội...
Thực tiễn hoạt động của Chính phủ hiện nay cho thấy đang
tồn tại rất nhiều bất cập, như: hoạt động của các cơ quan hành chính
vẫn còn mang tính quan liêu, bao cấp, các thủ tục hành chính còn nhiêu
khê, nặng nề, khiến "hành chính" trong mắt nhiều người dân trở thành
"hành là chính"; chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của nhiều cơ quan còn
chồng chéo, lẫn lộn, khiến việc giải quyết sự vụ chậm chạp, mất thời
gian, lại tốn kém, lãng phí; tình trạng tham nhũng, lãng phí trong bộ
máy hành chính còn tồn tại và ngày càng trở thành vấn nạn nghiêm trọng,
làm suy yếu bộ máy nhà nước, gây mất niềm tin trong nhân dân; trách
nhiệm của cơ quan với lĩnh vực mà mình quản lý, trách nhiệm của người
thủ trưởng đối với đơn vị của mình còn chưa được xác định rõ, dẫn đến
tình trạng khen thưởng, lợi ích thì ai cũng nhận phần mình, nhưng trách
nhiệm khi để xảy ra sai phạm thì ai cũng tránh... Công tác cải cách hành
chính, khắc phục những tồn tại này đã được Đảng và Nhà nước quan tâm
đẩy mạnh, nhưng thực tế cho thấy công tác này vẫn cần được quan tâm
nhiều hơn nữa.
Hệ thống các cơ quan tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm các cơ quan tòa án và các cơ quan kiểm sát.
Hoạt động xét xử, theo luật định, thuộc về hệ thống tòa án, bao gồm Tòa
án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp. "Khi xét xử, Thẩm phán và Hội
thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật"(Điều 4 Pháp lệnh Thẩm phán và
Hội thẩm tòa án nhân dân). Quy định này cho thấy sự độc lập của hoạt
động xét xử đối với lập pháp và hành pháp. So với Hiến pháp năm 1980 thì
Hiến pháp năm 1992 thừa nhận sự độc lập cao hơn của tòa án qua quy định
mới về hoạt động tuyển chọn Thẩm phán. Từ chỗ Thẩm phán do Quốc hội và
Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra, phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội
và Hội đồng nhân dân cùng cấp, thì nay Thẩm phán do Hội đồng tuyển chọn
Thẩm phán tuyển chọn, xem xét miễn nhiệm, cách chức và do Chánh án Tòa
án nhân dân ra quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm hay cách chức.
Sự phân công, phân nhiệm trong nội bộ ngành Tòa án cũng ngày càng được
làm rõ hơn với việc thành lập các Tòa chuyên trách trong Tòa án nhân dân
tối cao và Tòa án nhân dân các cấp (đó là: Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa
hành chính, Tòa kinh tế, Tòa lao động).
Hệ thống các cơ quan
kiểm sát, theo Hiến pháp năm 1992 (đã sửa đổi) bao gồm Viện kiểm sát
nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp, là cơ quan có chức năng công
tố nhà nước và kiểm sát hoạt động tư pháp. So với các quy định của Hiến
pháp trước khi được sửa đổi, thì nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát
nhân dân đã bị thu hẹp lại, từ cơ quan có thẩm quyền kiểm sát chung,
Viện kiểm sát nhân dân hiện nay chỉ còn có quyền kiểm sát các hoạt động
trong lĩnh vực tư pháp, điều này làm tránh sự chồng chéo trong hoạt động
kiểm tra, giám sát. Hiện nay, hoạt động này được giao cho ba cơ quan
khác nhau, là Quốc hội với chức năng giám sát tối cao mọi hoạt động của
Nhà nước, đồng thời tự kiểm tra chính bản thân mình, Hội đồng nhân dân
giám sát các cơ quan nhà nước khác ở địa phương; Tổng thanh tra Chính
phủ với chức năng kiểm sát hoạt động của các cơ quan thi hành và hành
chính; và Viện kiểm sát nhân dân với chức năng kiểm sát các hoạt động
trong lĩnh vực tư pháp. Điều này chứng tỏ sự phân công, phối hợp trong
hoạt động kiểm sát ba lĩnh vực chủ yếu của quyền lực nhà nước: lập pháp,
hành pháp và tư pháp; hơn thế, quy định mới này còn là sự phân công
trong nội bộ hoạt động tư pháp: giữa cơ quan xét xử là Tòa án với Cơ
quan giám sát là Viện kiểm sát.
Theo luật định, các Viện kiểm
sát nhân dân hoạt động theo chế độ thủ trưởng. Viện trưởng viện kiểm sát
nhân dân các cấp do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trực
tiếp bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Hội đồng nhân dân địa phương có
quyền giám sát, chất vấn, kiến nghị, có quyền được nghe báo cáo hoạt
động đối với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Quốc
hội quản lý Viện kiểm sát nhân dân tối cao qua công tác tổ chức nhân sự
bầu chọn, miễn nhiệm, bãi nhiệm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của Viện; các đại biểu có
quyền đưa câu hỏi chất vấn... Chủ tịch nước cũng có quyền tham gia vào
hoạt động tổ chức nhân sự của Viện.
Hiện nay, hệ thống các cơ
quan tư pháp gồm các cơ quan toà án và các cơ quan kiểm sát đã hoạt động
khá có hiệu quả, nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều tồn tại: chất lượng
đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên chưa cao dẫn đến tình trạng án oan sai
còn lớn; sự độc lập của hoạt động xét xử còn cần phải nâng cao hơn
nữa...
2.2 Một vài giải pháp nhằm cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước ta theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền:
Trước những tồn tại và hạn chế như vậy trong bộ máy nhà nước Việt Nam
hiện nay, để Điều 2 Hiến pháp được thực hiện nghiêm chỉnh về sự phân
công, phân nhiệm giữa các cơ quan nhà nước, để vận dụng những hạt nhân
hợp lý của tư tưởng phân chia quyền lực trong bộ máy nhà nước Việt Nam,
nhóm nghiên cứu chúng em xin đưa ra một số đề xuất như sau:
Đối với Quốc hội:
Để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân thì nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất là phải
cải cách lại hoạt động của Quốc hội, bởi muốn mọi cá nhân, tổ chức
trong xã hội (bao gồm cả Nhà nước) thực sự tôn trọng pháp luật thì việc
đầu tiên là phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ và có
chất lượng cao; bên cạnh đó, cần phải có một cơ chế giám sát có hiệu
quả, có khả năng hạn chế và ngăn chặn các cơ quan nhà nước vượt quá
quyền hạn của mình mà xâm phạm đến lợi ích của các công dân và tổ chức
khác trong xã hội. Bên cạnh đó, với tư cách là cơ quan quyền lực cao
nhất, cơ quan đại diện cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, Quốc hội phải được tổ chức và hoạt động trên nguyên tắc dân chủ hơn
nữa, đảm bảo tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Để thực hiện được các
yêu cầu ấy cần phải khẳng định rõ ràng hơn nữa quyền lực cho cơ quan lập
pháp này.
Đầu tiên là yêu cầu phải thay đổi công tác bầu cử
đại biểu Quốc hội, đảm bảo tính dân chủ, đảm bảo tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân.
- Thay đổi phương thức bầu cử:
Theo quy chế hiện nay, tỉ lệ đại biểu trúng cử trên số ứng cử viên
thường là trên 50% (thường là 2/3 hoặc 3/5). Tỉ lệ này là quá cao. So
với lần Tổng tuyển cử Quốc hội đầu tiên ( 01/01/1946 ), ở Thủ đô Hà Nội
có những đơn vị bầu cử đạt tỉ lệ này là 2/11. Tỉ lệ này càng cao càng
chứng tỏ cử tri có ít cơ hội lựa chọn, và sự lựa chọn nhiều khi cũng
không phản ánh đúng ý chí của người dân. Nếu một đơn vị bầu cử có 5 ứng
cử viên để chọn ra 3 đại biểu, mà cả 5 ứng cử viên đều có năng lực, phẩm
chất khá đồng đều sẽ gây khó khăn cho việc lựa chọn của cử tri, lại
khiến tỉ lệ phiếu bầu trúng cử khó có thể đạt đa số tuyệt đối. Để giải
quyết vấn đề này nên tiến hành phân chia các đơn vị bầu cử theo số lượng
cử tri, mỗi đơn vị chỉ chọn ra một đại biểu duy nhất, nếu không có ứng
cử viên nào giành đa số phiếu tuyệt đối thì tiến hành bầu cử vòng hai
với hai ứng viên có số phiếu cao nhất ở vòng một. Cách thức bầu cử này
được tiến hành ở hầu khắp các nước trên thế giới. Phương pháp này có
những ưu điểm vượt trội là: đại biểu trúng cử luôn luôn với đa số phiếu
tuyệt đối; nhân dân được tự mình lựa chọn đại biểu từ các ứng viên mà
không cần thông qua Hội nghị hiệp thương, tăng cường tính dân chủ; không
cần tổ chức ba lần Hội nghị hiệp thương ở khắp các cấp hành chính, khắp
các đơn vị bầu cử, tiết kiệm một khoản chi cho ngân sách nhà nước; đại
biểu được bầu ra là duy nhất trên một đơn vị bầu cử, giúp cử tri dễ dàng
giám sát hoạt động của đại biểu, đảm bảo sự chịu trách nhiệm trước cử
tri của đại biểu.
