Học thuyết phân chia quyền lực nhà nước
Bùi Ngọc Sơn - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội 1. Đặt vấn đề
Việt Nam không áp dụng học thuyết phân chia quyền lực (phân quyền, tam
quyền phân lập) trong tổ chức quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước ở
Việt Nam được thiết kế theo nguyên tắc thống nhất quyền lực, mà ta
thường gọi là tập quyền xã hội chủ nghĩa: Quyền lực nhà nước là thống
nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhiều nhà khoa học đã
có những lập luận sâu sắc về những cơ sở khoa học cho việc không áp dụng
học thuyết phân quyền trong tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Xin
góp bàn về vấn đề này ở khía cạnh phương thức tư duy của học thuyết phân
quyền. 2. Tổng quan về nội dung học thuyết phân chia quyền lực
Cội nguồn của tư tưởng phân quyền đã có từ thời cổ đại ở Phương Tây. Tư
tưởng phân quyền trong xã hội Hy-lạp cổ đại đã có mầm mống từ
Aristotle. Ông đã quan niệm rằng trong bất kỳ nhà nước nào cũng cần phải
có những yếu tố bắt buộc: cơ quan làm ra luật có trách nhiệm trông coi
việc nước, các cơ quan thực thi pháp luật và các toà án [12, tr.7]. Tuy
nhiên, tư tưởng của Aristotle mới chỉ dừng ở việc phân biệt các lĩnh vực
hoạt động của nhà nước. Những tư tưởng phân quyền sơ khai
trong thời cổ đại được phát triển thành học thuyết ở Tây Âu vào thế kỷ
17-18, gắn liền với hai nhà tư tưởng lớn là J. Locke và Montesquieu.
J. Locke (1614-1657), một nhà triết học Anh, là người đã khởi thảo học
thuyết phân quyền. Ông chia quyền lực nhà nước thành các quyền: lập
pháp, hành pháp, và liên minh. Theo đó, quyền lập pháp là quyền lực cao
nhất trong nhà nước; quyền lập pháp phải thuộc về nghị viện; nghị viện
phải họp định kỳ để thông qua các đạo luật, nhưng không thể can thiệp
vào việc thực hiện chúng. Quyền hành pháp phải thuộc về nhà vua. Nhà vua
lãnh đạo việc thi hành pháp luật, bổ nhiệm các bộ trưởng, chánh án và
các quan chức khác. Hoạt động của nhà vua phụ thuộc vào pháp luật và vua
không có đặc quyền nhất định nào đối với nghị viện để nhằm không cho
phép nhà vua thâu tóm toàn bộ quyền lực về tay mình và xâm phạm các
quyền tự nhiên của công dân. Nhà vua cũng thực hiện quyền liên minh, tức
là giải quyết các vấn đề chiến tranh, hoà bình, và đối ngoại [9,
tr268]. Những luận điểm phân quyền của J. Locke được nhà khai
sáng người Pháp là Montesquieu (1689-1775) phát triển. Montesquieu đã
phát triển một cách toàn diện học thuyết phân quyền, và sau này khi nói
đến thuyết phân quyền người ta nghĩ ngay đến tên tuổi của ông.
Montesquieu kịch liệt lên án chế độ quân chủ chuyên chế ở Pháp lúc bấy
giờ. Chế độ quân chủ chuyến chế là tổ chức quyền lực phi lý. Chuyên chế
là hình thức cầm quyền của một người phủ nhận pháp luật. Và nhà nước phụ
thuộc vào sự lộng quyền của người cầm quyền. Chế độ chuyên chế sở dĩ
tồi tệ, phi lý là vì: nhà nước tồn tại vốn biểu hiện của ý chí chung,
nhưng trong chế độ chuyên chế nó lại biểu hiện ý chí đặc thù; chế độ
chuyên chế với bản chất vô pháp luật và ý chí tuỳ tiện của nó lại trái
với bản chất pháp luật và nhu cầu pháp luật. Montesquieu nhận thấy pháp
luật gồm nhiều lĩnh vực, phân ngành rõ rệt, cho nên tập trung vào một
người duy nhất là trái với bản chất của nó. Gắn với bản chất của chế độ
chuyên chế là tình trạng lạm quyền. Vì vậy việc thanh toán hiện tượng
lạm quyền chỉ có thể là đồng thời, là sự thanh toán chế độ chuyên chế.
