I. Vai trò của ngôn ngữ -II. Ngôn ngữ và sự chắc chắn -III. Ngôn ngữ và
nhận thức -IV. Tri thức và ngôn ngữ -V. Triết học có tính ngôn ngữ học I. Vai trò của ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hình thức phát biểu của con người bằng lời nói và chữ
viết. Ðối với các ý tưởng và các khái niệm triết học, ngôn ngữ là chiếc
xe chuyển tải chúng. Thế nên người ta thường có khuynh hướng cho rằng
ngôn ngữ tuy thiết yếu nhưng chỉ đóng vai trò thứ yếu do bởi nó truyền
đạt những gì đã biết sẵn. Thật sai lầm khi nghĩ như thế vì các chủ đề
triết học vốn phát sinh từ bên trong ngôn ngữ, và thông thường, chúng là
hậu quả của cách chúng ta sử dụng ngôn ngữ. Trong triết học,
có một câu hỏi căn bản là "Khi dùng chữ đó, tiếng đó, chúng ta muốn nói
lên điều gì hoặc có ngụ ý gì?" Người đặt câu hỏi như thế có ý muốn biết
nhiều hơn một định nghĩa, nghĩa là muốn vào sâu bên trong ngôn từ để tìm
cho ra mối tương quan giữa điều được chúng ta quan tâm và những gì còn
lại của ý tưởng và ngôn ngữ của người phát biểu. Do đó, ngôn ngữ được
chúng ta sử dụng tô màu lên cách thức chúng ta suy tư và trải nghiệm thế
giới. Ba vấn đề khảo sát Bởi vậy, người khôn ngoan
tinh tế luôn luôn nhận biết và ý thức vai trò của ngôn ngữ khi họ triết
học hóa một đề tài nhất định, nghĩa là khi họ nhìn khía cạnh triết lý
của đề tài, suy tưởng và lý thuyết hóa nó. Tuy thế, trong khi xem xét
ngôn ngữ, bạn cần khảo sát ba vấn đề hoàn toàn khác nhau: 1.
Triết học ngôn ngữ (philosopy of language): Xem xét ngôn ngữ là gì, nó
thao tác ra sao, làm thế nào một lời phát biểu có ý nghĩa, làm thế nào
để nói một cách sáng sủa hoặc làm thế nào xác minh nội dung của nó;
2. Triết học có tính ngôn ngữ học (linguistic philosophy): Cách thức
suy tưởng vấn đề bằng việc phân tích những lời phát biểu còn phải bàn
cãi; 3. Luận lý học (logic): Khảo sát cấu trúc của luận cứ hoặc kết luận, xem chúng có liền lạc với tiền đề hay không. II. Ngôn ngữ và sự chắc chắn
Trong vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ, điều quan trọng nhất là "xác minh".
Làm thế nào bạn có thể chứng minh rằng lời phát biểu của mình, hoặc của
ai đó là đúng. Thông thường, ta có hai cách: 1. Bạn có nói lên
nhiều chứng cớ tương ứng với mỗi từ ngữ bạn dùng không? Người duy nghiệm
chủ nghĩa hẳn khuyến khích bạn làm như thế. Người giảm thiểu chủ nghĩa
reductionism) hẳn chỉ nói rằng phát biểu của bạn vô nghĩa nếu bạn không
thể diễn tả nó thành ngôn từ. Cả hai cách ấy đều giả định rằng ngôn ngữ
có chức năng hình dung – "chụp hình" (picturing) – hoặc chỉ tới
(pointing). 2. Bạn có hướng sự chú ý tới tính luận lý nội tại
(internal logic) của điều bạn đang phát biểu không? Nếu như thế, chân lý
của nó không lệ thuộc vào chứng cớ. Nó có ý nói gì ?
Trong một chương trước, chúng ta đã phân biệt thế nào là lời phát biểu
phân tích (analytic statement) và thế nào là lời phát biểu tổng hợp
(synthetic statement). Nhưng ngôn ngữ vốn phức tạp: một câu vè, một lời
nói đùa, một mệnh lệnh, một lời khuyên đạo đức hoặc những tiếng âu yếm
thầm thì của đôi kẻ yêu nhau, đều có thể xua đuổi lẹ làng bất cứ lý
thuyết đơn giản nào về sự xác minh. Ðiều chúng ta cần làm là chuyển dịch
từ câu hỏi "Nó có đúng không đấy?" sang một chủ đề rộng hơn, đó là "Nếu
có, nó có ý nói gì?" Trong chương 2, khi khảo sát cuộc truy tầm sự
chắc chắn, chúng ta đã nhìn Descartes – kẻ bắt đầu từ bản thân như một
hữu thể tư duy – và nhìn lối tiếp cận mang tính duy nghiệm chủ nghĩa.
Chúng ta đã thấy cách Kant nhận diện sự đóng góp của tâm trí vào tiến
trình am hiểu của chúng ta về thế giới. Chúng ta cũng đã trở lại với
Plato và ghi nhận cách thức mà đối với ông, vẻ ngoài của thế giới chỉ là
màn trình diễn của những chiếc bóng và thực tại thì hiện hữu trong thế
giới của các "hình thái". Nếu không biết một cách chính xác thế giới
giống như cái gì, làm sao chúng ta có thể biết ngôn ngữ của chúng ta có
phản ánh chính xác nó hay không? Tiêu chuẩn khoa học và ngôn ngữ
Có lẽ khoa học tạo được ảnh hưởng lớn lao nhất trong quá trình hình
thành cuộc sống hiện đại. Khoa học đặt căn bản trên sự quan sát thế giới
và dùng dữ liệu kinh nghiệm mà nó thu thập được từ quan sát, để lập nên
giả thuyết. Với thành quả rõ rệt của khoa học, các triết gia dễ xiêu
lòng, thiên về khuynh hướng xem khoa học, trong phạm vi nào đó, là hệ
qui chiếu cho cách thức có thể sở đắc tri thức như một toàn bộ.
Vì khoa học đặt cơ sở trên quan sát nên mỗi lời tuyên bố của nó đều
được sự hậu thuẫn liến quan tới một loại dữ liệu nào đó. Không có dữ
liệu thì không có khoa học. Do đó, ngôn ngữ mà khoa học dùng được biện
minh trong tương quan với các khách thể ngoại tại (external objects). Nó
"chụp hình" chúng. Một lời phát biểu được xem là đúng khi nó tương ứng
với cái được quan sát, và là sai khi nó không tương ứng. Nhưng liệu có
thể đem tiêu chuẩn xét nghiệm ấy áp dụng cho toàn bộ ngôn ngữ không? Từ cái không thể nói nên lời
Là một triết gia người Áo nhưng Ludwig Wittgenstein (1889-1951) tiến
hành hầu hết công trình triết học của mình ở Anh, tại Ðại học Cambrigde.