- Bãi bỏ công tác cơ cấu đại biểu:
Công tác cơ cấu các đại biểu trong Quốc hội cần phải bị bãi bỏ, do không
đảm bảo tính dân chủ, không đảm bảo năng lực của các đại biểu mà chỉ
chạy theo tỉ lệ: bao nhiêu phần trăm đại biểu là nữ, bao nhiêu phần trăm
là người dân tộc thiểu số, bao nhiêu phần trăm là đại biểu trẻ... Giải
pháp là không nên cơ cấu các đại biểu mà chỉ nên quy định cơ cấu về ứng
cử viên: trong một đơn vị bầu cử phải có ít nhất bao nhiêu ứng cử viên
nữ, hay có ít nhất bao nhiêu phần trăm là ứng cử viên trẻ... rồi để cử
tri là người quyết định cuối cùng xem ứng cử viên nào xứng đáng làm đại
biểu Quốc hội.
Song song với việc cải cách bầu cử là phải tiến
hành xây dựng Quốc hội điện tử. Áp dụng các thành tựu của ngành khoa học
công nghệ thông tin trong bộ máy nhà nước là một đòi hỏi, yêu cầu bức
thiết hiện nay. Bên cạnh xây dựng Chính phủ điện tử, Quốc hội điện tử
cũng cần phải được chú trọng.
Xây dựng Quốc hội điện tử có những ưu điểm nổi bật, mà cụ thể là:
- Nếu tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội theo cách thức mỗi đơn vị bầu
cử chỉ có một đại biểu như trên thì sẽ nảy sinh ra hai vấn đề: Vấn đề
tiếp xúc cử tri của các đại biểu do trung ương giới thiệu và vấn đề đi
lại của các đại biểu sinh sống ở khu vực xa Hà Nội trước mỗi kỳ họp Quốc
hội. Quốc hội điện tử có thể giải quyết được cả hai vấn đề này. Thông
qua diễn đàn Quốc hội điện tử, cử tri có thể tiếp cận dễ dàng với đại
biểu của khu vực mình, trình bày các kiến nghị, gửi các tố cáo, khiếu
nại... Thông qua diễn đàn Quốc hội điện tử, đại biểu có thể không cần
tập trung ra Hà Nội mà vẫn có thể tham dự các phiên họp của Quốc hội,
vẫn có thể bỏ phiếu qua mạng Internet.
- Diễn đàn Quốc hội điện
tử giúp hoạt động lập pháp của Quốc hội đạt hiệu quả và chất lượng cao
hơn. Chỉ cần gửi cho đại biểu dự thảo luật cùng giới hạn thời gian gửi
phản hồi, đại biểu có thể tiếp xúc lấy ý kiến cử tri hoặc tự nghiên cứu
xem xét vấn đề trong thời gian cho phép, và bỏ phiếu thông qua diễn đàn.
Cách làm như thế giúp các văn bản luật được ban hành một cách nhanh
gọn, thể hiện đầy đủ ý chí nhân dân, thực sự là hiểu biết, là trí tuệ
của các đại biểu.
- Hơn thế, việc tổ chức các Phiên họp điện tử
trên mạng Internet còn đảm bảo cho hoạt động của Quốc hội luôn thông
suốt trong mọi tình huống bất thường. Và có thể trong tương lai không xa
tiến tới việc cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân này, thông qua
mạng Internet, sẽ luôn luôn thường trực, có thể giải quyết mọi vấn đề
đột xuất và cấp bách của đất nước.
Về hoạt động xây dựng các dự
án luật, cần nâng cao trình độ của các đại biểu, để các đại biểu, Hội
đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội có thể tham gia trực tiếp vào quá
trình biên soạn dự án luật, từ trình sáng kiến lập pháp đến tổ chức soạn
thảo dự án. Có như vậy mới làm sáng rõ chức năng lập pháp của Quốc hội.
Để thực hiện tốt hoạt động này, Quốc hội nên có một cơ quan cố vấn, là
tập thể các chuyên gia, các nhà nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực của đời
sống kinh tế - xã hội, nhằm giúp Quốc hội có khả năng nhìn nhận và nắm
bắt trước các sự kiện, các vấn đề có thể nảy sinh trong tương lai, và
đưa ra phương hướng hợp lý để xử lý và giải quyết. Cơ quan này cũng có
thể tham gia vào quá trình thẩm tra các dự án luật, kiểm tra tính hợp
hiến, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Ở Bhutan -
một quốc gia Nam Á, mỗi đạo luật được thông qua đều là kết quả của sự
tính toán mối quan hệ giữa hai chỉ số: Tổng thu nhập quốc dân (GDP - có
nghĩa là tác động của đạo luật đó đối với nền kinh tế) và Tổng hạnh phúc
quốc dân (GDH - có nghĩa là tác động của đạo luật đó đối với đời sống
nhân dân). Quy định rất hay này nhằm đảm bảo cho lợi ích xã hội và đời
sống nhân dân luôn được xem xét tới trước khi một đạo luật được ban
hành. Việt Nam cũng nên tham khảo phương cách này trong hoạt động lập
pháp, mà cụ thể là nên có một quy định rằng những đạo luật có ảnh hưởng
sâu rộng tới đời sống xã hội, ví dụ như dự thảo luật thuế thu nhập cá
nhân hiện nay chẳng hạn, thì sau khi được Quốc hội bỏ phiếu biểu quyết
cần phải lấy ý kiến nhân dân thông qua trưng cầu dân ý.
Về hoạt
động kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản luật do Quốc hội hoặc Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội ban hành cũng cần phải xem xét lại. Hiện nay hoạt
động này được trao cho Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội đảm nhiệm, nhưng
thật là bất cập nếu chính Uỷ ban này là người đề xuất sáng kiến, xây
dựng dự thảo, biểu quyết thông qua và cuối cùng nhận luôn khâu kiểm tra
tính hợp hiến của văn bản luật. Bởi vậy cần phải có một Tòa án hiến pháp
độc lập, hoặc ít nhất trước mắt cũng phải cho phép các Tòa án, các cơ
quan hành chính khi giải quyết các vụ việc cụ thể mà phát hiện văn bản
luật có quy định về vấn đề đó là trái với Hiến pháp thì có quyền không
tiếp tục giải quyết vụ việc mà trình lên cơ quan cấp trên để xin ý kiến
chỉ đạo.
Hoạt động lập hiến của Quốc hội được quy định trong Hiến pháp hiện nay cũng còn nhiều bất cập.
Thứ nhất là không quy định cá nhân hay tổ chức nào có quyền đề nghị sửa
đổi Hiến pháp. Trong cả bốn bản Hiến pháp của nước ta mới chỉ có Hiến
pháp năm 1946 là có quy định về vấn đề này: việc sửa đổi Hiến pháp được
thực hiện khi có hai phần ba tổng số Nghị viên yêu cầu.
Thứ
hai, cơ chế biên soạn và sửa đổi hiến pháp theo cách thức Quốc hội thông
qua với tỉ lệ theo luật định và hỏi ý kiến nhân dân như hiện nay chưa
phát huy được tính dân chủ, chưa cho phép nhân dân tham gia trực tiếp
vào công việc xây dựng Hiến pháp. Nhất thiết cần phải tiến hành trưng
cầu dân ý về bản Hiến pháp mới được ban hành hay sửa đổi.
Một
vấn đề đang được quan tâm trong thời gian gần đây là về số lượng đại
biểu chuyên trách và đại biểu kiêm nhiệm. Để nâng cao chất lượng hoạt
động của Quốc hội, tất yếu phải nâng cao tỉ lệ đại biểu chuyên trách.