Theo Montesquieu một khi quyền lực được tập trung vào một mối, kể cả một
người hay một tổ chức, thì nguy cơ chuyên chế vẫn còn. Từ đó,
Montesquieu cho rằng, tổ chức quyền lực nhà nước theo phương thức phân
chia quyền lực nhà nước là để chống lại chế độ chuyên chế, thanh toán
nạn lạm quyền, bảo đảm quyền tự do của con người. Montesquieu viết: "Khi
mà quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tay một người hay
một Viện Nguyên lão thì không còn tự do nữa; vì nguời ta sợ rằng chính
ông ta hay viện ấy sẽ đặt ra những luật độc tài để thi hành một cách độc
tài. Cũng không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền
lập pháp và quyền hành pháp. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập
pháp, thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công
dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với
quyền hành pháp, thì ông quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp”[14,
tr.101]. Học thuyết phân chia quyền lực của Montesquieu không
phải là một sự suy luận pháp lý diễn dịch mà là từ sự quan sát nước Anh
lúc bấy giờ. Sự mô tả Hiến pháp Anh chính là nguồn cảm hứng cho suy luận
của Montesquieu về phân quyền [2, tr.220]. Montesquieu cho
rằng quyền lực tối thượng phải được phân chia thành ba hình thái quyền
lực cơ bản là: lập pháp, hành pháp, và tư pháp. Không có khái niệm quyền
lực chính trị tối thượng. Ba quyền này phải phân và lập, nghĩa là chia
tách ra khỏi nhau và độc lập với nhau, không quyền nào hơn quyền nào. Ba
quyền đó được giao cho những cơ quan khác nhau, độc lập với nhau có
phương thức hình thành riêng, cách thức hoạt động, lĩnh vực hoạt động
riêng. Tương ứng với ba quyền đó là ba cơ quan: cơ quan lập pháp là quốc
hội, cơ quan hành pháp là chính phủ, cơ quan tư pháp là toà án.
Thuyết phân quyền quan niệm rằng, mỗi cơ quan đại diện quốc gia thi
hành một nhiệm vụ, một quyền hạn và chỉ có nhiệm vụ quyền hạn ấy mà
thôi. Cơ quan lập pháp chỉ có quyền lập pháp, chỉ có nhiệm vụ làm luật.
Cơ quan hành pháp chỉ có quyền hành pháp, nghĩa là nhiệm vụ thi hành
luật lệ. Cơ quan tư pháp chỉ có quyền tài phán, nhiệm vụ xét xử để áp
dụng pháp luật. Phân chia quyền hạn thôi chưa đủ, mà phải có sự
độc lập giữa các cơ quan. Nghĩa là các cơ quan không có hành động hỗ
trợ nào. Quốc hội không có quyền gì đối với chính phủ như chất vấn, tín
nhiệm hay bất tín nhiệm các thành viên của chính phủ...Ngược lại chính
phủ không được tham gia thảo luận, không có quyền ấn định các kỳ họp,
hoặc giải tán quốc hội. Trái lại có sự cô lập hoàn toàn giữa các cơ quan
có thẩm quyền trong lĩnh vực chuyên môn của mình [1, tr.120].
Một khi tam quyền đã được phân lập rồi thì vấn đề tiếp theo là làm sao
để ba quyền đó kiểm soát lẫn nhau. Để tránh tập trung quyền lực vào tay
một hay một nhóm người thì cần phải có một cơ chế kiểm soát quyền lực,
mà khả thi nhất là dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực [14,tr.244].
Như vậy người ta sẽ tránh được rủi ro là: một quyền lực mạnh quá sẽ có
tham vọng trở nên độc đoán vì rằng kinh nghiệm vĩnh viễn cho thấy: ai có
quyền cũng sẵn sàng lạm quyền. Do đó thuyết phân quyền của Montesquieu
đặt vấn đề: "Phải làm thế nào cho cái việc quyền hành ngăn chặn quyền
hành trở nên một sự dĩ nhiên"[3, tr.220]. Thuyết phân quyền của
Montesquieu có ảnh hưởng sâu sắc đến những quan niệm sau này về tổ chức
nhà nước cũng như thực tiễn tổ chức nhà nước của các nước tư bản. Đa số
Hiến pháp của các nước tư bản hiện nay đều khẳng định nguyên tắc phân
quyền như một nguyên tắc cơ bản cuả việc tổ chức quyền lực nhà nước.
Nguyên tắc này có thể được khẳng định trực tiếp bằng các quy phạm của
Hiến pháp. Điều 10 Hiến pháp Liên bang Nga quy định: “Quyền lực nhà nước
ở liên bang Nga được thực hiện dựa trên cơ sở của sự phân quyền thành
các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp. Các cơ quan của các quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp phải độc lập” Điều 1 của Hiến pháp Ba Lan cũng
trực tiếp khẳng định viềc tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc phân
chia quyền lực thành ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Theo Điều 7
của Hiến pháp Hy Lạp, quyền lực nhà nước của cộng hoà Hy Lạp dựa trên
những nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước thành những nhánh lập
pháp, hành pháp, và tư pháp... Có những Hiến pháp không quy
định một cách trực tiếp, mà gián tiếp thể hiện nguyên tắc phân quyền