Nghiên cứu dưới trướng của Bertrand Russell, ông có ấn tượng sâu sắc về
các công trình được Gottleb Frege (1848-1925), Alfred N. Whitehead và
Russell thực hiện trong toán học và luận lý học. Bản thân
Whitehead đã cùng với Russell viết cuốn Principia Mathemathica (Nguyên
lý toán học, 1910-1913), một tác phẩm quan trọng, với hoài bảo thiết lập
các cơ sở luận lý cho toán học. Cả hai nhà tư tưởng ấy lập luận rằng
luận lý học và toán học đều có tính khách quan chứ không chủ quan; nghĩa
là chúng mô tả các đặc điểm của thế giới ngoại tại chứ không trình bày
những cách thức hoạt động của tâm trí. Wittgenstein cho rằng ta
có thể xem như đã giải quyết xong các vấn đề triết lý một khi ngôn ngữ
được dùng để diễn tả chúng tương ứng với thế giới hiện tượng, cả về mặt
luận lý lẫn về mặt chứng cớ biện minh cho những gì được phát biểu.
Trong lời mở đầu cuốn Tractatus (Chuyên luận, 1921), tác phẩm gây ảnh
hưởng lớn lao của ông, Wittgenstein đồng hóa thế giới với những mệnh đề
đúng: "Thế giới là toàn thể những gì đúng như thế" (the world is all
that is the case). Nhưng ông cũng đành phải thừa nhận rằng, do đó, trong
thế giới ấy, có những cái nhất định ta không thể diễn tả thành ngôn từ.
Theo ông, một trong những cái đó là bản thân chủ thể: "Chủ thể không
thuộc về thế giới; đúng hơn, nó là một giới hạn của thế giới". Ông còn
thấy thêm một cái nữa, đó là "cảm giác bí nhiệm về thế giới như một toàn
bộ". Bất cứ cái gì mà ta không thể chứng minh rằng nó tương ứng với một
thực tại nào đó có thể quan sát được, thì nó là cái ta không thể phát
biểu đầy đủ ý nghĩa về nó. Trong việc diễn tả thế giới hiện
tượng, lối tiếp cận sớm sủa ấy của Wittgenstein vào ngôn ngữ đã cho thấy
tính chất công cụ chính xác nhưng rõ ràng là chật hẹp của ngôn ngữ. Tới thuyết thực chứng luận lý
Các ý tưởng của Wittgenstein được Câu lạc bộ Vienna tiếp nối. Họ gồm
một số triết gia tụ họp nhau tại thủ đô ấy của nước Áo trong hai thập
niên 1920 và 1930 trước khi phải bôn đào sang Anh Mỹ lánh nạn Ðức quốc
xã. Họ sử dụng lối tiếp cận, được đặt tên một cách tổng quát là thuyết
thực chứng luận lý (logical positivism). Ðại khái thuyết ấy cho rằng:
1. Các mệnh đề phân tích (analytic propositions) không nói cho chúng ta
biết chút gì về thế giới. Chúng đúng do bởi định nghĩa, và do đó, chúng
là những trùng phức hoặc lập thừa (tautologie), tức là lặp lại nhiều
lần một cách không cần thiết, hoặc nói bằng nhiều cách khác nhau về cũng
chỉ một cái nhưng không làm cho nó rõ nghĩa hơn hoặc nổi bật hơn. Các
mệnh đề loại này bao gồm những phát biểu trong luận lý học và toán học.
2. Các mệnh tổng hợp (synthetic propositions) thì lệ thuộc vào chứng
cớ. Vì thế, có thể không nhất thiết phải có các mệnh đề tổng hợp.
3. Siêu hình học quả thật, theo nghĩa đen, là "hoàn toàn vô nghĩa" vì
những phát biểu của chúng không phải là các vấn đề mang tính luận lý
học, và do đó, chúng đúng do bởi định nghĩa – chúng có tính tiên nghiệm
(a priori) – và ta cũng không thể chứng minh chúng bằng chứng cớ thực
nghiệm. Nguyên lý Xác minh Moritz Schlick (1882-1936),
triết gia trong Câu lạc bộ Vienna, lập luận rằng "ý nghĩa của lời phát
biểu là phương pháp xác minh nó" (the meaning of a statement is its
method of verification). Luận cứ này trở thành nổi tiếng với lối gọi là
Nguyên lý Xác minh (Verification Principle). Thuyết thực chứng luận
lý được sự cổ động nhiệt liệt của triết gia Anh Alfred J. Ayer. Trong
cuốn sách quan trọng của mình có nhan đề Language, Truth and Logic (Ngôn
ngữ, chân lý và luận lý học, 1936), ông đặt câu hỏi "Triết học có thể
làm gì?" Và ông trả lời rằng triết học không thể nói một cách chắc chắn
cho chúng ta biết về bản tính của thực tại, như thế, nói cách khác,
triết học không thể cung cấp cho chúng ta siêu hình học. Nếu muốn biết
về thực tại, chúng ta phải tự mình dựa trên bằng chứng của giác quan.
Triết học thật sự không thể cung cấp thông tin mới mẻ về bất cứ cái gì
nhưng nó có một công tác quan trọng và phải làm một mình, đó là phân
tích và xác minh. Triết học nhìn ngôn từ người ta sử dụng và nó phân
tích chúng, trình bày các hàm ý có tính luận lý của chúng. Bằng việc
thực hiện công tác đó, triết học làm sáng tỏ các tư tưởng rối rắm lộn
xộn. Hai dạng xác minh Ayer trình bày hai dạng của Nguyên lý Xác minh:
a. Một mệnh đề có thể xác minh được nếu hoặc chỉ nếu chân lý của nó
được thiết lập một cách xác quyết trên cơ sở kinh nghiệm. Ðây là dạng
mạnh. b. Một mệnh đề có thể xác minh được nếu theo kinh nghiệm,
nó khả dĩ có thể xảy ra, hoặc nếu có thể có một kinh nghiệm giác quan
nào đó thích đáng với sự quyết định cái đúng hoặc cái sai của nó. Ðây là
dạng yếu hơn. Ứng dụng của hai dạng Những phát biểu
khác dĩ nhiên cũng có ý nghĩa, nhưng Ayer chỉ quan tâm tới các phát biểu
có "ý nghĩa sự kiện" (factual meaning) – nói cách khác, nếu không có
kinh nghiệm nào thích đáng với cái đúng hoặc cái sai của một lời phát
biểu, lúc đó lời phát biểu ấy không có ý nghĩa thật sự. Ông lập
luận rằng mọi mệnh đề xác thực đều có khả năng không đúng thì sai, hoặc
trùng phức – nói cách khác, đúng do bởi định nghĩa, hoặc do bởi giả
thuyết có tính thực nghiệm, là cái khiến cho một lời tuyên bố có thể xác
minh được bằng kinh nghiệm. Vì lý do đó, toàn bộ siêu hình học bị đánh
giá là vô nghĩa vì những tuyên bố của nó khiến cho các phát biểu của nó
vừa không đúng do bởi định nghĩa vừa nằm ngoài sự xác minh thực nghiệm.