Như ở Cộng hòa Liên bang Nga, khi cá nhân đã trúng cử là Nghị sĩ Đuma
Quốc gia thì buộc phải tạm nghỉ tất cả các chức danh, nhiệm vụ khác.
Việt Nam cũng nên tiến dần tới con số 100% đại biểu chuyên trách như thế
(chỉ trừ Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao), bởi chỉ như thế
mới đảm bảo hiệu quả hoạt động của đại biểu, nhất là khi đã tiến hành
bầu cử theo cách thức mỗi khu vực bầu cử chỉ chọn một đại biểu; nhưng
trong tương lai gần vẫn chỉ nên tiến tới 50% số đại biểu chuyên trách,
bởi chất lượng đại biểu ở ta chưa cao, nếu như không trực tiếp tham gia
vào lĩnh vực hành pháp thì khó có thể nắm bắt và hiểu được hết các vấn
đề chính trị - pháp lý phức tạp để thực hiện tốt nhiệm vụ đại biểu của
mình.
Về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, Luật hoạt
động giám sát của Quốc hội được ban hành năm 2003 là một bước tiến quan
trọng, đã quy định khá rõ ràng và đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ
ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu và đại biểu Quốc hội trong hoạt động
giám sát; nhưng thiết nghĩ hoạt động giám sát của Quốc hội không nên chỉ
dừng lại ở việc "chất vấn" và "yêu cầu trả lời", nên trao cho đại biểu
Quốc hội cả quyền đứng ra tố cáo sai phạm trước cơ quan điều tra, thanh
tra hay Tòa hành chính nữa. Có như vậy mới đảm bảo quyền giám sát của
Quốc hội là tối cao, là thực chất chứ không phải chỉ là những câu hỏi
"Tại sao lại thế này ?", "Đã giải quyết xong chưa ?".
Kinh
nghiệm ở các nước dân chủ Bắc Âu cho thấy cần phải có một số đại biểu
chuyên trách làm nhiệm vụ giám sát, được gọi là Thanh tra Quốc hội. Các
Thanh tra Quốc hội được giao một số quyền riêng, cho phép họ có thể đi
sâu giám sát hoạt động của các cơ quan hành pháp, đảm bảo các cơ quan
này không thể vượt quá quyền hạn của mình mà xâm phạm đến lợi ích của
công dân hay các tổ chức trong xã hội.
Tóm lại, việc cải tổ bộ
máy hoạt động của Quốc hội cần hướng tới mục tiêu dân chủ, đảm bảo tất
cả quyền lực thuộc về nhân dân, đảm bảo thực hiện tốt các chức năng,
nhiệm vụ của Quốc hội
Xu hướng tổ chức bộ máy nhà nước hiện nay
trên thế giới là tăng cường quyền lực cho hệ các cơ quan hành pháp. Đó
không chỉ do nguyên nhân đảng đa số trong Nghị viện được đứng ra thành
lập Chính phủ, và người đứng đầu đảng chiếm đa số đó được trở thành Thủ
tướng, mà còn có nguyên nhân bắt nguồn từ sự hợp lý trong cách tổ chức
như thế nữa. Bởi hành pháp là có quan hệ hàng ngày hàng giờ với nhân
dân, có quan hệ chặt chẽ với nhân dân. Để một nhà nước thực sự là Nhà
nước pháp quyền thì hơn hết cả cần phải có một hệ cơ quan hành pháp thật
mạnh, luôn luôn đặt mình dưới luật, luôn luôn hoạt động vì lợi ích của
nhân dân.
Đối với Chủ tịch nước:
Chủ tịch nước, theo
truyền thống phương Đông, phải là một con người tài đức, được nhân dân
cả nước yêu mến và tôn kính. Từ điều này, nhóm nghiên cứu chúng em thiết
nghĩ có nên tổ chức trưng cầu dân ý trong cả nước về Chủ tịch nước,
ngay sau khi được Quốc hội bầu ra ?
Nếu đã tiến hành trưng cầu
dân ý về Chủ tịch nước thì cũng nên trao thêm quyền hạn cho chức danh
này. Nhiều chuyên gia nghiên cứu hiện nay cho rằng nên đưa Chủ tịch nước
về lại vị trí là trung tâm của hoạt động hành pháp như trong Hiến pháp
năm 1946. Xét thấy phương cách này cũng có những ưu điểm của nó.
Thứ nhất, Nguyên thủ quốc gia sẽ thực sự là người đứng đầu Nhà nước,
trực tiếp tham gia quản lý, điều hành đất nước, chứ không chỉ mang nặng
tính nghi lễ, hình thức như hiện nay. Điều này là hoàn toàn hợp lý, bởi
nếu đã quy định thủ trưởng đơn vị là người chịu trách nhiệm về những vấn
đề nảy sinh trong đơn vị mình, thì người đứng đầu Nhà nước cũng phải
chịu trách nhiệm trước những vấn đề nảy sinh trong bộ máy nhà nước; và
đi đôi với trách nhiệm luôn luôn là quyền hạn. Tổ chức như vậy mới tạo
ra sự thống nhất trong cả nước: ở cấp nào đi chăng nữa, trung ương hay
địa phương thì người thủ trưởng luôn phải chịu trách nhiệm về đơn vị
mình.
Thứ hai, khi Chủ tịch nước trực tiếp quản lý việc thi
hành pháp luật và nền hành chính quốc gia thì Thủ tướng sẽ trở về với
nguyên nghĩa Tiếng Anh ban đầu của nó là "prime-minister" hay "bộ trưởng
quan trọng nhất", là cánh tay phải giúp đỡ Chủ tịch nước trong việc
quản lý và điều hành đất nước. Như vậy sẽ không cần tới chức danh Phó
Chủ tịch nước nữa. Một ưu điểm lớn là khi Thủ tướng vẫn giữ nguyên chức
vụ là Trưởng Ban chỉ đạo trung ương về Đấu tranh phòng chống tham nhũng
thì hoạt động đấu tranh với vấn nạn này sẽ được tăng cường và đẩy mạnh,
do Thủ tướng đã giảm bớt được một phần công việc trong quản lý hành
pháp.
Đối với Chính phủ:
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa
XI, Chính phủ có 26 bộ, cơ quan ngang bộ và 12 cơ quan thuộc Chính phủ;
và tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XII đã thông qua quyết định Chính
phủ có 22 bộ, cơ quan ngang bộ và 8 cơ quan thuộc Chính phủ. Với mục
tiêu tiếp tục xây dựng và kiện toàn bộ máy của cơ quan hành pháp theo
hướng thống nhất, tinh gọn và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, việc
thu gọn số đầu mối thuộc chính phủ như trên là hoàn toàn hợp lý, và có
lẽ còn phải tiến hành mạnh hơn nữa, dựa trên việc sắp xếp lại các đầu
mối thuộc Chính phủ theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực và liên thông.
Thứ nhất, những chức năng trùng lặp, chồng chéo giữa các bộ như vấn đề
đấu thầu giữa Bộ Xây dựng với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vấn đề quản lý đất
nhà ở giữa Bộ Xây dựng với Bộ Tài nguyên và Môi trường... cần phải được
giải quyết dứt điểm, bằng cách quy định một bộ duy nhất quản lý và thực
hiện.
Thứ hai, các cơ quan thuộc Chính phủ nếu có thể thì nên
đưa về các bộ có liên quan, và vẫn giữ nguyên sự độc lập tương đối trong
tổ chức và hoạt động của nó.
Thứ ba, các cơ quan liên ngành,
liên cấp thuộc Chính phủ không nên là một tổ chức pháp nhân riêng, có
trụ sở, tài khoản, biên chế... mà " Những tổ chức nào mà Thủ tướng Chính
phủ là người đứng đầu thì Văn phòng Chính phủ là bộ máy thường trực của
tổ chức liên ngành đó; Những tổ chức nào mà Phó Thủ tướng Chính phủ là
người đứng đầu, một Bộ trưởng làm Phó thường trực thì để cho bộ là bộ
máy thường trực, trừ một số rất ít đặt tại Văn phòng Chính phủ; Những tổ
chức do Bộ trưởng, Thứ trưởng đứng đầu thì đưa hết về các bộ làm bộ máy
thường trực"(1).
Để hoạt động hành pháp của Chính phủ và Thủ
tướng Chính phủ được tăng cường và thực hiện một cách tốt nhất, Thủ
tướng Chính phủ cần phải có thêm một số cơ quan chuyên môn làm nhiệm vụ
cố vấn.