thông qua các quy định của Hiến pháp về tổ chức bộ máy nhà nước. Nhà
nước Mỹ áp dụng nguyên tắc phân quyền cứng rắn trong tổ chức bộ máy nhà
nước, nhưng trong Hiến pháp lại không có riêng một điều nào
trực tiếp khẳng định nguyên tắc này. Tuy nhiên nguyên tắc phân quyền đã
thể hiện rõ trong các Điều 1 quy định về quyền lập pháp của Quốc hội,
Điều 2 về quyền hành pháp của Tổng thống, Điều 3 về quyền tư pháp của
Toà án. Quyền lực nhà nước là không thể chia sẻ, vì luôn thuộc
về một hoặc liên minh giai cấp nhất định, phân quyền không có nghĩa là
chia sẻ quyền lực mà chỉ là sự tách biệt, độc lập hoá các mặt hoạt động
của nhà nước; quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp là những
quyền hạn (chứ không phải quyền lực) được giao cho những cơ quan được tổ
chức độc lập với nhau thực hiện. Phân quyền đúng là một hình
thái tổ chức quyền lực có hiệu quả chống nạn lạm quyền. Với chế độ tam
quyền phân lập, sinh hoạt chính trị đã bắt đầu mang tính chất công nghệ
và nó xứng đáng là hình thức hiện đại của nền dân chủ tư sản. Đồng thời
nó cũng là phương thức hữu hiệu nhất để giai cấp tư sản luôn nắm được
quyền lực nhà nước. Bằng thiết chế của nó, các đại biểu của giai cấp tư
sản lần lượt thay nhau nắm giữ ba hình thái của quyền lực. 3. Tư duy cơ giới thế kỷ 17-18- thời kỳ ra đời của học thuyết phân chia quyền lực
Học thuyết phân quyền dù nói gì đi nữa cũng không thể phủ nhận, đó là
học thuyết sinh ra ở phương Tây thế kỷ 17-18. Tư duy của phương Tây
trong thời kỳ này phát triển theo phương thức nào? Phương thức tư duy đó
có ảnh hưởng gì đến cách tư duy của những cha đẻ của học thuyết phân
quyền ? Aristotle, người đã có những ý tưởng phôi thai về phân
quyền, là một nhà triết học có cống hiến to lớn đối với lôgich học hình
thức. Aristotle đã phát triển một hệ thống hình thức của lôgích làm cơ
sở cho các phương pháp suy luận và chứng minh, đồng thời nêu ra một số
nguyên lý có thể áp dụng rộng rãi cho nhiều ngành từ sinh học, vũ trụ
học, khi tượng thiên văn, và cả thần học, tin rằng quan sát và kinh
nghiệm, rồi dùng quy nạp và suy luận lôgích có thể có thể thu được tri
thức để hiểu bản chất sự vật. Hệ thống lôgich của Aristotle đến nay vẫn
là nền tảng chủ yếu của các suy luận khoa học hiện đại. Đến
cuối thế kỷ 16 sang đầu thế kỷ 17, các tư tưởng khoa học và các phương
pháp khoa học nói trên được kế thừa và phát triển. Khởi đầu là sự khẳng
định của Galilé về tính đúng đắn của Copernicus “quả đất quay xung quanh
mặt trời", một sự khẳng định không chỉ có tính chất lý thuyết mà bằng
quan sát thực nghiệm với việc sử dụng kính viễn vọng đầu tiên do ông xây
dựng từ năm 1609. Đồng thời Galilé cũng đã đề xuất một lý thuyết cơ học
mới để nghiên cứu chuyển động, với ý tưởng cơ bản xem xem nguyên nhân
chuyển động là do các lực tác động. Khung lý thuyết của Galilé
được Newton lấp đầy bằng các phát minh vĩ đại của mình. Từ đây con người
mới phát hiện ra khả năng có thể hiểu sự vận động của tự nhiên và vũ
trụ bằng các phương pháp khoa học. Một tư duy mới, tư duy cơ giới, về
nhận thức tự nhiên bắt đầu hình thành và phát triển nhanh chóng. Đại
diện có ảnh hưởng nhất của tư duy cơ giới là Descartes. Chủ nghĩa cơ
giới Descartes tách rời vật chất ra khỏi tinh thần, trí tuệ, xem tự
nhiên như một bộ máy mà trí tuệ có thể hiểu được. Bộ máy (mà lúc bấy giờ
là chiếc đồng hồ) trở thành ẩn dụ chủ yếu cho mọi liên tưởng trong nhận
thức về tự nhiên, và về sau cho cả những đối tượng khác của nhận thức
như các cơ thể sống và các hệ thống kinh tế, xã hội [4, tr.87].
Tư duy cơ giới phát triển mạnh mẽ và vẫn đang ảnh hưởng lớn đến nhân
loại hiện nay. Tư duy cơ giới không chỉ giới hạn trong các khoa học tự
nhiên, mà cả trong các khoa học xã hội và nhân văn. Một đối tượng được
nhìn như một bộ máy vận hành theo những nguyên tắc cơ giới: bộ máy hô
hấp, bộ máy toần hoàn, bộ máy hành chính, bộ máy nhà nước...Một cách
tiếp cận như vậy giúp cho con người nhận thức được sâu sắc về cấu trúc
của các thành phần cơ bản thuộc những đối tượng khác nhau. Tư duy cơ
giới có ảnh hưởng mạnh đến cách mạng khoa học dẫn đến những phát minh kỹ
thuật và công nghệ, đưa nhân loại bước từ nền văn minh nông nghiệp sang
nền văn minh công nghiệp. Tư duy cơ giới mặc dù có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của nhân loại nhưng cũng đã bộc lộ những hạn chế, mà từ đầu thế kỷ 20 người Phương Tây đã nhận thức được và có xu hướng khắc phục bằng tư duy hệ thống.