Về dạng mạnh, ta có thể nêu một thí dụ. Khi tôi dưa ra lời phát biểu
rằng "Có ba người đang ngồi trong phòng bên cạnh". Lời ấy có nghĩa rằng
nếu bạn vào phòng kế bên, bạn sẽ thấy trong đó có ba người đang ngồi.
Dĩ nhiên không phải lúc nào cũng có thể kiểm tra dễ dàng các thông tin
thuộc dạng mạnh. Khi không có sẵn bằng cớ, người ta cho rằng điều quan
trọng là phải định rõ loại thông tin nào có lợi hoặc bất lợi cho lời
phát biểu. Về dạng yếu, ta có thể nêu một ví dụ. Khi tôi đưa ra
lời phát biểu rằng "Trong vũ trụ, ngoài quả đất, có những hành tinh
khác có sự sống". Lời ấy có nghĩa rằng nếu bạn có thể xem xét hết thảy
các hành tinh trong vũ trụ, bạn sẽ tìm thấy trên đó có sự sống. Dù cho
tới nay, chúng ta không có khả năng phát hiện sự sống dựa trên khí
các-bon giống như sự sống ở quả đất này, nhưng một cuộc khám phá như thế
có thể cho thấy rằng lời phát biểu đó đúng. Vì thế, lời phát biểu đó
"có ý nghĩa". Một lời phát biểu vô nghĩa nếu tự thân nó không
hàm chứa điều gì có gì có lợi hoặc bất lợi cho khả năng đúng hoặc sai
của nó. Trên cơ sở ấy, có thể đưa phần lớn những lời đã được chấp nhận
theo ngôn ngữ tôn giáo hoặc thẩm mỹ hay đạo đức vào phạm trù "không có ý
nghĩa", vì không lời nào có khả năng được xác định trong tương quan với
các sự kiện cụ thể vốn có thể kiểm tra bằng quan sát. Ðây là cách giới
hạn ý nghĩa của bất cứ lời phát biểu nào đối với phương thức khoa học và
thực nghiệm trong việc khảo sát thế giới. Nếu chỉ những phát
biểu dưới dạng mệnh đề thực nghiệm (empirical proposition) mới có ý
nghĩa, thì quả thật chẳng còn gì để nói nữa. Ayer chấp nhận rằng đối với
ông, có những phát biểu có ý nghĩa cảm xúc nhưng chúng không có ý nghĩa
theo nghĩa đen, là cái được dùng làm cơ sở cho sự chắc chắn. Phê bình thuyết thực chứng luận lý Chủ nghĩa thực chứng luận lý bị thách thức và nó phải đối đầu với hai vấn đề chính:
1. Làm thế nào tôi biết rằng cái tôi thấy đang thật sự ở đó? Tôi có thể
yêu cầu kẻ khác nhìn cái đó và kiểm tra xem họ có thấy nó đúng như tôi
thấy không. Nhưng có lẽ không bao giờ có thể thật sự chứng minh được
rằng cái đó quả thật ở đó, vì người ta không thể nào vượt quá kinh
nghiệm giác quan của chủ tri để tới bản thân khách tri. 2. Làm
thế nào xác minh lời phát biểu rằng "Ýù nghĩa của lời phát biểu là
phương pháp xác minh nó"? Lời ấy có tính tổng hợp chăng? Nếu là tổng
hợp, cái gì làm bằng cớ cho nó? Loại bằng cớ nào có thể chống lại nó?
Hoặc lời ấy có tính phân tích chăng? Nếu là phân tích, thì về mặt luận
lý học, từ ngữ "ý nghĩa" cũng như cụm từ "phương pháp xác minh nó" chẳng
nói lên được điều gì. Tác dụng của Nguyên lý Xác minh
Việc chứng minh một thuyết không nhất quán về luận lý là một cách để
bác bỏ nó, nhưng cách đó chẳng mang lại lợi ích nào khác cho nó. Trong
trường hợp thuyết thực chứng luận lý, cái quan trọng là thuyết ấy biểu
hiện một hình thức mạnh mẽ và đặc thù của chủ nghĩa duy nghiệm và một
hình thức chật hẹp và đặc thù của ngôn ngữ. Triết học góp phần
vào việc biểu hiện đó bằng cách cho thấy phạm vi rất rộng rãi của các
mệnh đề bị thuyết ấy đánh giá là "không có ý nghĩa". Và điều đó đòi hỏi
các triết gia duyệt lại cùng mở rộng kiến thức của họ về ngôn ngữ, để
những lời phát biểu vô nghĩa bằng những từ ngữ "hình dung" và giản dị ấy
tiếp tục có ý nghĩa trong các phạm vi khác, như diễn tả cảm xúc, truyền
mệnh lệnh, nói lên sở thích. Do đó, toàn bộ phạm vi này của ngữ học
được dùng để minh họa tính chất uyển chuyển của sự truyền đạt và nhu cầu
đi tới quá bên kia chủ nghĩa duy nghiệm đơn giản (simple empiricism).
Ðiều đó có nghĩa rằng Nguyên lý Xác minh là một kiểm tra vô giá để bảo
đảm cho các lời phát biểu về sở thích hoặc mệnh lệnh cá nhân, vốn không
tự cho thấy chúng như thể là những phát biểu về sự kiện, có tính thực
nghiệm và rành mạch. Xét lại của Ayer Ðiều thú vị là
tới cuối cuộc đời, như đã được minh họa ở một chương trước, trong cuộc
phỏng vấn dành cho tạp chí The Observer, Alfred J. Ayer thừa nhận rằng
tư tưởng của ông chuyển dịch so với thời điểm xuất bản cuốn Language,
Truth and Logic. Thí dụ, ông chấp nhận rằng ta có thể truyền đạt kinh
nghiệm thẩm mỹ, thế nhưng theo ông, Nguyên lý Xác minh vẫn là định chuẩn
quan trọng đối với cách thức cá biệt trong việc khảo sát triết học.