Thứ nhất là cơ quan thông tin chiến lược, có nhiệm vụ
nắm bắt thông tin về mọi mặt, từ các vấn đề kinh tế - xã hội trong nước
tới tình hình quốc tế, nghiên cứu đưa ra các dự báo sớm, giúp Thủ tướng
chủ động đề ra các chính sách kịp thời, hiệu quả.
Thứ hai, theo
Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002, Chính phủ có nhiệm vụ thống nhất quản
lý ngân sách nhà nước, và Bộ Tài Chính chịu trách nhiệm điều hành hoạt
động phân bổ ngân sách (Điều 20, 21). Nhưng theo kinh nghiệm của các
nước khác trên thế giới cũng như trong khối ASEAN thì thường có một cơ
quan riêng thuộc Chính phủ chịu trách nhiệm về hoạt động này, tách khỏi
Bộ Tài chính.
Thứ ba, cần một cơ quan chuyên về phụ trách các
cán bộ công chức cao cấp, bởi đây là đội ngũ cán bộ có chuyên môn, trình
độ cao, nên cần có một cơ quan giúp Thủ tướng quản lý, bố trí họ vào
các vị trí phù hợp, nhằm thực hiện nhiệm vụ hành pháp một cách nhanh
chóng và đạt hiệu quả cao nhất. Hầu hết các nước trong khối ASEAN đều có
ban Công vụ trực thuộc Chính phủ.
Cả ba cơ quan cố vấn này
càng được bố trí nhỏ gọn càng tốt, chỉ gồm các chuyên gia hàng đầu về
phân tích tình hình, quản lý tài chính và quản lý nhân sự, như thế mới
giúp giải quyết nhanh chóng các vấn đề, đóng góp ý kiến cho Thủ tướng
xem xét, đưa ra các quyết định kịp thời và đúng đắn, phát huy hiệu quả
của hoạt động hành pháp.
Hiện nay Việt Nam được xếp hạng khá
cao trên thế giới về thực hiện Chính phủ điện tử, nhưng những hoạt động
này vẫn chưa nhiều, chưa phổ biến và cũng chưa trở thành một hoạt động
thường xuyên. Để tăng cường hoạt động hành pháp thiết nghĩ việc hoàn
thiện Chính phủ điện tử là một vấn đề rất cấp thiết.
_____________
(1) LS Nguyễn Văn Thảo: Sđd, tr.228
Thông qua hệ thống thông tin trực tuyến, Chính phủ có thể nhanh chóng
tiếp nhận thông tin từ các bộ, cơ quan ngang bộ cũng như từ các chính
quyền địa phương, chỉ đạo kịp thời các biện pháp đối phó với tình hình.
Cũng thông qua hệ thống mạng toàn cầu Internet, các dịch vụ hành chính
công của Nhà nước có thể được thực hiện nhanh chóng. Nhiều nước ở Châu
Âu đã cho phép đăng ký kết hôn, đăng ký khai sinh, ký kết hợp đồng kinh
tế - thương mại... trên mạng. Thậm chí như ở Đan Mạch, Chính phủ còn
tiến hành chi trả các khoản mua sắm của mình thông qua mạng, và đang dự
tính sẽ sử dụng phương cách này để trả lương cho nhân viên nhà nước.
Từ thực tiễn các nước như vậy, trong tình hình nước ta hiện nay, việc
ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động hành chính công có thể tiến
hành qua việc: nhận yêu cầu và cấp một số loại giấy tờ như chứng nhận
kết hôn, giấy khai sinh, giấy phép kinh doanh, giấy phép đầu tư, khai
thác...; hoặc giải quyết một số thủ tục như hải quan, kiểm toán...; hoặc
là nhận đơn thư yêu cầu, khiếu nại, tố cáo của nhân dân... thông qua hệ
thống mạng.
Chính phủ điện tử phải được phổ cập đến cấp cơ sở
xã, phường, việc này đòi hỏi một khoản đầu tư lớn, cũng như một khoảng
thời gian lâu dài để cán bộ, nhân viên cũng như nhân dân làm quen với
phương thức làm việc mới, nhưng hiệu quả và giá trị của nó mạng lại cũng
sẽ là rất lớn: giải quyết thủ tục hành chính nhanh gọn, tạo thuận lợi
cho các doanh nghiệp tổ chức sản xuất cũng như cho đời sống nhân dân...
Thực hiện Chính phủ điện tử là một bước quan trọng tiến tới bộ máy hành
chính đơn giản, gọn nhẹ, phục vụ tốt nhất cho nhân dân.
Mục
tiêu lâu dài của Chính phủ điện tử là có thể tiến tới thu chi ngân sách
nhà nước qua hệ thống mạng. Các doanh nghiệp có thể nộp thuế thông qua
hình thức chuyển khoản thẳng vào tài khoản của kho bạc nhà nước thông
qua giao dịch điện tử; Nhà nước cũng có thể chi các khoản mua sắm, trả
lương cho bộ máy công nhân viên chức hay chuyển giao, hỗ trợ kinh phí
cho các cơ quan như trường học, bệnh viện, các viện nghiên cứu, các tổ
chức chính trị - xã hội... bằng phương thức này. Áp dụng cách làm này có
thể làm giảm bớt hàng vạn hóa đơn, chứng từ, biên lai... được sử dụng
mỗi năm, giúp công tác lưu trữ cũng như hạch toán đơn giản và nhanh gọn
hơn nhiều; hơn nữa lại đảm bảo được sự công khai, minh bạch trong thu
chi ngân sách nhà nước, phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước
năm 2002; và đồng thời cũng là một biện pháp đấu tranh phòng chống tham
nhũng có hiệu quả.
Thông qua hệ thống mạng trực tuyến, hiện
nay một số bộ đã có hoạt động trả lời chất vấn nhân dân, Thủ tướng Chính
phủ Nguyễn Tấn Dũng cũng đã từng giao lưu trả lời kiến nghị của nhân
dân vào tháng 4 năm 2007, nhưng những hoạt động này chưa trở thành định
kỳ và thường xuyên. Trong tương lai, cần quy định các bộ, cơ quan ngang
bộ phải tiến hành trả lời chất vấn định kỳ 6 tháng đến 1 năm/ 1 lần trên
mạng Internet. Hoạt động này là biểu hiện quyền giám sát của nhân dân
đối với cơ quan hành pháp, thể hiện tính dân chủ, tính quyền lực nhân
dân.
Trong thời gian tới cần đẩy mạnh hơn nữa hoạt động đấu
tranh phòng chống tham nhũng. Để diệt trừ được vấn nạn nhức nhối này thì
cần phải có được sự phối hợp chặt chẽ từ cả ba cơ quan lập pháp, hành
pháp và tư pháp. Do đó cần tổ chức lại Ban chỉ đạo Trung ương về đấu
tranh phòng chống tham nhũng, bao gồm cả các Thanh tra Chính phủ lẫn các
Thanh tra Quốc hội ( như đã trình bày ở trên ), và trực tiếp nằm dưới
sự chỉ đạo của Thủ tướng.
Cơ cấu của Chính phủ cũng có thể được
tăng thêm Viện công tố - với chức năng công tố nhà nước ( tổ chức và
hoạt động của viện này sẽ được trình bày rõ hơn ở phần sau) .
Tóm lại, hệ cơ quan hành pháp, gồm Chủ tịch nước, Chính phủ, Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp, với hai nhiệm vụ chính là chấp hành
và hành chính, trong thời gian tới cần phải được cải tổ lại theo hướng:
tinh giản bộ máy đến tối ưu; các bộ, cơ quan ngang bộ phải được phân
công, phân nhiệm rạch ròi, tránh tình trạng chồng chéo, lẫn lộn; đẩy
mạnh cải cách hành chính theo hướng nhanh gọn, tiện lợi cho công dân và
tổ chức. Việc tăng cường quyền lực vào tay cơ quan hành pháp không nhằm
tới sự tập quyền, mà trên hết là để phục vụ nhân dân, để tôn trọng và
bảo vệ các quyền công dân, quyền con người - một yêu cầu quan trọng của
Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.
Hệ các cơ quan tư
pháp hiện nay gồm có Toà án nhân dân, Toà án quân sự các cấp, Viện kiểm
sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự các cấp. Tổ chức như vậy là chưa hợp
lý do tạo nên sự chồng chéo, trùng lặp giữa các cơ quan truy tố, xét xử
dân sự và quân sự; đồng thời, việc dàn trải các kiểm sát viên, các thẩm
phán dân sự và quân sự cũng tạo nên sự khan hiếm cán bộ tư pháp. Giải
pháp cho vấn đề này là sát nhập Tòa án quân sự vào Tòa án nhân dân, Viện
kiểm sát quân sự vào Viện kiểm sát nhân dân. Các vụ án dân sự cũng như
quân sự sẽ được xét xử theo những trình tự khác nhau tùy theo những quy
định khác nhau của pháp luật, nhưng đều được tiến hành bởi một cơ quan
thống nhất.