Tư duy cơ giới nhìn nhận tổng thể chỉ là sự cộng lại đơn thuần của các
bộ phận. Theo nhà tư tưởng Việt Nam hiện đại Cao Xuân Huy thì tư duy cơ
giới theo phương thức chủ biệt của tư tưởng xuất phát từ bộ phận đi đến
toàn thể, trên nguyên lý: bộ phận quyết định toàn thể, toàn thể là do
các bộ phận ghép lại mà thành, toàn thể chỉ là tổng số của các bộ phận
[7, tr.84]. Morin, một nhà tư tưởng đương đại nổi tiếng người
Pháp, người phát triển cái mà ông gọi là tư duy phức hợp đã kịch liệt
phê phán tư duy cơ giới. Theo Morin, tri thức của loài người do sự chi
phối của tư duy cơ giới, mà ngày nay vẫn đang ngự trị, ngày càng phát
triển theo hướng chuyên biệt hoá. Tư duy cơ giới mà Morin gọi là "tư duy
manh mún, vụn mảnh" (fragmented thinking) là "một thứ tư duy định hướng
vào việc phân cách thành những từng ô, chia nhỏ ra và cô lập" [15,
tr.359]. Sẽ là không thích hợp khi mở rộng tư duy cơ giới tới lĩnh vực
của xã hội và của con người. Không thể nhìn xã hội với một nhãn quan tất
định cơ giới, định lượng, và tuyến tính. 4. Ảnh hưởng của tư duy cơ giới đến học thuyết phân chia quyền lực
Những nhà tư tưởng của học thuyết tam quyền phân lập đã chịu ảnh hưởng
của tư duy cơ giới. Logich hình thức của Aristotle, người đã có những ý
tưởng ban đầu về phân quyền, là những cơ sở của tư duy cơ giới. "Lôgich
hình thức cũ, cũng giống y như cái trò chơi trẻ con là xếp những mẩu vụn
thành những bức tranh"[18,tr.105]. Aristotle hình thành nên những ý
tưởng ban đầu về phân quyền dựa trên cách tư duy của lôgích học hình
thức trên cơ sở quan sát tổ chức nhà nước Aten. Thời đại của J.
Locke và Montesquieu là thời đại phát triển mạnh mẽ của tư duy cơ giới.
Những nhà tư tưởng phương Tây này không thể thoát khỏi ảnh hưởng của tư
duy cơ giới trong học thuyết phân quyền của mình. J. Locke phản đối
nguyên lý duy tâm "tôi tư duy, vậy tôi tồn tại" của Descartes, nhưng J.
Locke cũng đã duy tâm khi quá đề cao vai trò của tư duy lý tính, trí tuệ
con người tới mức cực đoan, phủ nhận vai trò của các khả năng cảm tính
trong quá trình nhận thức. Thực chất quan niệm trên đây xuất phát từ
việc sùng bái vai trò của các ngành khoa học tự nhiên lý thuyết đang
phát triển mạnh thời kỳ này [11,tr.289]. Việc đề cao lý thuyết khoa học
tự nhiên theo khuynh hướng duy lý của J. Locke đã cho thấy ông không thể
tránh khỏi ảnh hưởng của tư duy cơ giới- phương thức tư duy phổ biến,
thống trị khoa học tự nhiên thời kỳ bấy giờ. Yêu cầu phân quyền của
Locke là yêu cầu có tính chất "tất yếu kỹ thuật" của những thể chế chính
trị tự do [13, tr.356]. Montesquieu cũng chịu ảnh hưởng của tư duy cơ
giới khi ông muốn giải thích hiện tượng xã hội một cách tự nhiên, khẳng
định các hiện tượng xã hội và tự nhiên có sự thống nhất với nhau và đều
tuân theo các quy luật nhất định. Qua đề cao sự thống nhất giữa tự nhiên
và xã hội, Montesquieu chưa đánh giá đúng mức đặc thù riêng của các quy
luật xã hội [11, tr.352]. Thuyết phân quyền của ông là một minh chứng
cho luận điểm này. Học thuyết phân quyền được xây dựng trên
phương thức tư duy cơ giới: quan niệm đối tượng- quyền lực nhà nước, như
một "bộ máy", quyền lập pháp, quyền hành pháp, và quyền tư pháp là các
bộ phận cấu thành của quyền lực nhà nước. Người ta đề xuất rằng tam
quyền phải phân lập là vì quan niệm bộ phận quyết định tổng thể, tổng
thể là do các bộ phận ghép lại. Do ảnh hưởng của cách tư duy cơ
giới, nên các lý thuyết gia của học thuyết phân quyền không nhận thấy
tính chất chỉnh thể, thống nhất, hữu cơ của quyền lực nhà nước, nhìn
nhận các hình thái của quyền lực nhà nước trong một thế cô lập, tuyến
tính, nên đã yêu cầu các quyền phải tách biệt với nhau và chế ước, kiểm
soát lẫn nhau. Thực chất của thuyết phân quyền là quan niệm quyền lập
pháp + quyền hành pháp + quyền tư pháp = quyền lực nhà nước; coi các
quyền này- các bộ phận xác định vị trí của nó do thuộc tính nội tại của
nó, chứ không thấy rằng vị trí của một nhánh quyền lực không phải được
xác định ở thuộc tính nội tại của nó/bộ phận mà là ở quan hệ của nó/bộ
phận với các nhánh quyền lực khác/ bộ phận khác và với toàn thể quyền
lực nhà nước/ toàn thể. Lập pháp sở dĩ là lập pháp là vì nó nằm trong
mối quan hệ với hành pháp, và tư pháp. Hành pháp, và tư pháp xác định vị
trí của mình cũng như vậy. Chính vì diễn ra theo một cách tư
duy cơ giới nên học thuyết phân quyền đã không phản ánh được bản chất
