Saturday, September 28, 2013

Tiểu luận "Các hình thức sở hữu hiến định"

Châu Âu vào đầu thế kỷ XIX, những nhà kinh tế học cổ điển hầu như không bàn đến vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất. Quyền sở hữu được cho là quyền tự nhiên. Ngay cả trong bản tuyên ngôn về quyền con người, quyền công dân sau Cách mạng tư sản Pháp 1789 cũng viết: “Sở hữu là quyền không thể xâm phạm và thiêng liêng của con người”. Con người sinh ra là đã có quyền sở hữu.

Marx chỉ ra rằng quan hệ sản xuất chịu sự quyết định trực tiếp của lực lượng sản xuất, nhưng với tư cách là thành tố quan trọng nhất, quyết định bản chất quan hệ sản xuất, quyết định bản chất chế độ kinh tế, quan hệ sở hữu là tiêu chí để phân biệt các hình thái kinh tế – xã hội khác nhau. Như vậy quan hệ sở hữu trong xã hội như thế nào thì kết cấu giai cấp, bản chất chính trị của xã hội sẽ như vậy. Sở hữu là một vấn đề kinh tế chính trị, cần có quan điểm chính trị khi bàn về vấn đề sở hữu chứ không chỉ thuần túy kinh tế khi xem xét vấn đề này.

Bàn đến vấn đề sở hữu là bàn đến vấn đề cốt lõi của một chế độ kinh tế – xã hội. Trước khi chủ nghĩa lập hiến ra đời những vấn đề cốt lõi có tính nhạy cảm phô bày bản chất giai cấp, bản chất của Nhà nước như vấn đề sở hữu chưa bao giờ được đưa ra công khai trước toàn xã hội như một thỏa ước hết sức bình đẳng giữa nhà cầm quyền và nhân dân. Vấn đề sở hữu như là yếu tố lõi của một nền kinh tế vì thế hẳn nhiên nó cũng có quan hệ rất lớn, ảnh hưởng nhiều đến sự hưng vong của một nền chính trị của bất cứ quốc gia nào. Việc phân tích các hình thức sở hữu của một xã hội cho phép xác định cơ cấu kinh tế - xã hội, địa vị kinh tế - xã hội của mỗi giai cấp, tầng lớp trong trong xã hội cũng như những mối quan hệ qua lại giữa các hình thức sở hữu có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu cơ sở hạ tầng của nhà nước, bản chất giai cấp của Nhà nước.

Với cách tiếp cận pháp lý – chính trị, nước ta hiện nay thừa nhận song song 2 chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa (với nền tảng là sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập thể) và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa ( hình thức sở hữu tư nhân làm nòng cốt). Trong Hiến pháp năm 1946, Nhà nước ta chưa xác định các hình thức sở hữu trong nền kinh tế quốc dân. Đến Hiến pháp 1959, bốn hình thức sở hữu chủ yếu được quy định trong Hiến pháp bao gồm sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và sở hữu của người lao động riêng lẻ và sở hữu của nhà tư sản dân tộc (xem điều 11 Hiến pháp 1959). Nếu Hiến pháp năm 1980 chỉ ghi nhận hai hình thức sở hữu chủ yếu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể(xem điều 18 Hiến pháp 1980) thì Hiến pháp 1992 trong công cuộc đổi mới đã thừa nhận nền kinh tế hang hóa nhiều thành phần dựa trên nhiều hình thức sở hữu: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân…trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng (xem điều 11 Hiến pháp 1992).

Trong phạm vi đề tài này nhóm chúng tôi tập trung nghiên cứu về các hình thức sở hữu hiến định ở ba mặt lý luận, thực tiễn và một vài đánh giá sơ lược mang tính chủ quan và gợi mở với cơ sở pháp lý là bản Hiến pháp hiện hành của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (Hiến pháp năm 1992, bản Hiến pháp đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 11 nhất trí thông qua trong phiên họp ngày 15 tháng 4 năm 1992, hồi 11 giờ 45 phút, gồm 12 chương, 147 điều) mà cụ thể là điều 15 thuộc chương II, chương chế độ kinh tế:

"Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.”

Dưới đây là nội dung của đề tài được trình bày theo bố cục ba phần như sau:


  • 1. Cơ sở pháp lý và lý luận
  • 2. Thực tiễn
  • 3. Đánh giá

Chúng tôi với quỹ thời gian rất hạn hẹp khó có thể đạt tới sự toàn diện và sâu sắc trong việc nghiên cứu các hình thức sở hữu hiến định. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ thầy và các bạn để đề tài của nhóm được hoàn thiện hơn.