Đối với Toà án nhân dân:
Hiến pháp cũng
như Luật tổ chức Tòa án nhân dân đều quy định công tác xét xử được tiến
hành độc lập, chỉ tuân theo luật; và đây cũng là nhiệm vụ quan trọng
nhất của ngành tòa án để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền. Nhưng
thực tế hiện nay sự độc lập này vẫn chưa cao, cụ thể là vẫn còn hiện
tượng thỉnh thị án, duyệt án; chế độ tuyển chọn thẩm phán là bổ nhiệm
nhưng trước đó lại phải qua Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán do Chủ tịch
hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp làm chủ tịch; nhiệm kỳ Thẩm
phán chỉ có 5 năm... Những quy định này phần nào đã làm giảm đi tính
độc lập của Thẩm phán cũng như của cơ quan xét xử.
Từ đó, nhóm nghiên cứu xin đề ra một số giải pháp như sau:
Thứ nhất, các tòa án sơ thẩm không thể tiếp tục phụ thuộc vào lãnh thổ
hành chính như hiện nay, Tòa án cần độc lập với chính quyền địa phương;
các Thẩm phán, dù là ở cấp cơ sở cũng cần được do trung ương bổ nhiệm.
Như vậy sẽ chỉ có một Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán duy nhất, do Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao làm chủ tịch. Quy định này giúp hệ thống xét
xử được độc lập về tổ chức đối với các cơ quan hành chính địa phương;
đồng thời tạo ra sự đồng bộ trong đội ngũ Thẩm phán, do chỉ có một mặt
bằng đánh giá thống nhất trong cả nước.
Thứ hai, các cấp Tòa án
hoạt động không phụ thuộc nhau, không có tòa nào có thẩm quyền xét xử
cao hơn các tòa khác, mà chỉ quan hệ với nhau bằng quan hệ tố tụng: Tòa
sơ thẩm bị kháng cáo thì Tòa phúc thẩm xét xử, Tòa phúc thẩm bị kháng
cáo thì Tòa giám đốc thẩm xét xử. Quy định này đảm bảo sự phân công,
phân nhiệm ngay trong bản thân ngành tòa án, tăng cường tính độc lập của
từng tòa án, tránh hiện tượng thỉnh thị án, duyệt án.
Thứ ba,
nên kéo dài nhiệm kỳ của các Thẩm phán từ 5 năm như hiện nay lên thành 7
năm, với những Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao có thể kéo dài
nhiệm kỳ lên tới 12 năm giống như quy định ở Nga. Bên cạnh đó cũng phải
đảm bảo chế độ lương bổng, phụ cấp của các Thẩm phán, để hành pháp không
thể lấy đây làm sức ép lên cơ quan xét xử, cũng như không khiến các
Thẩm phán vì có cuộc sống khó khăn mà dễ bị mua chuộc.
Thứ tư,
phải không ngừng tăng cường hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
cũng như giáo dục đạo đức cho các Thẩm phán, để họ thực sự là những con
người có đủ cả tài cả đức, đảm bảo giữ vững sự nghiêm minh của pháp
luật, đảm bảo xét xử đúng người đúng tội.
Đối với Viện kiểm sát nhân dân:
Các cơ quan kiểm sát có hai chức năng chính là thực hiện quyền công tố
nhà nước và giám sát các hoạt động tư pháp. Nhưng do thực tế hiện nay ở
hầu hết các nước trên thế giới đều không có cơ quan nào nắm giữ những
chức năng như vậy, nên nhóm nghiên cứu xin mạnh dạn đưa ra khuyến nghị
tách Viện kiểm sát nhân dân hiện nay thành hai cơ quan riêng: Viện Công
tố thực hiện chức năng công tố nhà nước, nằm dưới sự điều hành, quản lý
của Chính phủ; và Uỷ ban giám sát Tư pháp trực thuộc Tòa án nhân dân tối
cao. Đây cũng là một đòi hỏi của sự phân công, phân nhiệm rõ ràng trong
bộ máy nhà nước, nhằm đảm bảo cho sự nghiêm minh của pháp luật, vì lợi
ích của nhân dân.
Thực tế hiện nay cho thấy hoạt động điều tra
để khởi tố các vụ án hình sự chủ yếu do các cơ quan điều tra của Chính
phủ đảm nhiệm: cơ quan điều tra Bộ Công an, Thanh tra Chính phủ... Bởi
vậy, việc tách Điều tra viên và Công tố viên ra thành hai cơ quan độc
lập với nhau là hoàn toàn bất hợp lý: Công tố viên sẽ khó nắm bắt tình
hình thực tế vụ việc, và Điều tra viên không nhận được chỉ đạo cụ thể để
tiến hành tác nghiệp... Bởi vậy, việc thành lập Viện công tố thuộc
Chính phủ, thống nhất chỉ đạo các hoạt động điều tra, khởi tố các vụ án
hình sự là hoàn toàn hợp lý.
Viện công tố vẫn sẽ hoạt động theo
chế độ thủ trưởng như Viện kiểm sát nhân dân hiện nay, với Viện trưởng
do Chủ tịch nước hoặc Thủ tướng đề nghị Quốc hội phê chuẩn.
Còn
Uỷ ban giám sát Tư pháp trực thuộc Tòa án nhân dân tối cao, có thể do
chính Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao làm Chủ nhiệm.
Có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các hoạt động trong lĩnh vực tư pháp, từ
điều tra, khởi tố tới xét xử. Có thể coi Uỷ ban này gần giống như Tòa
phá án của Pháp: "Tòa này không xét nội dung vụ kiện mà chỉ đảm bảo sự
tôn trọng việc áp dụng luật lệ tố tụng một cách chính xác. Tòa án này có
quyền hủy bỏ các bản án xét xử không đúng thủ tục và giao hồ sơ cho một
tòa án cùng cấp để xử lại"(1).
Uỷ ban giám sát Tư pháp này nên
hoạt động theo chế độ thủ trưởng. Các thanh tra của Uỷ ban có thể là
các Thẩm phán, các Công tố viên có nhiều kinh nghiệm, được lựa chọn bởi
Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán và do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ
nhiệm. Nhiệm kỳ của các thanh tra này có thể là 7 hoặc 12 năm giống
nhiệm kỳ của các Thẩm phán.
Tóm lại, hoạt động tư pháp hiện nay
cần phải đẩy mạnh hơn nữa tính độc lập của mình; xây dựng đội ngũ cán
bộ tư pháp có đủ đức đủ tài, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật,
thực sự là "người canh giữ tự do cá nhân, bảo đảm sự tôn trọng nguyên
tắc... theo những điều kiện do luật định"(2).
Qua tất cả những
phần đã trình bày ở trên, có thể thấy sự phân công, phân nhiệm giữa các
cơ quan nhà nước: Quốc hội - nắm quyền lập pháp và giám sát chung, Chủ
tịch nước và Chính phủ nắm quyền hành pháp, Tòa án nhân dân nắm quyền tư
pháp là một đòi hỏi tất yếu. Đòi hỏi cải cách bộ máy nhà nước hiện nay
là củng cố vai trò là cơ quan quyền lực cao nhất của Quốc hội, tăng
cường quyền lực cho cơ quan hành pháp, bảo đảm sự độc lập của cơ quan tư
pháp; đồng thời, cần mở rộng dân chủ, tạo điều kiện cho nhân dân tham
gia vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong cả ba lĩnh vực:
lập pháp, hành pháp và tư pháp. Bên cạnh đòi hỏi phải phân công, phân
nhiệm một cách rạch ròi thì giữa các nhánh cơ quan vẫn cần có mối liên
hệ mật thiết, đảm bảo sự thống nhất của quyền lực nhà nước, đảm bảo sự
lãnh đạo của Đảng. Điều này được thể hiện qua quyền giám sát của Quốc
hội; các cơ quan khác có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội; qua
việc hành pháp tham gia bổ nhiệm các chức vụ tư pháp; cũng như tư pháp
có quyền xét xử các cá nhân hành pháp.
Sự phân tách các lĩnh
vực hoạt động trong sự thống nhất của quyền lực nhà nước là nguyên tắc
cơ bản của Nhà nước pháp quyền, đảm bảo mọi cơ quan nhà nước đều đứng
dưới pháp luật, không nằm ngoài hay nằm trên pháp luật, đảm bảo cho
quyền lực do nhân dân ủy thác không thể bị lạm dụng mà dẫn đến tình
trạng chuyên quyền, độc tài.