của quyền lực nhà nước và cũng do đó mà không được thực hiện như mong
muốn của những người sáng lập ra nó trong thực tiễn (Thực tiễn là tiêu
chuẩn của chân lý). Bản thân quyền lực nhà nước là một chỉnh thể, bao
gồm các bộ phận cấu thành quan hệ hữu cơ với nhau, và với toàn bộ quyền
lực nhà nước, nên không thể phân tách độc lập các quyền, và yêu cầu các
quyền chế ước, kiểm soát lẫn nhau. Quyền lực nhà nước dù có được tổ chức
theo tam quyền phân lập nhưng thực chất là thống nhất chứ không phải là
cơ giới nên luôn có xu hướng tập trung vào tay giai cấp tư sản. Về mặt
tổ chức- pháp lý người ta cố gắng phân quyền nhưng trong thực tiễn thì
do quyền lực nhà nước là chỉnh thể thống nhất, và các quyền không thể
tách rời nhau, đan xen vào nhau, quan hệ hữu cơ với nhau nên những cố
gắng phân quyền trong các hiến pháp tư sản đã bị phá sản. Điển
hình nhất là ở Mỹ, nơi được coi là thể nghiệm thành công nhất của học
thuyết phân quyền, chính thể Mỹ áp dụng nguyên tắc này một cách cứng
rắn, nhưng, trong thực tiễn chính trị ở Mỹ cho thấy phân quyền chỉ có
trong bản văn Hiến pháp. Dù Hiến pháp có phân quyền thế nào chăng nữa,
thì lập pháp và hành pháp vẫn "cặp kè" với nhau để thực hiện quyền lực
nhà nước một cách rất ngoạn mục. Nếu Tổng thống- người đứng đầu
hành pháp thường là thủ lĩnh của đảng chiếm đa số trong Hạ nghị viện,
lập pháp và hành pháp đều trong tay một đảng thì sự phân quyền trên thực
tế đã bị biến dạng. Với uy tín là thủ lĩnh của đảng chiếm đa số ghế
trong hạ nghị viện, Tổng thống có thể hướng Quốc hội về những chính sách
theo ý chí của mình. Thực tế ở Mỹ không hiếm những trường hợp
tổng thống và đa số nghị viên ở hai đảng khác nhau [5, tr.89]. Ngay cả
trong trường hợp này thì lập pháp và hành pháp vẫn quan hệ hữu cơ với
nhau. Tổng thống vẫn có những hình thức để can thiệp vào hoạt động lập
pháp của nghị viện. Mặc dù không được Hiến pháp quy định sang quyền pháp
luật, nhưng Tổng thống Mỹ can thiệp rất sâu vào quy trình lập pháp của
Quốc hội: thứ nhất, bằng quyền đọc thông điệp trước Quốc hội, Tổng thống
vạch ra chương trình hoạt động hàng năm của Quốc hội; thứ hai, thông
qua các cuộc trao đổi thường xuyên với các đảng viên nghị sĩ thuộc đảng
của mình mà Tổng thống yêu cầu họ trình dự án luật theo ý chí của Tổng
thống trước Quốc hội [6, tr.236]. Với cơ chế "kìm hãm và đối
trọng" phát triển từ học thuyết phân quyền, thực tiễn chính trị Mỹ không
thể tránh khỏi sự mâu thuẫn giữa lập pháp và hành pháp. Nhưng do lập
pháp và hành pháp dù gì cũng thống nhất ở khuynh hướng phát triển chung
của quyền lực nhà nước là phục vụ trước tiên lợi ích của giai cấp tư sản
cầm quyền, nên những mâu thuẫn đó rồi cũng được dàn xếp để lập pháp và
hành pháp lại bắt tay với nhau mà thực thi quyền lực. Dù có
những mâu thuẫn không thể tránh khỏi nhưng Quốc hội và Tổng thống ngày
nào cũng vậy, vẫn phải ngồi vào bàn để làm công việc với nhau. Kể cả khi
quan hệ của họ mang tính thù địch hay hoà hoãn, thì các dự luật vẫn
được thông qua và được Tổng thống ký để có thể trở thành luật, các quan
chức do Tổng thống bổ nhiệm vẫn đuợc nghị viện phê chuẩn. Ngân sách rốt
cục vẫn được chuẩn chi và bộ máy chính phủ vẫn cứ hoạt động. Sự hợp tác
thiết yếu này diễn ra ngay cả khi Nhà Trắng và Đồi Capitol bị chia rẽ
giữa hai đảng lớn. Các Tổng thống đôi khi vẫn được gọi là "Chủ
tịch Quốc hội", do sự quan tâm sát sao đến những quyết định của Quốc
hội. Ngay sau khi đọc thông điệp về tình hình liên bang, Tổng thống sẽ
gửi đến cho Quốc hội "các dự thảo hành chính" của ông. Bằng việc mở rộng
các danh mục mà Tổng thống yêu cầu- ví dụ như một ngân sách hàng năm và
các báo cáo về tình hình kinh tế, để Quốc hội phải quan tâm hơn nữa đến
những gì ông đề cập. Hơn nữa, quyền phủ quyết mà Hiến pháp trao cho
Tổng thống đảm bảo rằng các quan điểm của Nhà Trắng phải được lắng nghe,
nếu không muốn nói là luôn được chú ý lắng nghe trên Đồi Capitol. Khái
niệm về một Tổng thống có quyền lập pháp đã được phổ biến kể từ sau
chiến tranh thế giới thứ hai. Vai trò này được thể hiện không phải chỉ
là sự kỳ vọng của riêng cá nhân Tổng thống mà của mọi người, trong đó có
Quốc hội, báo chí, công chúng.[16, tr.455] Quyền lập pháp được
Hiến pháp trao cho Quốc hội. Những năm trước 1900, đa số luật thông qua
mỗi năm đều do Quốc hội đưa ra; các Thượng, Hạ nghị sĩ dự thảo và thông
qua luật. Nhưng sang thế kỷ 20, vai trò này đã đổi chỗ. Thay đổi lớn
nhất là vào thời kỳ Chính Sách Mới khi Tổng thống kiểm soát chặt chẽ