Ngày nay, chỉ một ít người muốn tiếp nối những lời tuyên bố táo bạo
trong thuyết thực chứng luận lý của Ayer về ý nghĩa và sự chắc chắn, vì
nói chung, triết học đã nhận ra bản tính cực kỳ uyển chuyển của ngôn ngữ
và ý nghĩa của lời phát biểu. Tuy thế, do bởi Ayer đã tuyên bố những
lời ấy từ bối cảnh của một thời đại trong đó người ta xem khoa học và
toán học là hai bộ môn cung cấp những hình ảnh thích hợp cho sự sáng sủa
và chính xác, nên chúng trở thành các kiểu mẫu tiếp cận mà ngôn ngữ
bình thường bị ép buộc phải tuân theo. Nhưng như thế thì chúng ta để vào đâu những lời phát biểu tổng quát về cách hiện hữu của thế giới? III. Ngôn ngữ và nhận thức Thế nào là một mệnh đề đúng?
Theo ý nghĩa nào mà một mệnh đề được công nhận là đúng? Trong chương
Dẫn nhập, chúng ta đã xét và thấy rằng các lời phát biểu có thể đúng
theo hai cách: hoặc do bởi định nghĩa hoặc do bởi kinh nghiệm. Cách đúng
đầu gồm những phát biểu của toán học. Một khi đã hiểu rõ ngôn từ của
một lời phát biểu, người ta tự nhiên biết được cái đúng hoặc cái sai của
nó. Nhưng khi xem xét những phát biểu dựa trên kinh nghiệm,
chúng ta thấy vấn đề lại khác. Trước tiên, không có sự chắc chắn trong
kinh nghiệm vì lúc nào cũng có thể bị lầm lẫn hoặc bị thông giải một
cách khác. Thứ đến, thông thường chúng ta phải sử dụng ngôn từ tổng quát
để diễn tả những sự vật cá biệt: 1. Hãy tưởng tượng một tình
huống không có ngôn từ tổng quát. Làm sao bạn có thể mô tả một cái cây
mà không dùng tới vài ba từ ngữ như "xanh", "vàng", "cao", "thấp",
"rậm", "thưa", v.v. Không giống các danh từ riêng, mỗi từ ngữ chung ấy
có một ý nghĩa có thể áp dụng cho toàn bộ tính chất đa dạng của các vật
riêng lẻ. Trong thực tế, học ngôn ngữ tức là học về phạm vi có tính toàn
bộ của các từ ngữ tổng quát, thí dụ danh từ chung, tính từ, v.v. mà
chúng ta có thể đặt chúng liền nhau để mô tả các sự vật cá biệt.
2. Có phải các từ ngữ tổng quát ấy chỉ tới các sự vật hiện hữu, hoặc có
phải chúng đơn giản chỉ là những danh xưng. "Công bình, chân lý, mỹ và
thiện" có hiện hữu không, hoặc chúng chỉ là danh xưng của những loại sự
việc hay sự vật nhất định được chúng ta chấp nhận? Chúng ta đã thấy vấn
đề ấy được phản ánh trong những điểm dị biệt giữa Plato và Aristotle và
trong cuộc tranh luận giữa thuyết duy thực và thuyết duy danh.
3. Trong khi xem xét thuyết thực chứng luận lý, chúng ta đã thấy rằng
triết học đặt cơ sở trên chức năng "chụp hình" hoặc "hình dung" của ngôn
ngữ. Lời phát biểu chỉ có ý nghĩa nếu chúng phản ảnh chứng cớ, hoặc cái
có tiềm năng là chứng cớ, từ thế giới giác quan. 4. Chúng ta có thể tín nhiệm nhận thức của mình ngang mức nào? 5. Có phải nhận thức cũng giống như dữ liệu giác quan? Tất cả là vấn đề nhận thức
Có những bức vẽ có thể bị một số người xem thông giải bằng những cách
khác nhau, như chúng ta thường thấy trong trò chơi tranh ảnh. Người ta
vẽ một hình hay nối kết của nhiều hình để người xem có những nhận thức
khác nhau, tùy vào thời điểm, vị trí quan sát hoặc bối cảnh của mỗi
người. Trong các sách giáo khoa triết, soạn giả thường nêu
một thí du kiểu mẫu. Ðó là bức hình có hai mặt người màu đen nhìn
nghiêng, đối diện nhau, theo một khoảng cách bằng nhau. Hai đường nét
của mặt mũi, miệng cằm và cổ của hai bên đối xứng nhau, ở giữa làm thành
một không gian màu trắng có hình chiếc ly có chân. Như thế,
cái mà bạn đang thấy là hai mặt nghiêng màu đen, sắc nét của hai người
đang nhìn nhau hay đó chỉ là một chiếc ly màu trắng có chân rất thanh
mảnh. Bạn thử cố gắng xoay chuyển nhận thức của mình từ hình
ảnh mặt hai người sang hình ảnh một chiếc ly có chân – trong khi làm như
thế, bạn hãy để ý tới nỗ lực tinh thần liên hệ. Bạn có cảm thấy có sự
khác biệt nào giữa hai nhận thức ấy không? "Kinh nghiệm như là"
Các trò chơi thị giác ấy minh hoạ cho tính chất không minh bạch hoặc
nhập nhằng của trải nghiệm. Khi bạn vận dụng nỗ lực tinh thần để dịch
chuyển nhận thức của mình từ cái này sang cái kia, bạn khám phá ra rằng
thực tại của "kinh nghiệm như là", nghĩa là mọi trải nghiệm đều đòi hỏi
thành tố thông giải, và rằng hành động nhìn toàn bộ một vật theo một
cách độc nhất sẽ ảnh hưởng lên nhận thức về mỗi thành phần riêng rẻ.
Về một phương diện nào đó, điều đó cũng có thể được minh họa bằng dụ
ngôn "trải nghiệm và thông giải" của năm người mù sờ voi, trong truyện
cổ Kỳ Na giáo, Vương Thúy Kiều "nhìn" lầm Sở Khanh, hoặc lời cảm khái
của một thiếu nữ "kinh nghiệm như là" về phẩm tính của một chàng trai,
trong câu ca dao: Ôi thôi chút nữa em lầm, Khoai lang khô xắt lát, em tưởng cao ly sâm bên Tàu!
là một nan đề (dilemma), nghĩa là một tình thế tới lui đều khó giải
quyết, mà phương pháp thực nghiệm nào cũng phải đương đầu với việc xác
minh ngôn ngữ: a. Nếu mọi trải nghiệm đều đính líu tới "kinh nghiệm như là"; b. Và do đó, nếu hai người có thể có hai cách thông giải khác nhau về cùng một dữ liệu; c. Thì làm thế nào chúng ta quyết định giữa cách này với cách kia hoặc xác minh chân lý của những lời phát biểu ấy.
