Thursday, February 13, 2014

TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TPHCM: RỐI THÊM DO TÒA ÁN?

VIẾT ĐOÀN
Chỉ là một vụ án “Kinh doanh thương mại về tranh chấp Hợp đồng kinh tế” thế nhưng liên tiếp trong thời gian vừa qua TAND Q7 (TP HCM) đã có đến 1 thông báo và 2 quyết định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời yêu cầu ngăn chặn và phong tỏa tài sản tiền gửi của đương sự. Tuy nhiên, điều đáng nói là những văn bản này đều có dấu hiệu trái luật hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật khiến DN phải… kêu cứu.
Theo Hợp đồng số 110809/UREA/12,500/MT, ngày 11/8/2009 Cty CP Kim Phú Gia (bên Bán) và Cty CP vật tư nông sản (bên Mua) mua bán phân UREA N46% với số lượng mua hàng là 12.500 tấn, được giao hàng tại Cảng Đà Nẵng với giá trị trên 3,4 triệu USD (khoảng 61,875 tỷ đồng). Như thỏa thuận NH NN-PTNT VN CN 8 phát hành 1 bảo lãnh thực hiện hợp đồng tương ứng 3% giá trị lô hàng cho bên Bán và bên Mua thụ hưởng (hơn 1,856 tỷ đồng). Số tiền này được trả cho bên Mua như một khoản bồi thường thiệt hại phát sinh do lỗi của bên Bán. Đồng thời, theo yêu cầu của bên Mua, NH Đầu tư & Phát triển CN Hà Thành (BIDV) đã ra một chứng thư bảo lãnh thanh toán 100% trị giá hợp đồng cho bên Bán và người thụ hưởng chứng thư bảo lãnh là Ngân hàng TMCP Phương Nam (Southern Bank).
Rắc rối ngoài hợp đồng
Trong khi hợp đồng chưa được thực hiện thì hai bên đã xảy ra tranh chấp và bên Bán đã khởi kiện ra TAND Q 7 (TP HCM). Theo như đơn khởi kiện ngày 11/11/2009, bên Bán cho rằng bên Mua đã vi phạm hợp đồng và đòi bồi thường số tiền 2% hợp đồng do chậm thực hiện. Trong đó, công văn ngày 4/9/2009 bên Bán gửi cho bên Mua cho rằng chứng thư bảo lãnh của BIDV không được Southern Bank đồng ý với một số điều trong thư bảo lãnh và đòi hỏi những cái không cần thiết. Do đó, đã đề nghị chuyển người thụ hưởng là NH NN-PTNT VN CN Sài Gòn.
Ngày 16/9/2009 bên Bán lại có văn bản gửi bên Mua với nội dung cho rằng “Chứng thư bảo lãnh của BIDV đã ràng buộc thêm điều kiện kèm theo các chứng từ chứng minh bên Mua đã nhận đủ hàng nhưng không thanh toán theo quy định của hợp đồng”. Tuy nhiên, nội dung của những văn bản này và các cuộc đàm phán đều bị bên Mua bác bỏ. Ông Nguyễn Tiến Dũng – TGĐ Cty CP vật tư nông sản (đại diện bên Mua) khẳng định: “Việc xác định người thụ hưởng trong thư bảo lãnh chúng tôi đã làm theo đúng như cam kết trong hợp đồng. Còn việc thay đổi người thụ hưởng thì hợp đồng không ràng buộc mà chỉ do hai bên đàm phán nên việc chấp thuận hay không phụ thuộc vào nội dung của cuộc đàm phán và chúng tôi không chấp thuận”.