việc làm luật. Từ đó, như nhà chính trị học James Robinson nhận định:
Quốc hội hầu như nhượng mọi quyền chủ động cho ngành hành pháp"(1) Trong
hai thập niên vừa qua, gần 80% luật được thông qua đều xuất phát từ
ngành hành pháp. [17, tr.137] Ngay cả tư pháp ở Mỹ được đánh
giá là có mức độ độc lập rất cao nhưng thực chất vẫn can thiệp vào lập
pháp, hành pháp đồng thời cũng chịu ảnh hưởng từ phía các cánh quyền lực
đó. Hiến pháp Mỹ không hề quy định cho Toà án có quyền kiểm tra tính
hợp hiến các đạo luật của Quốc hội. Nhưng Toà án Tối cao Mỹ đã ảnh hưởng
đến Quốc hội bằng quyền bảo hiến tự nhân với một lối suy luận xuất hiện
lần đầu tiên trong vụ Marbury chống Madison: “Trong một vụ tranh chấp
mà Toà án phải xem xét, nếu một bên đương sự đưa ra sự bất hợp hiến của
đạo luật mà người ta muốn đem thi hành đối với y, thì Toà án phải kiểm
tra xem sự bất hợp hiến đó thật hay không, và nếu có thật, Toà án phải
từ chối áp dụng đạo luật bất hợp hiến”[3, tr.80]. Toà án tối
cao Mỹ sau khi tự nhận cho mình vai trò bảo hiến trong vụ Marbury chống
Madison, đã không những tuyên bố vi hiến những điều khoản của đạo luật
trực tiếp vi phạm Hiến pháp, mà cả những điều khoản trái với “tinh thần”
Hiến pháp. Việc xác định một điều khoản của luật trái với tinh thần
Hiến pháp đôi khi mang tính chủ quan của các thẩm phán. “Những cái gì mà
thẩm phán Mỹ tưởng là được thấy ở chính văn, hay ở tinh thần Hiến pháp,
thực ra chỉ là những cái nằm trong đầu óc, trong thành kiến hay thâm
tâm họ”[3, tr.85]. Với quyền bảo hiến, Tối cao pháp viện Mỹ đã giải
thích Hiến pháp theo ý chí của riêng mình, dần dần lấn át quyền lực của
Quốc hội và Chính phủ. Hệ quả là, Toà án tối cao Mỹ, một cơ quan tư pháp
với chức năng truyền thống là xét xử những vi phạm pháp luật, đã trở
thành “Chính phủ của ông Toà.” Bàn về tình trạng "Chính phủ của
ông toà", GS. Vedel viết: “Chính phủ của ông Toà, ở Mỹ, có nghĩa là
quyền hành tối thượng ở xứ đó, không thuộc về Tổng thống do dân cử, mà
thuộc về chín ông Toà vô trách nhiệm, với một quyền hành mà căn bản chỉ
là một sắc lệnh bổ nhiệm họ làm một thứ thẩm phán cao cấp. Hơn nữa, có
phải cả chín ông Toà đều có một quan điểm duy nhất đâu? Kinh nghiệm
chứng minh rằng phần lớn những bản án bị chỉ trích nhất, chỉ thâu đắc
được một đa số là 5 phiếu chống lại 4. Sự thật là 5 người, 5 ông già,
đứng sau bình phong của một chức vụ công cử với nhiệm kì chung thân, dù
cố nắm trong tay các quyền ngăn chặn sự tiến triển của pháp luật Mỹ,
trên bình diện tiểu bang” [3,tr.87]. Tình trạng “Chính phủ của ông Toà” ở
Mỹ tồn tại trong khoảng thời gian từ năm 1880 đến năm 1940 cho thấy sự
can thiệp của tư pháp vào lĩnh vực lập pháp và hành pháp. Đối
với các chính thể đại nghị, ngay từ Hiến pháp chứ chưa nói đến thực tiễn
chính trị, đã cho thấy sự áp dụng thuyết phân quyền rất tương đối, mềm
dẻo. Mặc dù có sự phân chia quyền lực giữa lập pháp và hành pháp nhưng
giữa chúng vẫn có sự phối kết hợp với nhau: Chính phủ phải chịu trách
nhiệm trước Nghị viện, Chính phủ được thành lập trên cơ sở Nghị viện,
Chính phủ được trình dự án luật trước Nghị viện...Trong tất cả các dấu
hiệu kể trên thì chế định Chính phủ, hành pháp phải chịu trách nhiệm
trước Quốc hội, lập pháp là quan trọng nhất. Chính chế định này tạo nên
cơ sở của chế độ đại nghị. Trong chính thể này, hành pháp, Chính phủ
phải luôn được sự tín nhiệm của lập pháp, Quốc hội. Trong trường hợp
ngược lại, không được sự tín nhiệm của Quốc hội, Chính phủ phải ra đi để
Quốc hội thành lập ra Chính phủ mới. Trong trường hợp không tìm được
Chính phủ thì Quốc hội phải giải tán. Đây là cách giải quyết mâu thuẫn
giữa Quốc hội và Chính phủ phải cần đến trọng tài là nhân dân [6,
tr.237]. 5. Việc không áp dụng học thuyết phân chia quyền lực,
nhưng có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp, và tư pháp ở Việt Nam Hạt
nhân hợp lý của học thuyết tam quyền phân lập là ở sự phân công rành
mạch trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực. Điều này có ý nghĩa đảm
bảo cho dân chủ và chống lạm quyền. Chế độ phân công quyền lực là tất
yếu trong một chế độ pháp quyền. Một trong những dấu hiệu đặc trưng của
nhà nước pháp quyền là phải có sự phân công quyền lực thành các quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây chính là đóng góp to lớn của những
cha đẻ của học thuyết phân quyền đối với lý luận về nhà nước pháp quyền.