Thật lạ lùng là trong thuyết thực chứng luận lý, triết học lại triển
khai một quan điểm chật hẹp về ý nghĩa – quan điểm về việc hình dung các
vấn đề dữ liệu giác quan – ngay thời điểm khoa học đã bắt đầu nhận ra
rằng có thể có hai cách khác nhau và không tương hợp trong việc nhìn sự
vật; cả hai đều có thể được đánh giá là chính xác – giống như lý thuyết
ánh sáng dưới dạng gợn sóng hoặc dạng hạt, đã nói ở chương trước. IV. Tri thức và ngôn ngữ
Trong chừng mực quan tâm của các triết gia theo truyền thống Anh và Bắc
Mỹ, như chúng ta sẽ thấy trong chương 9 về lối tiếp cận khác của triết
học lục địa châu Âu rằng trong phần lớn thế kỷ 20, triết học bị khống
chế bởi sự thảo luận về ngôn ngữ. Triết học chỉ để khai quang ngôn ngữ
Thật thế, người ta từng có cảm tưởng rằng đó là tất cả những gì triết
học quan tâm tới – còn mọi sự khác thì phó thác cho các ngành khoa học,
chính trị học hoặc xã hội học. Thay vì sở hữu một nội dung xác định,
triết học là một hoạt động và hoạt động ấy liên hệ tới việc phân loại
ngôn ngữ cùng ý nghĩa của chúng. Ðôi khi, người ta cho
triết học vai trò khá giống viên thuốc tiêu hóa – một cái gì đó thiết
yếu nhằm tẩy rửa một hệ thống hoặc làm cho nó dễ chịu và thao tác hữu
hiệu trở lại. Như thế, triết học sẽ hữu ích cho mọi đối tượng khác bằng
cách khai quang những hoang mang rối rắm trong ngôn ngữ. Như
chúng ta đã thấy, trong thời kỳ đầu thế kỷ 20, người theo thuyết thực
chứng luận lý lập luận rằng ý nghĩa của một lời phát biểu là phương pháp
xác minh nó. Quan điểm ấy ra sức thanh lọc ngôn ngữ của tất cả những gì
được giảm thiểu thành kinh nghiệm giác quan. Siêu hình học bị gạt bỏ và
đạo đức học chỉ là sự diễn tả các sở thích những cái nhất định. Triết học còn chức năng khác
Tới thập niên 1950, quan điểm ấy về ngôn ngữ càng lúc càng lan rộng.
Wittgenstein – dù giai đoạn đầu của sự nghiệp mình đã kết hiệp triệt để
quan điểm ấy với lối tiếp cận có tính giảm thiểu chủ nghĩa đối với ngôn
ngữ – mở rộng quan điểm của ông và chấp nhận rằng ngôn ngữ có thể đảm
trách nhiều chức năng khác nhau, trong đó có chức năng diễn tả thẳng các
hiện tượng (phenomena). Quan điểm mới ấy cho phép uyển chuyển
hơn và thừa nhận rằng sự diễn tả các giá trị và các cảm xúc, việc truyền
mệnh lệnh hoặc đưa lời đòi hỏi, đều là những sử dụng có giá trị của
ngôn ngữ. Chúng hoàn toàn khác với "trò chơi ngôn ngữ" (language game).
Nói cách khác, ngôn ngữ không chỉ là "chụp hình" thực tại, mà ý nghĩa
của nó còn được tìm thấy trong nhiều cách dùng khác nhau. Hiện
nay, dường như các triết gia đang bắt kịp cảm quan chung (commonsense),
và đang buông bỏ sự thanh lọc những lời phát biểu không thể bác bỏ như
là mục đích của ý nghĩa. Ðể biết ý nghĩa của một lời phát biểu, bạn phải
xem xét nó trong ngữ cảnh (context) của nó hoặc hiểu những gì nó dự
tính nhắm tới. Trong chương 7, chúng ta sẽ khảo sát những công
tác khác nhau mà ngôn ngữ có thể thể hiện trong lãnh vực đạo đức học.
Ngang đây, có một điều chúng ta cần phải nhận ra là ngôn ngữ không đơn
giản và trong suốt. Tóm lược Chúng ta có thể trình bày những điều trên theo cách khác như sau: a. Người ta suy nghĩ trước khi phát biểu – cứ hi vọng như thế! b. Họ cũng có thể nhận thức trước khi suy nghĩ. Do đó: a. Ðiều họ nói phản ánh bản tính của ý nghĩ và của nhận thức. b. Ngôn ngữ, vì thế, tối đa chỉ có thể giản dị và rành mạch ngang với ý tưởng và nhận thức sản sinh nó mà thôi.
Bạn hãy thêm vào đó trực giác, cảm xúc, khắc khoải về hiện trạng thế
giới và những hoang mang tổng quát của kiếp người, và như thế, quả thật
đưa tới kết quả là ngôn ngữ rất phức tạp. 1. Ngôn ngữ có thể thể hiện nhiều chức năng khác nhau. 2. Nó có thể "chơi nhiều trò" khác nhau.
3. Chúng ta thậm chí có thể không nhận biết những hàm ý trong những gì
chúng ta có ý nói. Ðiều này khiến ta quay trở lại với Plato. Trong những
bài đối thoại của mình, ông đã miêu tả một cách sinh động Socrates là
người liên tục yêu cầu người đối thoại cho biết họ có ý nói gì, để qua
đó, lộ ra những hoang mang của họ và mở tới cách thức làm sáng tỏ vấn đề
hơn. 4. Nếu không có ngôn ngữ, chúng ta không có siêu hình học hoặc
tri thức luận. Thật thế, chúng ta không thể có triết học, văn minh, văn
hóa hoặc những đặc điểm nhân tính riêng biệt của cuộc đời. V. Triết học có tính ngôn ngữ học Ý nghĩa theo ngôn ngữ bình thường
Trong khi người thực chứng luận lý chủ nghĩa phân tích những phát biểu
bằng cách xác minh chúng bằng kinh nghiệm giác quan, các triết gia khác
thẩm tra sự sử dụng bình thường các từ ngữ. Trong số họ có những người
nổi bật như George E. Moore (1873-1951) và John L. Austin (1911-1960).