Nhóm 8 - Luật 3B - VB2 CQ

-----------
CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU HIẾN ĐỊNH THỰC TIỄN VÀ ĐÁNH GIÁ
GVHD: GV. LƯU ĐỨC QUANG
NHÓM SVTH: NHÓM 8


NỘI DUNG
1. Cơ sở pháp lý và lý luận

1.1. Cơ sở pháp lý
Hiến pháp năm 1992 là cơ sở pháp lý cao nhất cho sự ra đời và hoàn thiện pháp luật về kinh tế - phương tiện đặc biệt quan trọng trong việc xóa bỏ các quan hệ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, xây dựng quan hệ kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, hội nhập, có sự quản lý của Nhà nước.
Sự đổi mới về mặt tư duy, nhận thức về vấn đề quan hệ sản xuất gồm quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối thực sự là một cuộc cách mạng đã vực dậy nền kinh tế Việt Nam và tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ về mọi mặt của đời sống xã hội. Sự đa dạng hóa các thành phần kinh tế trong Hiến pháp 1992 có nền tảng là chế độ sở hữu gồm ba hình thức: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu tư nhân lần đầu tiên được thừa nhận là động lực mạnh mẽ, giải phóng sức lao động, tạo sức bật cho toàn thể xã hội.
Đề tài chúng tôi dựa trên cơ sở pháp lý là điều 15 thuộc chương II, chương chế độ kinh tế Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 để tìm hiểu các hình thức sở hữu hiến định với cách tiếp cận pháp lý:
"Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nhà nướcthực hiện nhất quán chính sáchphát triển nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.”
Đồng thời cũng dựa vào các quy định khác trong Hiến pháp 1992:
Điều 17 Hiến pháp năm 1992:Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kĩ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân.
Điều 18 Hiến pháp năm 1992:Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả.
Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài.
Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật
Điều 20Hiến pháp 1992: Kinh tế tập thể do công dân góp vốn , góp sức lực hợp tác sản xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện , dân chủ và cùng có lợi. Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả.
Điều 21 Hiến pháp 1992: kinh tế cá thể , kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất , kinh doanh được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về qui mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh. Kinh tế gia đình đơợc khuyến khích phát triển.
Điều 25 Hiến pháp 1992: Nhà nước khuyến khích các tổ chức cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế, đảm bảo quyền sở hữu hợp tác đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá.
Các định nghĩa
Trước hết thiết nghĩ chúng tôi cần phân biệt rõ sự khác biệt giữasở hữu pháp lý và sở hữu kinh tế : Xác lập quyền sở hữu về mặt pháp lý và thực hiện sở hữu về kinh tế là hai vấn đề khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Sở hữu pháp lý là điều kiện, là tiền đề cho sở hữu kinh tế. Nhưng chỉ dừng lại ở xác lập quyền sở hữu thôi thì chưa đủ. Mục đích cơ bản, cuối cùng khi giải quyết vấn đề sở hữu là thực hiện quyền về mặt kinh tế, nghĩa là sở hữu đó mang lại lợi ích gì cho chủ sở hữu. Quan hệ lợi ích là biểu hiện cô đọng, tập trung của quan hệ sở hữu. Ví như xác lập sở hữu toàn dân về đất đai thì nhân dân có quyền, có lợi gì về đất đai?
Thực hiện quyền sở hữu về mặt kinh tế quan hệ đến 2 loại vấn đề: thứ nhất là các hình thức, cơ chế thực hiện sở hữu, và thứ hai là sự phân cấp trong quan hệ sở hữu.
Về sự phân cấp trong quan hệ sở hữu quan hệ đến vấn đề “tổ hợp các quyền” gọi là quyền sở hữu. Tổ hợp ấy gồm các quyền: quyền sử dụng; quyền hưởng thụ: quyền chuyển nhượng (cho thuê, bán), quyền thế chấp; quyền mở mang thu hẹp hay thay đổi vật sở hữu từ bản chất, chức năng, cơ cấu tổ chức đến mục đích của vật sở hữu ấy; quyền hiến tặng, quyền phá huỷ hoặc thủ tiêu vật sở hữu nếu không vi phạm pháp luật. Từ đó xuất hiện khái niệm đồng sở hữu. Như trong doanh nghiệp nhà nước thì Nhà nước cùng giám đốc doanh nghiệp hoặc hội đồng quản trị và công nhân là đồng sở hữu.
Khái niệm đồng sở hữu chỉ phù hợp ở những phạm vi, thời gian nhất định. Người nắm quyền sở hữu có quyền nắm tất cả các quyền còn lại, hoặc phân cho những đối tượng những quyền khác nhau. Những đối tượng nắm một hay một số quyền trong thời hạn nào đó được tham dự vào quyền sở hữu, có lợi ích từ đó. Vì vậy họ trở thành đồng sở hữu chỉ ở phạm vi, mức độ và thời gian nhất định.
Vì vậy sự phân cấp trong quan hệ sở hữu để có thể thực hiện có hiệu quả hơn sở hữu đó về mặt kinh tế cũng là đòi hỏi của cuộc sống.