Việt Nam chúng ta, một khi đã khẳng định trong Hiến pháp việc xây dựng
nhà nước pháp quyền thì không thể không hoàn thiện cơ chế phân công
quyền lực nhà nước. Tuy nhiên chúng ta chỉ lấy yếu tố hợp lý của học
thuyết phân quyền là sự phân công quyền lực chứ không áp dụng toàn bộ
nội dung của học thuyết này. Ta dùng những yếu tố hợp lý thì nó phải có
những yếu tố bất hợp lý. Với sự hiểu biết hạn hẹp của mình, chúng tôi
không thể bàn nhiều về một học thuyết có ảnh hưởng tầm cỡ thế giới mà
chỉ góp một tiếng nói nhỏ về cái yếu tố bất hợp lý của nó ở một khía
cạnh là phương thức tư duy của học thuyết này. Sự quan hệ, phụ
thuộc lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực cho thấy những hạn chế của cách
tư duy cơ giới trong học thuyết phân quyền. Quyền lực nhà nước không
phải là sự cộng lại đơn thuần của các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp, mà có thể yêu cầu chúng tách biệt, độc lập khỏi nhau. Không có một
cơ quan nào thuần tuý chỉ thực hiện một quyền, mà không tham gia vào
việc thực hiện các quyền khác. Không có một quyền nào chỉ được thực hiện
duy nhất bởi một cơ quan mà không có sự tham gia của các cơ quan khác.
Các cơ quan không thể độc lập hành xử quyền hạn của mình. Các cơ quan dù
được phân nhiệm thực hiện các quyền khác nhau nhưng trong quá trình
thực hiện quyền hạn của mình đều phải có sự phối hợp với các cơ quan
khác. Về thực chất thì quyền lực nhà nước là thống nhất, không thể tách
biệt độc lập các lĩnh vực hoạt động của quyền lực nhà nước. Cho nên
chúng ta không áp dụng thuyết phân quyền theo cách tách biệt các nhánh
quyền lực, mà chỉ có sự phân công, phân nhiệm giữa các cơ quan quyền lực
nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, và tư
pháp. Do quyền lực nhà nước là một chỉnh thể nên cũng cần xem
xét thêm về cơ chế "kìm hãm, đối trọng" giữa các nhánh quyền lực. Mặc dù
đôi lúc có thể có sự mâu thuẫn nhất định giữa các nhánh quyền lực nhưng
chúng luôn phải phối hợp với nhau vì mục tiêu thống nhất của quyền lực
nhà nước. Bản thân quyền lực luôn có xu hướng thống nhất nên sự kìm chế
đối trọng giữa các nhánh quyền lực có thể có tác dụng chống lạm quyền,
nhưng điều này đôi lúc cũng tạo ra sự mâu thuẫn chính trị, thậm chí nếu
người ta quá nhấn mạnh đến kìm chế, đối trọng có thể dẫn đến sự triệt
tiêu lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực (lật đổ chính phủ hay giải tán
quốc hội). Ngoài ra, sự phân quyền và kìm chế đối trọng giữa các nhánh
quyền lực ở một mức độ nhất định thiết nghĩ rằng có thể chỉ phù với với
xã hội đa lợi ích như xã hội tư sản. Dưới chế độ ta, lợi ích về cơ bản
là thống nhất vì lợi ích của giai cấp công nhân về cơ bản thống nhất với
lợi ích của toàn dân tộc. Tính thống nhất về lợi ích của nhân dân là cơ
sở cho tính thống nhất của quyền lực.Vì vậy, quyền lực phải thống nhất
vào nhân dân. Cho nên chúng ta cũng không áp dụng thuyết phân quyền ở
yêu cầu kìm chế, đối trọng giữa các nhánh quyền lực, mà chỉ có giám sát
việc thực thi quyền lực nhà nước, nhất là chúng ta nhấn mạnh đến sự giám
sát của Quốc hội- cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đối với toàn bộ
hoạt động của nhà nước để đảm bảo sự thống nhất của quyền lực nhà nước.