Đối với các cấp chính quyền địa phương:
Như đã từng trình bày ở trên, xu hướng mới của cải cách bộ máy nhà nước
ở các nước trong thời gian gần đây là phân cấp, phân quyền giữa chính
quyền trung ương và chính quyền địa phương. Nguyên tắc này cũng đảm bảo
được những yêu cầu quan trọng của mô hình Nhà nước pháp quyền mà chúng
ta cần quan tâm.
Phân cấp là cắt chia đứt đoạn công việc cho
từng cấp hành chính giải quyết. Như việc xây dựng đường hiện nay chẳng
hạn: Muốn xây dựng đường thì đầu tiên Chính phủ xây đường quốc lộ, tỉnh
xây dựng đường nối từ đường quốc lộ vào tỉnh mình và gọi là tỉnh lộ, cứ
như vậy, huyện và xã cũng tự xây dựng đường trong phạm vi của mình, cuối
cùng tạo thành tuyến giao thông liên tục.
Còn phân quyền là thực hiện công việc một cách trọn gói, đã giao quyền cho cơ quan nào thì cơ quan đó làm tất cả.
Trong điều kiện mới hiện nay, khi tình hình thế giới đang có những phát
triển nhanh chóng và phức tạp, Việt Nam lại vừa gia nhập vào Tổ chức
thương mại Quốc tế WTO, đánh dấu một bước hội nhập quan trọng với thế
giới, chắc chắn công việc của Chính phủ trong thời gian tới sẽ ngày càng
nặng nề và nan giải. Bởi vậy, đối với những công việc hành chính sự vụ
mà có thể giao cho các địa phương tự giải quyết thì Chính phủ nên giao
lại, không nên ôm đồm tất cả như hiện nay, mà chỉ tập trung vào quản lý
tầm vĩ mô, trên phạm vi cả nước mà thôi.
_____________
(1)(2) TS Nguyễn Thị Hồi: Sđd, tr.212
Chủ trương xã hội hóa các lĩnh vực trong đời sống xã hội của Đảng và
Nhà nước trong thời gian gần đây thực chất cũng là đòi hỏi Chính phủ
giao lại những việc có thể giao cho chính quyền địa phương, và chính
quyền địa phương giao lại những việc có thể giao lại cho các cá nhân, tổ
chức trong xã hội thực hiện, mà biểu hiện cụ thể là chuyển từ hình thức
chính quyền phụ thuộc sang hình thức chính quyền tự quản.
Thuật ngữ "Chính quyền trung ương" và "Chính quyền địa phương" được sử
dụng ở nước ta từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945. Từ Hiến pháp năm 1959,
"Chính quyền địa phương" được đổi lại tên gọi thành "Hội đồng nhân dân"
và "Uỷ ban nhân dân". Có thể hiểu hai thuật ngữ này là không có gì khác
nhau, và ngày nay chúng vẫn được dùng thay cho nhau, nhưng theo Sắc
lệnh số 63/SL năm 1945 của Chủ tịch nước thì Chính quyền địa phương "là
một pháp nhân công, có thể tự quyết định một số công việc của địa phương
không cần xin ý kiến cấp trên mà chỉ chịu sự giám hộ hành chính ( hậu
kiểm )"(1), quy định này khác cơ bản so với hiện nay, từ sau năm 1960,
các Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được coi là "một pháp nhân có
thẩm quyền tự chịu trách nhiệm, chỉ hoạt động trong phạm vi được phân
cấp đến đâu làm đến đó"(2). Từ hai định nghiã này có thể nhận thấy chính
quyền địa phương hiện nay có thẩm quyền tự quyết thấp hơn nhiều so với
bản Hiến pháp năm 1946.
Vì Việt Nam ta là một nhà nước đơn nhất
nên tuyệt đối không thể coi "Hội đồng nhân dân là Quốc hội, và Uỷ ban
nhân dân là Chính phủ ở địa phương", làm như vậy sẽ gây ra tình trạng
địa phương cục bộ, nhà nước bị chia nhỏ; nhưng cũng không thể tiếp tục
cơ chế tập trung cao độ vào trung ương như hiện nay, dẫn đến sự quá tải
trong hoạt động của Chính phủ, và không đảm bảo được chủ quyền nhân dân ở
cấp chính quyền địa phương. Bởi vậy, cần xem xét lại cơ cấu tổ chức và
hoạt động của hai cơ quan này, thực hiên sự phân quyên, phân cấp một
cách hợp lý, đảm bảo dân chủ ở cơ sở, đảm bảo nguyên tắc pháp quyền
trong bộ máy nhà nước.
_____________
(1) LS Nguyễn Văn Thảo: Sđd, tr.389
(2) LS Nguyễn Văn Thảo: Sđd, tr.390
Trong bản thân cách hiểu về Hội đồng nhân dân cũng còn rất nhiều những vấn đề cần làm rõ.
Nếu theo Hiến pháp thì Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước
tại địa phương, là cơ quan dân cử, từ đó có thể hiểu Hội đồng nhân dân
thuộc nhánh lập pháp; nhưng về hoạt động thì cơ quan này lại có chức
năng chủ yếu là thực hiện các chính sách, chủ trương, pháp luật của
trung ương tại địa phương mình, nên lại được xem là thuộc nhánh hành
pháp. Bên cạnh đó, các đại biểu Hội đồng nhân dân là đại biểu cho nhân
dân tại địa phương mình, chứ không phải công chức nhà nước, họ là đại
diện cho những người chủ - nhân dân, chứ không phải những người thừa
hành quyết định của cơ quan hành chính. Bởi vậy, cần phân định rõ Hội
đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước hay cơ quan hành pháp, là cơ
quan dân cử hay cơ quan chấp hành. Mà theo nhóm nghiên cứu thì hợp lý
nhất là xếp cơ quan này vào nhánh lập pháp, với chức năng chủ yếu là
quyết định một số các vấn đề ở địa phương được trung ương ủy quyền.
Cần phân biệt rõ chức năng, thẩm quyền của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, mà cụ thể là
1) Hội đồng nhân dân có các thẩm quyền:
- Tự quyết định trong một số lĩnh vực.
- Tự quyết định nhưng phải hỏi xin ý kiến các cơ quan cấp trên trong một số lĩnh vực.
- Chất vấn, giám sát các cơ quan cùng cấp.
- Tư vấn hoạt động cho cơ quan hành pháp khi cơ quan này yêu cầu.
- Là một pháp nhân đầy đủ, có quyền vay nợ, phát hành trái phiếu, huy động các nguồn vốn xây dựng địa phương.
Uỷ ban nhân dân có các thẩm quyền:
- Chấp hành, thực thi các nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
- Quản lý tài chính, tài sản, nhân sự tại địa phương.
- Chỉ đạo, hướng dẫn, phối hợp, kiểm tra, tổ chức công việc... cho các cơ quan của mình cũng như cho chính quyền cấp dưới.
_____________
(1) LS Nguyễn Văn Thảo: Sđd, tr.285
(2) Điều 2 Pháp lệnh Thủ đô Hà Nội- Vietnam Domains Registrar .VN ccTLD, web hosting, e-mail, VOIP, News.
Pháp lệnh Thủ đô Hà Nội được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 10 ban hành
ngày 28/12/2000 có thể được xem là một hình mẫu về "phân công trách
nhiệm và phân cấp quản lý nhà nước"(2) đối với địa phương.
Theo
đó, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội có quyền tự
chủ trong một số các lĩnh vực hoạt động, mà cụ thể là:
- Chính
quyền thành phố có quyền lập quy, tự đặt ra các quy tắc trong một số các
lĩnh vực trên cơ sở các luật và các quy định của Quốc hội và Chính phủ.
- Có ngân sách riêng, chủ động trong việc thu chi, có quyền huy động
các nguồn vốn đầu tư kể cả việc phát hành trái phiếu xây dựng Thủ đô.
- Ở một số lĩnh vực như quản lý đầu tư, tổ chức đấu thầu, sắp xếp các
doanh nghiệp nhà nước thuộc thành phố, khuyến khích xã hội hóa các dịch
vụ công ích, quản lý và phát triển hạ tầng xã hội, quản lý nhà đất trong
thành phố, quản lý bộ máy và công chức thành phố... thì chính quyền
thành phố được phép tự quyết định mà không cần xin phép Chính phủ, nhưng
vẫn chịu sự kiểm tra, giám sát của Chính phủ.