Xem xét về các điều khoản trong hợp đồng mua bán này LS Võ Xuân Trung, Đoàn LS TP HCM khẳng định về phía bên Mua không hề có lỗi. Theo điều 7.2 của hợp đồng có đề nghị rõ bên thụ hưởng là Southern Bank và ngay từ đầu chứng thư bảo lãnh này đã đúng còn việc bên Bán đề nghị đổi sang ngân hàng khác không được ghi trong hợp đồng. Do đó, trong vụ việc này thì việc chuyển đổi ngân hàng hay không là do quyền của bên Mua chứ không thể bắt buộc. Đồng nhất với quan điểm trên, Luật gia Nguyễn Thành Sinh nói: Với tất cả các vụ án tranh chấp thương mại kiểu này thì điều trước tiên là phải căn cứ trên hợp đồng giữa hai bên. Giải thích về việc bên Bán về nội dung Chứng thư bảo lãnh hợp đồng, ông Sinh cho rằng với nội dung chứng thư bảo lãnh của BIDV là phù hợp và việc nội dung của bảo lãnh có thêm điều kiện “kèm theo các chứng từ chứng minh bên Mua đã nhận đủ hàng nhưng không thanh toán theo quy định của hợp đồng” chỉ chứng minh thêm khi thực hiện đúng nghĩa vụ của ngân hàng bảo lãnh với các bên liên quan.
Đề nghị đổi thẩm phán!
Trước khi khởi kiện ra tòa, ngày 10/11/2009 bên Bán đã có đơn yêu cầu TAND Q 7 TP HCM ngăn chặn và phong tỏa tài khoản tiền gửi khẩn cấp tài khoản số 1702201128071 tại NH NN-PTNT CN 8. Theo đó, ngày 13/11/2009 TAND Q 7 đã ban hành Thông báo số 45 về việc thu lý vụ án và đồng thời cùng ngày thẩm phán tiếp tục ban hành Công văn số 267/CV-TA gửi NH NN-PTNT CN 8 yêu cầu không cho hai bên giao dịch số tiền 1,856 tỷ đồng. Do đó, tại văn bản gửi các cơ quan chức năng bên Mua đã khiếu nại việc thẩm phán ban hành văn bản trên là trái luật và không đủ hiệu lực về pháp luật để các bên thi hành. Tiếp theo đó, thẩm phán lại ban Quyết định số 1/2010/QĐ-BPKCTT ngày 3/2/2010 về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, tiếp tục đề nghị ngân hàng không cho thực hiện việc giao dịch trên. Thậm chí, quyết định trên TA cũng không gửi cho người bị đơn trong vụ kiện mà ngày 11/3/2010 người của công ty đến trực tiếp nhận tại TAND Q 7.
Trong khi những rắc rối trên chưa được giải quyết thì ngày 30/3/2010 thẩm phán lại tiếp tục có Quyết định số 02/2010/QĐ- BPKCTT áp dụng biện pháp phong tỏa  khẩn cấp tạm thời số tài khoản và số tiền trên với thời hạn 6 tháng kể từ ngày ra quyết định. Như vậy, có thể hiểu ở thời điểm hiện tại thì một văn bản và hai quyết định áp dụng biện pháp phong tỏa khẩn cấp tạm thời của TAND Q7 đều có hiệu lực như nhau. LS Võ Xuân Trung cho rằng cần xem xét lại trình độ của thẩm phán bởi giải quyết một vụ án tranh chấp thương mại chỉ giải quyết trong vòng 2 tháng, còn trong trường hợp thẩm phán và các bên phải thu thập chứng cứ để chứng minh thêm cho vụ án thì mới kéo dài thời hạn thêm 1 tháng nữa. Vậy dựa vào đâu để thẩm phán ra một quyết định phong tỏa tài khoản  tới 6 tháng ?
Trước những quyết định, văn bản của tòa bên Mua đã chính thức có văn bản đề nghị thay đổi thẩm phán với lý do “Trong quá trình làm việc thẩm phán không khách quan, ban hành một số văn bản có liên quan đến vụ án, không đúng pháp luật”.
Theo giới chuyên môn, đối với các đối tác nước ngoài khi có giao dịch với số lượng tiền lớn như trong hợp đồng này thì họ lựa chọn rất kỹ ngân hàng mở L/C cho việc thực hiện hợp đồng. Trong đó, thông thường họ chọn các ngân hàng nhà nước hoặc một trong 4 ngân hàng TMCP của nhà nước tham gia việc bảo lãnh và mở L/C về lĩnh vực này, đồng thời có uy tín trong nước và quốc tế. Với lựa chọn ngân hàng không phù hợp với đối tác nước ngoài thì việc bị hủy L/C là một điều rất dễ hiểu.
SOURCE: BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

0 comments:

Post a Comment

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code