Hơn nữa, theo quan điểm của chúng tôi, tư duy cơ giới của học thuyết
phân quyền không phù hợp với tâm lý dân tộc Việt Nam. Việt Nam có cả một
truyền thống "hoà". Hoà là bản sắc văn hoá, là đặc thù của tâm lý dân
tộc. Trong tam tài (thiên thời, địa lợi, nhân hoà), người Việt Nam hướng
về tài nhân hoà. Người Việt Nam trong truyền thống thường giải quyết
xung đột theo lối "hoà cả làng". Có việc gì cũng chủ trương "đóng cửa
bảo nhau"; "chín bỏ làm mười". Về mặt chính trị trong truyền thống, Tập
quyền và thống nhất là khuynh hướng chung của các nhà nước phong kiến
Việt Nam [8, tr.43]. Quyền lực nhà nước có xu hướng tồn tại trong một
thế "hoà", thống nhất. Nước ta có nhiều dân tộc khác nhau. Nhưng các dân
tộc về cơ bản không có sự chia rẽ, mà sinh sống hoà hợp, thống nhất với
nhau. Truyền thống "hòa" còn thể hiện cách tư duy luôn coi đối tượng
như một chỉnh thể mà các bộ phận của nó hoà hợp với nhau. Với một truyền
thống "hoà", thống nhất như thế, Việt Nam không thích hợp với tư duy cơ
giới của học tuyết phân quyền, nhìn nhận quyền lực trong sự cô lập,
tách biệt, chia rẽ, mâu thuẫn, chế ước lẫn nhau. Như vậy, ngoài nhiều lý
do khác nhau, một trong những lý do quan trọng khiến chúng ta không áp
dụng học thuyết phân quyền là tư duy cơ giới của thuyết phân quyền không
dung hợp được với tâm lý "hoà", cách tư duy "hoà" của dân tộc. Tóm lại, "dĩ hoà vi quý". -------------------------------------- TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Văn Bông, Luật hiến pháp và Chính trị học, Sài Gòn, 1967. 2. Lê Đình Chân, Luật hiến pháp, Sài gòn, 1966. 3. Lê Đình Chân, Luật Hiến pháp - Khuôn mẫu dân chủ, cuốn II, Sài Gòn, 1974. 4. Phan Đình Diệu, Tư duy hệ thống và đổi mới tư duy, In trong Một góc nhìn của trí thức, tập II, NXB Trẻ, 2002. 5. Nguyễn Đăng Dung, Luật Hiến pháp đối chiếu, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2001. 6. Nguyễn Đăng Dung, Một số vấn đề về Hiến Pháp và bộ máy nhà nước, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội, 2001. 7. Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Đông- gợi những điểm nhìn tham chiếu, NXB Văn học, 1995. 8. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, tập II, NXB Thế giới, Hà Nội, 1999.
9. Lưu Kiếm Thanh và Phạm Hồng Thái (dịch), Lịch sử các học thuyết
chính trị trên thế giới, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2001. 10. Nguyễn Đăng Thành, Chính trị của chủ nghĩa tư bản, hiện tại và tương lai, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. 11. Nguyễn Hữu Vui (chủ biên), Lịch sử triết học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. 12. Viện thông tin khoa học xã hội, Thuyết "Tam quyền phân lập" và bộ máy nhà nước tư sản hiện đại, Hà Nội, 1992. 13. Viện khoa học chính trị, Tập bài giảng chính trị học, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. 14. C.L.Montesquieu, Tinh thần pháp luật, NXB Giáo dục, Hà nội, 1996. 15. Edgar Morin, Trái đất- Tổ quốc chung Tuyên ngôn cho thiên niên kỷ mới, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002.
16. Roger H. Davidson, Walter J.Oleszek, Quốc hội và các thành viên
(Congress and its Members), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
17. Mark J. Green, James M. Fallows, David R. Zwick, Ai chỉ huy Quốc
hội ? (Sự thật về Quốc hội Mỹ), NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2001. 18. V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 29, NXB Tiến bộ Mát-xcơ va, 1981. SEPERATION OF POWER THEORY-THE WAY TO THINK OF STATE POWER Bui Ngoc Son - Faculty of Law, Vietnam National University, Hanoi
The author has an opinion that the seperation of power theory is
affected by mechanical thought which was popular in science in the17-18
century. With a method of mechanical thought, the theorist is theory
suggested that state power must be divided into three branches of power:
legislative, executive, judical powers which are separable,
independent, and are conferred to three different organs. Besides,
according to this theory, the branches of power must check and balance
each other. The political practice proves that share of power in
constitutions of capitalist states is formality. This expresses
weak-points of method of mechanical thought in theory of share. Infact,
state power is organic unitary body. Therefor, it is unable to divide
state power. these are the reasons why this theory is not applied in
Vietnam. Moreover, method of mechanical thought of Theory of Share is
unsuitable with Vietnamese traditional mentality. (1) Một đại
biểu của đảng Cộng hoà đã nói thẳng với đại diện của chính quyền
Kennedy: " Chúng tôi không thảo những luật ấy đâu. Đó là việc của các
anh. Các anh cứ làm đi rồi đưa cho chúng tôi."
0 comments:
Post a Comment