- Tự quản lý, tự cân đối các hoạt động kinh tế trên địa bàn Thủ đô.
Mô hình phân cấp, phân quyền đối với Hà Nội như trên cần được mở rộng
ra khắp các tỉnh, thành trong cả nước, tuy nhiên, cũng phải xem xét tới
tình hình cụ thể ở từng địa phương, tùy thuộc vào tính chất thành thị
hay nông thôn mà tổ chức lại các cơ quan chính quyền địa phương cho hợp
lý.
Có thể dễ dàng nhận thấy sự khác biệt rất lớn giữa đời sống đô
thị và đời sống nông thôn; nhưng hiện nay, việc tổ chức chính quyền cấp
cơ sở ở hai khu vực này lại được cào bằng như nhau. Đó là một điều rất
bất hợp lý.
Với chính quyền cơ sở ở khu vực nông thôn, nên theo
quy định trong Hiến pháp năm 1946, tức là kiện toàn và tăng cường cho
chính quyền cấp xã và cấp tỉnh, giao cho chúng quyền tự quyết rộng rãi
trên nhiều lĩnh vực trên địa bàn mình; còn ở cấp huyện chỉ cần có cơ
quan hành chính đại diện, mà không cần có cơ quan đại diện nhân dân ở
cấp này. Cách tổ chức như vậy khẳng định vai trò của cấp quản lý chung ở
địa phương là cấp tỉnh, cũng như vị trí của cấp cơ sở là cấp xã, còn
cấp huyện chỉ là một cấp trung gian mà thôi.
Với chính quyền đô
thị, do đô thị là một khu vực nhỏ lại tập trung dân cư đông đúc, trên
địa bàn có nhiều các trung tâm cơ quan hành chính, trường học, bệnh
viện, nơi giải trí... nên cần có cách quản lý khác với ở vùng nông thôn.
Nếu như ở vùng nông thôn, chính quyền được chia ra nhiều cấp khác nhau,
từ tỉnh, huyện tới xã, thì ở đô thị chỉ nên có một cấp chính quyền duy
nhất; ở những đô thị lớn như Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh, nếu cần
có thêm các chính quyền cấp cơ sở cấp quận, phường thì chỉ cần các Uỷ
ban nhân dân làm nhiệm vụ đại diện hành chính, được bổ nhiệm từ trên
xuống, nhằm thay mặt cho chính quyền thành phố giải quyết các công việc
hành chính trong địa bàn. Nguyên nhân của yêu cầu này là do đô thị là
một thể thống nhất, với hệ thống đường xá giao thông, hệ thống điện, hệ
thống cấp thoát nước, vệ sinh môi trường... Việc chia cắt đô thị thành
các quận, các phường rồi chia nhau quản lý các mảnh của một hệ thống
nhất như hiện nay là hoàn toàn không phù hợp và cần phải bãi bỏ.
Về tổ chức chính quyền các cấp, nhóm nghiên cứu xin đưa ra một số khuyến nghị như sau:
- Chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương:
Hiện tại cả nước có 59 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương.
Đây sẽ là cấp hành chính quan trọng bậc nhất, vì trực tiếp nắm vai trò
quản lý, điều hành các hoạt động của nhân dân; Chính phủ và các bộ sẽ
chỉ là các cơ quan chuyên môn chuyên hoạt động hoạch định chính sách và
quản lý vĩ mô, mà không tham gia vào giải quyết các vấn đề cụ thể của
nhân dân nữa. Để đảm bảo được điều này, chính quyền cấp tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương sẽ được tổ chức bao gồm Hội đồng nhân dân và Uỷ
ban nhân dân, đứng đầu là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân.
Hội đồng
nhân dân bao gồm các đại biểu do nhân dân bầu ra theo hình thức bỏ phiếu
phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Cơ quan này có chức
năng lập quy, quyết định các vấn đề trên địa bàn tỉnh, thành mình, trong
khuôn khổ pháp luật và quy định của chính quyền trung ương.
Ủy
ban nhân dân gồm Chủ tịch Uỷ ban do nhân dân bầu cử, trên cơ sở Thủ
tướng bổ nhiệm, và các giám đốc sở chuyên ngành, với chức năng chủ yếu
là thực hiện các quyết nghị của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Hiện nay, cần phải có các quy định tăng cường quyền giám sát của các đại
biểu Hội đồng nhân dân đối với Uỷ ban nhân dân, cho phép bỏ phiếu tín
nhiệm một cách định kỳ và thường xuyên đối với các thành viên của Uỷ ban
nhân dân. Ngoài ra, để đảm bảo sự phân công, phân quyền giữa chức năng
quy định của Hội đồng nhân dân và chức năng thừa hành của Uỷ ban nhân
dân, cần quy định các đại biểu không thể đồng thời là các thành viên của
Uỷ ban nhân dân; bên cạnh đó cần khuyến khích các đại biểu là các cán
bộ hưu trí có đủ năng lực, hiểu biết, đủ điều kiện sức khỏe, để tuy
không có sự dùng chung nhân viên nhưng Hội đồng nhân dân vẫn có đầy đủ
hiểu biết về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương...
Bên cạnh đó, cần phải có một Ban chỉ đạo địa phương về đấu tranh phòng
chống tham nhũng, nằm dưới sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo trung ương thuộc
chính phủ, và phải báo cáo công tác, chịu sự giám sát, kiểm tra, đôn đốc
của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
- Chính quyền cấp huyện - xã:
Chính quyền cấp quận ở đô thị có thể bị bãi bỏ, như đã trình bày ở phần
trên, còn chính quyền cấp huyện ở khu vực nông thôn cũng chỉ nên có cơ
quan đại diện hành chính mà không có cơ quan dân cử ở cấp này. Cơ quan
hành chính ở cấp huyện đứng đầu là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, do Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm, có nhiệm vụ đại diện cho tỉnh giải quyết
các sự vụ hành chính trong phạm vi lãnh thổ huyện, giám sát, tư vấn
hoạt động của các chính quyền xã.
Chính quyền cấp xã được xem
là hạt nhân cơ sở của nền hành chính quốc gia. Hiện nay cả nước có
khoảng 10.500 xã (không kể các phường, thị trấn).
Do xã là một
cộng đồng cư dân gắn bó với nhau từ lâu đời, mối quan hệ đó không ai có
thể phá vỡ được, bởi vậy, phải tổ chức chính quyền cấp xã dưới hình thức
giao cho nhân dân tự quản.
Hội đồng nhân dân xã do nhân dân
bầu ra, cũng có chức năng, quyền hạn tương tự như Hội đồng nhân dân
tỉnh. Nhưng chính quyền huyện có quyền giám sát hoạt động của Hội đồng
nhân dân cấp xã, thậm chí có quyền giải tán cơ quan này khi nhận thấy có
sai phạm.
Uỷ ban nhân dân xã đứng đầu là Chủ tịch Uỷ ban, có
thể do nhân dân bầu, có thể do Hội đồng nhân dân bầu, mà cũng có thể do
cấp trên bổ nhiệm. Nên có sự linh hoạt trong quy định này tùy vào điều
kiện cụ thể của từng địa phương: mật độ dân số, trình độ và ý thức tham
gia hoạt động chính trị của nhân dân, mức độ đô thị hóa của vùng nông
thôn...
Nói tóm lại, việc tiến hành xây dựng cơ chế phân cấp,
phân quyền ở địa phương trong thời gian sắp tới là một đòi hỏi cấp
thiết, mà biểu hiện cụ thể là phải tăng cường quyền hạn cho chính quyền
địa phương trong một số các lĩnh vực hành chính công, tự quản về ngân
sách, tổ chức nhân viên... Phải tuyệt đối đảm bảo rằng công việc nào địa
phương có thể làm được thì chuyển giao cho địa phương, Chính phủ và các
cơ quan ngang bộ sẽ chấm dứt việc tác động trực tiếp tới đời sống cá
biệt của nhân dân, mà chỉ quan tâm tới hoạt động hoạch định chính sách
và quản lỹ vĩ mô cả đất nước. Tổ chức bộ máy nhà nước như vậy mới đảm
bảo dân chủ, khẳng định nhân dân thực sự là chủ của quyền lực nhà nước,
đảm bảo không cơ quan nào có khả năng lạm quyền, tất cả các cấp chính
quyền đều nằm dưới pháp luật.
Kết luận
Tư tưởng phân chia quyền lực đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử các học thuyết chính trị - pháp lý thế giới.