Về mặt triết học, G.E. Moore, giáo sư tại Ðại học Cambridge và triết
gia, nổi tiếng nhờ quan tâm tới "sự thú vị của cảm quan chung" mà qua đó
ông rút ra sự tương phản giữa những bối rối và hoài nghi của ông về
chân lý và ý nghĩa của những gì các triết gia nói, và sự minh bạch cùng
sự chắc chắn của ông có liên quan tới những gì mà hầu hết chúng ta,
những kẻ không phải là triết gia, có ý nói và tin tưởng một cách chung
và thông thường. Moore cảm thấy thú vị cái được ông gọi là phân
tích ý nghĩa này. Ðối tượng của phân tích là một thực thể, thường được
gọi là khái niệm. Khi một người biết ý nghĩa của một từ ngữ, thí dụ
"tốt" hoặc bất cứ từ ngữ nào khác đồng nghĩa với nó, thì người đó đã có
sẵn khái niệm về nó. Trong phân tích, ta đặt từ ngữ trước tâm trí của
ta, và kiến lập sự phân tích chính xác bằng cách làm rõ cách mà khái
niệm này có liên quan hay bị phân biệt với các khái niệm khác. Khi trò
chuyện, người bình thường biết rõ cái họ nói, thí dụ như về đạo đức, khi
họ nói tới cái gì đó "thiện" hoặc "phải", về tri giác khi họ nói tới
cái gì đó được "thấy" hoặc được "nghe". J.L. Austin là giáo sư
triết tại Ðại học Oxford tám năm cuối đời của mình. Ông là người đứng
đầu của cái được gọi là "ngôn ngữ bình thường" hoặc triết học mang tính
ngữ học (linguistic philosophy) mà phương pháp đặc trưng của nó trong
thẩm tra bản tính của các ý tưởng – thí dụ nhận thức, tri thức, dự
phóng, hành động hoặc tự do vốn được các triết gia quan tâm – là một
cuộc khảo sát khắt khe, chi tiết, kiên nhẫn, và bao quát các phương cách
trong đó các thuật ngữ được dùng một cách bình thường và thông thường.
Lối tiếp cận này – một biến tấu trên phương pháp đã có từ thời Aristotle
nhưng chỉ tới thế kỷ 20 mới mang tính khống chế – được Austin kỳ vọng
qua đó sẽ biến triết học thành rất như thể khoa học thực nghiệm.
Cùng với lối tiếp cận của Wittgenstein, cuộc thẩm tra này đưa tới quan
điểm rằng cách nói bình thường là một hoạt động có thể được phân tích để
cho thấy những luận lý nội tại (internal logic) cùng những hàm ý
(implications) của nó. Sự phân tích ấy sẽ làm rõ các ý nghĩa và do đó,
giải quyết những vấn đề triết lý. Triết học có tính ngôn ngữ học
Lối tiếp cận này, được gọi là triết học có tính ngôn ngữ học, đã trở
thành một đặc tính khống chế của triết học trong hai thập niên 1940 và
1950. Trong chương 5, chúng ta sẽ đề cập tới một trong các cuốn sách
triết học gây tranh cãi nhất trong thời kỳ đó, có nhan đề The Concept of
Mind (Khái niệm về tâm trí, 1949) của Gibert Ryle, và đưa ra một quan
điểm cấp tiến về tâm trí, dựa trên sự phân tích ngôn ngữ bình thường.
Ðây là chìa khóa được triết học có tính ngôn ngữ học sử dụng: nó thao
tác trên giả định rằng các vấn đề triết lý xảy ra là do bởi những mơ hồ
rối rắm của lối nói bình thường; một khi phân tích xong lối nói ấy và
phô bày hết những hoang mang rối rắm của nó, thì xuất hiện những cái
nhìn thấu suốt mới mẻ và sự sáng tỏ. Do đó, triết học có tính
ngôn ngữ học tái xác định công tác của triết học dưới dạng xác minh ngôn
ngữ. Chúng ta thấy triết học có tính ngôn ngữ học ảnh hưởng trọng đại
lên triết học tâm trí (philosophy of mind) bằng việc đòi hỏi những gì
chúng ta có ý nói khi chúng ta dùng các từ ngữ như "tâm trí" (mind) hay
"con người" (person), hoặc lên đạo đức học (ethics), vốn là nơi hầu hết
những phát biểu được xem xét trong liên quan tới tác phong, thí dụ, cách
ăn ở, cư xử . Nó là cách tiến hành triết học và nó không giống như
triết học ngôn ngữ, cái vốn đặt những câu hỏi về ngôn ngữ triển khai như
thế nào, nó làm gì, nó tương quan ra sao với những cái được nó mô tả
hoặc được nó dẫn tới, và làm thế nào học hỏi nó. Luận lý học hình thức
Luận lý học là một ngành triết học; nó khảo sát tiến trình lập luận.