Trước khi đi vào phân tích chúng tôi sẽ làm rõ các định nghĩa và cách tiếp cận của nhóm trong vấn đề các hình thức sở hữu hiến định ở dưới đây:
-Trước hết là định nghĩa về sở hữu:Về mặt thuật ngữ sở hữu có nguồn gốc Hán Việt. Về mặt lý luận có thể được hiểu sở hữu là quan hệ xã hội giữa người với người về việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải xã hội. Khi nói về sở hữu không chỉ bao gồm quan hệ con người chiếm hữu tư liệu sản xuất, của cải, mà hết sức quan trọng là nói về quan hệ giữa người với người diễn ra sự chiếm hữu đó.
Người ta phân biệt hai loại sở hữu: loại sở hữu mang tính dân sự (sở hữu nhà ở, sở hữu đồ dùng cá nhân) và sở hữu tư liệu sản xuất. Quyền sở hữu theo quan điểm của pháp luật nói chung và pháp luật Dân sự nói riêng bao gồm 3 quyền năng : quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt[1].
Hiện tại các nhà làm luật của Việt Nam vẫn duy trì việc tồn tại song song hai cách tiếp cận chính trị và pháp lý. Nếu tiếp cận dưới góc độ pháp lý thì việc minh định rõ các quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu và các đối tượng liên quan trong các giao dịch liên quan đến sở hữu theo “hình thức sở hữu” rất cần thiết. “Hình thức sở hữu” vốn đa dạng, phong phú và đậm màu sắc thực tiễn hơn “chế độ sở hữu”.
-Khách thể đặc biệt quan trọng của quyền sở hữu: tư liệu sản xuất (TLSX), khái niệm tư liệu sản xuất theo tinh thần triết học của Marx là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất trong quá trình lao động cải tạo tự nhiên. TLSX bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động.
+Cụ thể đối tượng lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà lao động con người dùng tư liệu lao động tác động lên, nhằm biến đổi chúng cho phù hợp với mục đích sử dụng của con người.
+Còn tư liệu lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dựa vào đó để tác động lên đối tượng lao động.
+Trong quá trình sản xuất của con người, TLSX thường hoạt động dưới 2 hình thức tài sản cố định và tài sản lưu động.
Tài sản cố định: là loại TLSX dùng trong thời gian dài, qua nhiều chu kỳ sản xuất mà vẫn giữ nguyên được trạng thái hiện vật, nó bị hao mòn dần trong quá trình sử dụng, giá trị của nó chuyển dần vào giá thành sản phẩm, cần phải tính khấu hao để bù đắp lại.
Tài sản lưu động: tham gia một lần vào quá trình sản xuất, nó bị tiêu hao hoàn toàn và chuyển toàn bộ giá trị vào một lần vào giá thành sản phẩm[2].
Thuật ngữ tài sản có thể được hiểu trên hai phương diện:
Theo quan niệm thông thường: Tài sản là của cải vật chất tồn tại dướidạng cụ thể, được con người sử dụng và được nhận biết bằng giác quan tiếp xúc như giường, tủ, bàn ghế, xe mô tô, tờ tiềnhiểu theo nghĩa thông thường rộng hơn thì tài sản là: “Của cải vật chất hoặc tinh thần có giá trị đối với chủ sở hữu”. Với nghĩa này tài sản luôn gắn với một chủ thể xác định trong một xã hội nhất định. Do đó quan niệm về tài sản cũng thay đổi theo xã hội đối với của cải trong xã hội đó.
Theo phương diện pháp lý: Tài sản là của cải được con người sử dụngđể mang lại lợi ích. Của cải là một khái niệm luôn luôn có sự biến đổi về giá trị vật chất và được pháp luật qui định về chế độ pháp lý đối với nó.
Luật Dân sự Việt Nam thừa nhận tài sản theo nghĩa rộng, theo đó, tài sản bao gồm các vật và quyền tài sản trên các vật đó (vật quyền). Mặc dù không đưa ra định nghĩa về tài sản nhưng Điều 163 Bộ luật Dân sự xác định tài sản bao gồm vật, tiền, các giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
BLDS năm 2005 phân loại tài sản thành động sản – bất động sản, tài sản hữu hình – tài sản vô hình, đó là những phân loại mang tính truyền thống và phù hợp với thông lệ quốc tế. Bài viết này tập trung đề cập đến cách phân loại tài sản ở cách phân loại thú hai – Bất động sản và động sản. Để phân biệt động sản – bất động sản Bộ luật Dân sự đã dùng phương pháp loại trừ để xác định một tài sản là động sản hay bất động sản. Khoản 1 Điều 174 BLDS liệt kê các tài sản được coi là bất động sản,
1. Bất động sản là các tài sản bao gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó;
c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
d) Các tài sản khác do pháp luật quy định.
2. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản
Việc phân biệt động sản và bất động sản chủ yếu dựa trên tính chất vật lý không di dời được về mặt cơ học và giá trị kinh tế. Trên thực tế thì những tài sản không di, dời được thường là những tài sản có giá trị lớn, như ruộng vườn, nhà cửa, ao chuôm. Việc phân biệt động sản và bất động sản nhằm mục đích qui định hai quy chế pháp lý khác nhau cho hai loại tài sản này. Hai qui chế pháp lý này ảnh hưởng trực tiếp đến những qui định của BLDS khi qui định về quyền của chủ sở hữu thực quyền đòi lại động sản, bất động sản từ người chiếm hữư không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình theo qui định tại Điều 256,257,258 của BLDS
Theo qui định tại Điều 174 BLDS, có thể thấy luật tài sản Việt Nam thừa nhận các loại bất động sản sau đây:
Bất động sản không thể di, dời được do bản chất tự nhiên vốn có của nó, bao gồm : Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; Cây cối, hoa màu và các tài sản khác trên đất.
Các động sản trở thành bất động sản vì mục đích sử dụng chúng: Đó là các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đều được coi là bất động sản. Ví dụ như hệ thống điện được lắp đặt trong tường nhà, hệ thống đường nước trong nhà, bể cá, tủ bày các vật dụng gắn vào hốc tường một cách kiên cố.
Bất động sản do pháp luật quy định: Ngoài những tài sản là bất động sản kể trên, khi cần thiết, bằng các văn bản pháp luật cụ thể, pháp luật có thể quy định những tài sản khác là bất động sản. Điểm d, khoản 1 Điều 174 BLDS đã quy định “…bất động sản có thể còn là các tài sản khác do pháp luật quy định”. Ví dụ quyền sử dụng đất được xác định là bất động sản, đây chính là việc thừa nhận khái niệm quyền có tính chất bất động sản.
+Đất đai: là TLSX quan trọng, có những đặc điểm khác với các TLSX khác. Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, phát triển các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội và an ninh quốc phòng…
Đất đai luôn luôn là vấn đề của mọi thời đại, mọi chế độ kinh tế-xã hội trong lịch sử. Vì vậy mà Hiến pháp 1992 đặc biệt lưu ý đến đất đai như là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý (sở hữu đất đai ở Việt Nam có dạng hết sức đặc biệt ở chỗ đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng thực tế là người dân có quyền sở hữu hạn chế đối với đất đai) , điều này được quy định rõ tại điều 18, Chương II của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”.
-Các hình thức sở hữu hiến định[3]
Nước ta phát triển theo định hướng XHCN. Định hướng đó đòi hỏi làm rõ CNXH cần quan hệ sở hữu gì. Trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” có nêu: “Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu”. Nghĩa là tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về công hữu, còn không chủ yếu có thể thuộc những hình thức sở hữu khác, kể cả sở hữu cá nhân. Thực tiễn đã chứng minh quan điểm có tính chất mở như trên là phù hợp với quy luật khách quan. Trong thời kỳ quá độ, chúng ta chưa thể thiết lập được một chế độ công hữu toàn diện mà phải thừa nhận sự vận động của nền kinh tế thị trường nhiều thành phần kinh tế cùng với sự đa dạng các hình thức sở hữu.
Theo quan điểm pháp luật dân sự thì có rất nhiều hình thức sở hữu khác nhau như sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (Điều 172, chương IV, BLDS 2005) tuy nhiên điều 15 thuộc chương II, chương chế độ kinh tế Hiến pháp 1992 qui định 3 hình thức sở hữu chủ yếu:
"Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nhà nướcthực hiện nhất quán chính sáchphát triển nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.”
Cần phân biệt chế độ sở hữu với các hình thức sở hữu khác theo quan điểm pháp luật dân sự (Điều 172, chương IV, BLDS 2005). Gọi là chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân khi đề cập ở góc độ chính trị-pháp lý. Các hình thức này trong Hiến pháp quy định nên gọi là các hình thức sở hữu hiến định.
Vấn đề phân loại các hình thức sở hữu gợi ra câu hỏi là tại sao và căn cứ vào cái gì để có thể chia sở hữu thành 7 hình thức theo pháp luật dân sự. Hiện nay các nhà làm luật Việt Nam đang đồng thời dựa vào 2 tiêu chí để thực hiện việc phân loại này. Căn cứ thứ nhất là tính chất chính trị (công hay tư) của việc chiếm hữu tài sản. Chính vì căn cứ vào tiêu chí này có thể chia sở hữu thành sở hữu xã hội chủ nghĩa (với hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) và sở hữu phi xã hội chủ nghĩa mà sở hữu tư nhân là đại diện chủ yếu. Căn cứ thứ hai là dựa vào yếu tố ai là người được coi là chủ sở hữu của tài sản. Nếu toàn dân là chủ sở hữu thì có sở hữu toàn dân; nếu hợp tác xã là chủ sở hữu thì có sở hữu tập thể, nếu hai người trở lên cùng sở hữu một tài sản thì có sở hữu chung; nếu một người (cá nhân) sở hữu thì có sở hữu cá nhân và cuối cùng nếu một tổ chức là chủ sở hữu thì có sở hữu của tổ chức đó (sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội…).