Ban đầu nó chỉ được biểu hiện một cách sơ khai trong tổ chức bộ máy nhà
nước các quốc gia cổ đại. Trên cơ sở đó, các học giả đương thời đã xây
dựng những nền tảng tư tưởng đầu tiên của một trong những nguyên tắc
quan trọng nhất trong xây dựng nhà nước về sau này: quyền lực không thể
giao trọn vẹn cho một cá nhân, một tập thể, mà phải được chia tách ra,
trao vào những bàn tay khác nhau, như thế mới đạt hiệu quả cao nhất.
Trong thời kỳ Cách mạng Tư sản, tư tưởng phân chia quyền lực đã được
các học giả tư sản cấp tiến phát triển và hoàn thiện, mà đỉnh cao là gắn
với những cái tên như: John Locke, Charles Louis Montesquieu,
Jean-Jacques Rousseau... Từ đây, phân chia quyền lực đã chính thức trở
thành một học thuyết đầy đủ, trọn vẹn và hoàn hảo, đã trở thành hòn đá
tảng trong xây dựng và tổ chức bộ máy nhà nước của mọi nước tư sản.
Chủ nghĩa Mác cho rằng phân quyền đơn thuần chỉ là sự phân công lao
động trong bộ máy nhà nước, giống như sự phân công lao động trong một
xưởng sản xuất của chủ tư bản.
Dựa theo quan điểm này một cách
máy móc, nhiều học giả đã phủ nhận tư tưởng phân quyền, để không áp dụng
nó trong tổ chức bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa, giống như sự phủ
nhận của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong lòng một xã hội xã
hội chủ nghĩa.
Nhưng ngày nay, trước những đòi hỏi phải cải
cách lại bộ máy nhà nước ta theo hướng Nhà nước pháp quyền của dân, do
dân và vì dân, việc xem xét lại vị trí, vai trò của tư tưởng phân quyền
đã trở thành một yêu cầu bức thiết.
Tư tưởng phân chia quyền lực và mô hình Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Tư tưởng phân chia quyền lực chỉ có thể phát huy hết những ưu điểm của
nó trong một xã hội thực sự dân chủ, khi nhân dân thực sự là chủ thể của
quyền lực nhà nước, khi nhà nước thực sự bảo vệ và tôn trọng các quyền
của công dân... hay nói một cách khác là trong một xã hội pháp quyền.
Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân chỉ có thể trở thành hiện
thực khi bản thân các cơ quan nhà nước luôn phải phục tùng pháp luật do
chính nó ban hành; và để đảm bảo cho các cơ quan nhà nước luôn nằm dưới
pháp luật thì còn cách thức nào có hiệu quả hơn việc áp dụng nguyên tắc
phân quyền ? Từ đó có thể khẳng định sự phân công, phân quyền giữa các
cơ quan trong việc phối hợp thực hiện quyền lực nhà nước là một đòi hỏi
bắt buộc, là một nhân tố cấu thành không thể thiếu của mô hình Nhà nước
pháp quyền.
Bởi vậy, không thể không áp dụng những hạt nhân hợp
lý của tư tưởng và nguyên tắc phân quyền vào tổ chức bộ máy Nhà nước ta
hiện nay.
Trong quá trình chuẩn bị cho việc sửa đổi, bổ sung
Hiến pháp và các Luật tổ chức nhà nước cho phù hợp với yêu cầu của thời
đại và thông lệ quốc tế, nhóm nghiên cứu chúng em xin viết bản báo cáo
kết quả nghiên cứu này với đôi dòng khuyến nghị, rất mong những hạt nhân
hợp lý, những điểm tiến bộ của nguyên tắc phân quyền sẽ được áp dụng
sâu rộng trong tổ chức bộ máy nhà nước: các cơ quan tối cao của Nhà nước
- đại diện cho ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp cần phải được tổ
chức độc lập hơn nữa, tránh chồng chéo, lẫn lộn; đảm bảo công tác
thanh, kiểm tra, công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng được tiến
hành hiệu quả... Bên cạnh đó cần phải tiến hành phân cấp, phân nhiệm một
cách rõ ràng giữa trung ương và địa phương, đảm bảo không có sự trùng
lặp, chồng chéo trong quản lý giữa các cấp.
Công trình nghiên
cứu này được chuẩn bị trong một thời gian có hạn, lại đề cập tới những
vấn đề to lớn là "tư tưởng phân chia quyền lực" và "mô hình nhà nước
pháp quyền", nên chắc chắn không tránh khỏi những sai sót. Nhóm nghiên
cứu chúng em rất mong nhận được sự đánh giá, góp ý của các thầy cô để
giúp kiến thức của mình hoàn thiện hơn.
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
1. Bàn về khế ước xã hội, Jean- Jacques Rousseau, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, năm 2006
2. Bàn về tinh thần pháp luật, Charles Louis Montesquieu, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, năm 2006
3. Bàn về tự do, John Stuart Mill, Nxb Tri thức, Hà Nội, năm 2006
4. Bảy mươi năm Đảng Cộng sản Việt Nam, các tác giả, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000
5. Bước vào thế kỷ 21, Báo cáo về tình hình phát triển thế giới 1999 -
2000 của Ngân hàng Thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1999
6. Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, TS Trần Hậu Thành, Nxb Lý
luận chính trị, Hà Nội, năm 2005
7. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 ( sửa đổi ), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2006
8. Hiến pháp Việt Nam ( Năm 1946, 1959, 1980 và 1992 ), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1995
9. Khảo luận thứ hai về chính quyền - Chính quyền dân sự, John Locke, Nxb Tri thức, Hà Nội, năm 2007
10. Lịch sử thế giới cổ đại, Lương Ninh (chủ biên), Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 2002
11. Lịch sử Văn minh Thế giới, Vũ Dương Ninh (chủ biên), Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 2007
12. Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1997
13. Luật tổ chức Quốc hội ( sửa đổi năm 2007 ), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2007
14. Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Báo cáo về tình hình
phát triển thế giới năm 1997 của Ngân hàng Thế giới, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, năm 1998
15. Phân cấp quản lý giữa chính quyền
Trung ương và chính quyền địa phương ở Philippine, ThS Nguyễn Thị Minh
Hà, Tạp chí Tổ chức nhà nước số 4/2002
16. Phân quyền và tản
quyền trong tổ chức và quản lý hành chính ở Pháp, Trần Đại Thắng, Tạp
chí Nhà nước và Pháp luật, số 2/1996
17. Tư tưởng phân chia
quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước, TS
Nguyễn Thị Hồi, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2005
18. Tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, quản
lý xã hội bằng pháp luật, trích "Báo cáo chính trị của BCH Trung ương
Đảng khoá VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng", Tạp
chí Nhà nước và Pháp luật, số 4/1996
19. Thuyết " Tam quyền
phân lập " và bộ máy nhà nước tư sản hiện đại, Viện khoa học xã hội Việt
Nam, Viện thông tin khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1992
20. Từ điển Hành chính, Tô Tử Hạ ( chủ biên ), Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, năm 2003
21. Từ điển Luật học, Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Nxb Từ điển bách khoa, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2006
22. Từ điển Triết học, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, năm 1986
23. Văn kiên đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng Cộng sản Việt Nam Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2001
24. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng Cộng sản Việt Nam Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2006
25. Việt Nam thực hiện cam kết, Báo cáo của Ngân hàng Thế giới - Ngân
hàng phát triển Châu Á tại Hội nghị nhóm Tư vấn các nhà tài trợ cho Việt
Nam, năm 2002
26. Về " phân cấp, phân quyền - cải cách hành
chính và tự quản " tại Cộng hoà Liên bang Đức, Đặng Quốc Tiến, Tạp chí
Tổ chức Nhà nước, số 8/2004
27. Về cương lĩnh đổi mới và phát triển, Viện Mác - Lênin, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, năm 1991
28. Xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng, LS Nguyễn Văn Thảo, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2006
29. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, GS-TS Đào Trí úc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2006
Tiếng Anh
1. Declaration of the Rights of Man and of the Citizen, Approved by the
National Assembly of France, 1789, translate by Marquis de Lafayette
and Thomas Jefferson
2. Polictics, Aristote, 350BC, Translated by Benjamin Jowett
3. Two treatises of Gorvernment, John Locke, Reprinted, The sixth time, by A. Millar and H. Woodfall
4. Federal Constitution of The Swiss Confederation, Adopted in the
votation of April 18, 1999, certified as accurate by decision of the
Federal Government of August 11, 1999 and based on the Federal Decree of
December 18, 1998.


10:13 PM
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 comments:
Post a Comment