Khi bạn khởi sự với một chuỗi tiền đề và từ chúng, bạn đạt tới kết luận,
thì quá trình tiến hành như thế được gọi là luận lý học suy diễn
(deduction logic). Một luận cứ có giá trị thì kết luận không thể nào sai
nếu các tiền đề đúng. Một luận cứ có thể có giá trị nếu tiền đề sai, và
do đó kết luận sai; ấy chẳng qua vì bạn bị sai chứ không có nghĩa lập
luận của bạn không thuận lý. Một luận cứ có các tiền đề đúng và luận lý
có giá trị thì chắc nịch và chính xác. Ta cần chú ý rằng luận
lý suy diễn (deductive method) hoàn toàn khác với phương pháp lập luận
"qui nạp" (inductive method) được khoa học sử dụng. Phép qui nạp
(induction) khởi sự với chứng cớ và sau khi cân nhắc kỹ lưỡng tính khả
thi, nó kết luận rằng cái này hoặc cái nọ được kỳ vọng sẽ xảy ra. Một
kết luận do phương pháp này đem lại thì luôn luôn được bỏ ngỏ để xét lại
nếu có chứng cớ mới. Luận lý học hình thức (formal logic) không đề cập
tới chứng cớ; nó là phương cách mang tính hình thức trong việc xem xét
rốt ráo cấu trúc của một luận cứ. Quá trình luận lý học
lý học có lịch sử lâu dài. Trong các bài đối thoại của Plato, chúng ta
thấy Socrates tranh luận với nhiều người vào nhiều dịp khác nhau. Ông
mời họ đưa ra các mệnh đề rồi ông phân tích các nội hàm (implications)
của từng mệnh đề và các luận cứ họ dùng. Thông thường, luận cứ của
Socrates mang hình thức "‘Nếu A tiếp liền theo B và nếu B rõ ràng sai
thì A cũng phải sai". Nhưng người gây ảnh hưởng chính lên suốt
hơn hai ngàn năm nay là Aristotle. Ông sắp đặt các đặc điểm cơ bản của
luận lý suy diễn, đặc biệt tam đoạn luận (syllogism) trong đó hai tiền
đề chính và phụ dẫn tới một kết luận: 1. Mọi người đều phải chết 2. Socrates là người 3. Vậy Socrates phải chết. Có thể diễn tả luận cứ ấy như sau: 1. Mọi A là B 2. C là một A 3. Vậy C là B
Từ tam đoạn luận (syllogism) căn bản ấy, chúng ta có thể tiếp tục thăm
dò các hình thức suy ra (inference) – nói cách khác, những cái có giá
trị thì tiếp liền theo nhau. Một số nguyên tắc của luận lý học
có vẻ hoàn toàn hiển nhiên nhưng cực kỳ quan trọng trong việc làm sáng
tỏ các luận cứ. William of Ockham (1285-1349), nhà luận lý học người Anh
đã phê bình Aristotle; ông nổi tiếng với lập luận rằng ta không nên
nhân lên các thực thể một cách không cần thiết. Qui luật của
Ockham là: "Lời giải thích đơn giản nhất thì có khả năng diễn tả đúng
tình huống hơn là lời giải thích phức tạp". Nói cách khác, nếu có một số
lời giải thích khả thi, ta nên chọn lời nào đơn giản nhất. Quan điểm
này có tên là Lưỡi dao cạo của Ockham (Ockham’s Razor); nó thách đố các
khuynh hướng phổ quát hóa của phái tân Plato (neoplatonism). Luận cứ không chứng cớ
Thông thường, luận lý học có thể làm nổi bật các sai lầm chung. Một
trong những sai lầm ấy là argumentum ad ignorantium, nghĩa là ta có thể
tranh cãi biện hộ cho một điều dựa trên cơ sở không có chứng cớ chống
lại nó; ngược lại, để kiến lập chân lý của một điều, ta cần phải đưa ra
bằng cớ để chứng minh rằng nó đúng là như thế. Nói cách khác,
ta có thể áp dụng điều ấy trong một vụ án hình sự. Tuy người bị cáo buộc
tên A không trưng ra được bằng cớ rằng anh ta không phạm tội đó, nhưng
ta không thể lấy sự kiện ấy như một bằng chứng rằng A có phạm tội ấy.
Thông thường, thủ tục tố tụng qui định phía cáo buộc – viện kiểm sát
hoặc công tố viện – phải trưng ra bằng cớ hữu lý là A có phạm tội đó;
bằng không, A được trắng án. Nếu đặc điểm căn bản ấy của luận lý học bị
xem thường, thì hệ thống tư pháp có thể bị xáo lộn ghê gớm. Tuy
thế, ta cũng cần để ý rằng đôi khi nguyên tắc argumentum ad ignorantiam
bị hạ xuống thành một cuộc tranh luận có tính bình dân và huyền bí:
không có bằng cớ cho thấy các sinh linh hoặc sức mạnh nào ngoài quả đất
này là nguyên nhân của một số hiện tượng, do đó, vì không thể nào có
được lời giải thích khác nên chúng ta có thể cho rằng đúng là có nguyên
nhân ấy! Luận lý học và ngôn ngữ giả tạo Luận lý học có thể trở
nên rất phức tạp với những thành phần này của một luận cứ tùy thuộc vào
các thành phần kia. Người ta thường lập luận rằng "Nếu nó không thế này
thì thế nọ, nếu nó không thế nọ thì thế kia..." Rõ ràng các luận cứ như
thế rất cồng kềnh một khi phải viết ra tất cả các thành tố của từng luận
cứ nhằm xem xét tính luận lý của chúng. Ðể khắc phục tình thế cồng
kềnh ấy, luận lý học hình thức dùng tới một dạng ngôn ngữ giả tạo. Ngôn
ngữ này dùng các chuỗi chữ cái A, B, C... tiêu biểu cho các tiền đề và
các kết luận cấu thành đa dạng, và đồng thời một chuỗi các ký hiệu đóng
vai từ nối. Các ký hiệu này tiêu biểu cho những bước luận lý như "và",
"hoặc", "nó không đúng như thế", "nếu...thế thì" và "nếu và chỉ nếu".
Việc sử dụng ngôn ngữ giả tạo này được đặc biệt qui kết cho triết gia và
nhà toán học và luận lý học người Ðức Gottlob Frege (1848-1925). Thí dụ minh họa
Ðể minh họa cho các chữ cái và các ký hiệu, ta thử nêu một thí dụ. Từ
nối "nếu...thế thì" được trình bày bằng một mũi tên chỉ qua phía bên
phải, kết luận – "do đó" – được trình bày bằng dấu chấm phẩy. Ta thử lấy
một luận cứ: Nếu tôi hụt chuyến xe buýt, thế thì tôi tới chỗ làm trễ. Tôi hụt chuyến xe buýt, do đó sẽ tới chỗ làm trễ.
Chúng ta có thể công thức hóa luận cứ trên bằng việc dùng chữ cái "A"
thay cho "Tôi hụt chuyến xe buýt" và "B" thay cho "tôi tới chỗ làm trễ." Luận cứ ấy viết lại thành: A (A à B) ; B tạp và tao nhã
Một đặc điểm của luận lý ấy là nó đập vỡ từng câu thành các thành phần
hợp thành và làm rõ mối quan hệ giữa chúng. Như thế, luận lý học hình
thức giúp làm sáng tỏ, một cách chính xác, cái có giá trị và cái không
có giá trị. Các luận cứ được sắp đặt theo cách ấy quả thật hóa ra rất
phức tạp, và có một số lớn lao các ký hiệu không quen thuộc được dùng
tiêu biểu cho các từ nối đa dạng. Nếu bạn cầm lên cuốn sách nổi
tiếng Principia Mathemathica của Russell và Whitehead hoặc liếc sơ qua
cuốn Jounal of Symbolic Logic (Tạp chí Luận lý học Ký hiệu), xuất bản và
phát hành từ New York, bạn sẽ thấy từ hết trang này sang trang khác đầy
dẫy những gì trông giống như toán học cao cấp hoặc các công thức khoa
học phức tạp. Ðối với người ở ngoài ngành thật cực kỳ khó theo dõi, còn
đối với người trong ngành, chúng ngó thật "đã con mắt". Toán học
Hầu hết công việc trong luận lý học đều do các nhà toán học thực hiện.
Ðó là điều không đáng ngạc nhiên vì toán học – giống như luận lý học –
thao tác trên các tiền đề và các qui tắc. Hai triết gia đã được đề cập,
Frege và Russell, mỗi người riêng rẽ đều đạt tới kết luận rằng có thể
cho thấy các qui tắc toán học là luận lý học sơ cấp, và rằng do đó, có
khả năng chứng minh cơ sở của toán học. Trong công trình của
họ, được Russell triển khai trong cuốn Principia Mathematica, xuất bản
làm ba phần, từ năm 1910 tới năm 1913, toán học trở thành một phần tiếp
nối của luận lý học, và trong lý thuyết – dù không trong thực tiễn vì
hẳn cần thời gian rất lâu dài để sắp xếp – có thể hết thảy các luận cứ
toán học đã có nguốn gốc từ luận lý học và được trình bày trong dạng
luận lý. Khi xem xét lý thuyết về tri thức, chúng ta đã đi tới
việc chống lại sự phân biệt của Kant giữa những sự vật có thể được biết
qua giác quan và những cấu trúc bị tâm trí áp đặt nhằm làm cho chúng ta
có khả năng tạo ý nghĩa hoặc tổ chức kinh nghiệm của mình. Kế đó, chúng
ta đã thấy rằng có thể chia những phát biểu thành hai loại: lời phát
biểu tổng hợp – tùy thuộc vào kinh nghiệm và không chắc chắn; và lời
phát biểu phân tích – biết một cách trực tiếp và chắc chắn. Nhưng trong
lược đồ ấy, đâu là chỗ toán học ăn khớp? 2+2=4 là một thí dụ
kinh điển của lời phát biểu phân tích. Ta không cần phải kiểm tra nhiều
thí dụ để đi tới kết luận rằng tổng số của chúng luôn luôn là 4 và không
bao giờ là 5. Cũng giống hệt như thế trong toán học tổng quát; nó là
vấn đề phương pháp suy diễn luận lý và chắc chắn. Nhưng có phải
điều ấy có nghĩa rằng toán học chỉ đúng trong tâm trí? Nó không phải là
trường hợp có hai vật này, cộng thêm hai vật khác trong thế giới ngoại
tại và luôn luôn làm thành bốn vật sao? Nếu quả thật đúng như thế, lúc
đó qua toán học và luận lý học ta có thể hiểu các sự vật trong "thế giới
thật"; nó phải dính líu tới mối quan hệ thật sự chứ không chỉ tới các
thao tác tâm trí. Tuy vậy, nếu nó không đúng như thế, thì làm
thế nào các lý thuyết về nguồn gốc vũ trụ lại có xuất phát từ các giáo
sư toán học, thí dụ Stephen Hawking (1962- ) . Ðọc lại Plato và Aristotle
Có lẽ cũng như rất nhiều chủ đề khác, có thể lần ngược chủ đề này tới
thời cổ đại Hi Lạp với Plato. Ông cho rằng con số, hoặc các hình kỷ hà
học như hình tam giác hoặc hình vuông đều hoàn hảo; trong toán học, bạn
không thể nào có hình "gần vuông" hoặc "gần 2". Nhưng trong thế giới
thật, chẳng có cái gì hoàn hảo. Do dó, Plato cho rằng toán học nói tới
các đối tượng được biết tới bằng tâm trí chứ không phải bằng giác quan,
những đối tượng ấy – giống như các "hình thái" của ông – thuộc về một
thế giới khác với thế giới đang được chúng ta trải nghiệm. Do đó, có thể
xem toán học là tiên nghiệm, với cái chắc chắn không thể xảy ra cho các
sự vật trong thế giới này. Aristotle đã, một cách dự báo, tính
tới điều đó với lời tuyên bố rằng các khái niệm toán học đều là những
trừu tượng hóa và khái quát hóa dựa trên những sự vật được trải nghiệm.
Cuộc tranh luận giữa các quan điểm mang bản sắc Plato và bản sắc
Aristotle đã rất ảnh hưởng lên lịch sử toán học cũng giống như lên nhiều
lãnh vực khác của triết học. Triết học toán học là phạm vi
nghiên cứu có tính chủ yếu và vượt quá phạm vi của cuốn sách tổng quát
này. Ngang đây, tất cả những gì chúng ta cần tới là sự ghi nhận mối quan
hệ mật thiết giữa toán học và luận lý học. Tiếp tục thảo luận sẽ đưa
tới các câu hỏi rằng không biết số học có thể được giảm thiểu, một cách
có giá trị, thành "lý thuyết tập hợp" (set theory) không, rằng không
biết toán học như một toàn bộ có thể được hoàn toàn giảm thiểu thành
luận lý học, và rằng nếu như thế, việc giảm thiểu ấy tạo ra giá trị nào? Bào chữa cho tính phi luận lý
Chính vì Frege thấy rằng toán học đặt cơ sở trên luận lý học, còn luận
lý học thì quan tâm tới cấu trúc của ngôn ngữ, nên nó không đưa tới hệ
quả là toàn bộ ngôn ngữ được, hoặc nên được trình bày với sự chính xác
có tính toán học – điều đó cũng không hơn gì việc những người kế thừa
thực chứng luận lý chủ nghĩa đang loại trừ hết thảy những lời phát biểu
không thể xác minh được về mặt thực nghiệm. Ngay ở cuối cuốn
Tractatus, Wittgenstein vạch rõ rằng có một số điều chúng ta phải giữ im
lặng về chúng. Nói cách khác, chúng nằm ngoài phạm vi của những mệnh đề
có ý nghĩa và chúng có giá trị nhờ liên quan tới kinh nghiệm giác quan.
Nhưng như thế vẫn không làm cho người ta thôi nói về chúng.
Ngôn ngữ thể hiện tính chất đa dạng lớn lao của các chức năng, và các
chức năng ấy cung cấp ý nghĩa cho nó. Khi chúng ta đi tới việc xem xét
trường phái triết học lục địa (continental philosophy) châu Âu – trong
đó có chủ nghĩa hiện sinh (existentialism) và chủ nghĩa hậu hiện đại
(postmodernism) – chúng ta sẽ thăm dò các câu hỏi về những ý nghĩa không
còn vừa vặn với những phạm vi chật hẹp của trường phái triết học phân
tích (analytic philosophy). Chúng ta phải sẵn sàng để thăm dò thực tế
rằng một lời phát biểu có thể truyền đạt điều gì đó quan trọng dù nó phi
luận lý (illogical), xét theo những định chuẩn tam đoạn luận của
Aristotle . Ðiều đó không làm cho một phán quyết có giá trị, mà
chỉ đơn giản vạch cho thấy rằng luận cứ có tính luận lý học không phải
là hình thức độc nhất của ngôn ngữ có ý nghĩa.n Nguyễn Ước
0 comments:
Post a Comment