1.3. Các hình thức sở hữu hiến định 1.3.1. Sở hữu toàn dân
1.3.1.1. Khái niệm
Sở hữu nhà nước (sở hữu toàn dân ) là sở hữu trong đó toàn thể nhân dân là chủ sở hữu đối với tài sản. Tuy nhiên, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người đại diện cho nhân dân, vì vậy sở hữu toàn dân hay sở hữu nhà nước ở đây có nội hàm tương tự nhau.
Sở hữu nhà nước còn gọi là sở hữu toàn dân vì bản chất giai cấp của Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân lao động. Các kiểu nhà nước bóc lột cũng có sở hữu nhà nước nhưng không thể gọi là sở hữu toàn dân vì bản chất của Nhà nước bóc lột và mục đích sử dụng sở hữu nhà nước có những điểm khác biệt căn bản so với nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở lý luận chung của chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa thì sở hữu toàn dân là loại hình sở hữu mà một cộng đồng các thành viên của xã hội chiếm chung tư liệu sản xuất ở những qui mô khác nhau , liên kết với nhau trong lao động và có địa vị ngang nhau về kinh tế. Việc sử dụng, chi phối tư liệu sản xuất đều phục tùng lợi ích xã hội và khi tư liệu sản xuất thuộc toàn xã hội thì sản xuất hàng hóa và trao đổi hàng hóa sẽ không còn.Trong giai đoạn xã hội chủ nghĩa khi đó thì sản phẩm lao động không còn bị người bóc lột chiếm hữu mà được phân phối theo lợi ích người lao động , dùng cho nhu cầu chung của xã hội.
Sở hữu tư liệu sản xuất trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam :
Sở hữu là một phạm trù kinh tế biểu hiện các quan hệ giữa người với người đối với việc chiếm hữu của cải vật chất, trước hết là đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu. Sở hữu tư liệu sản xuất quy định mục đích của sản xứat, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, phương thức quản lí, phân phối sản phẩm và cơ chế điều tiết chúng. Mỗi phương thức sản xuất có một hình thức sở hữu tư liệu sản xuất đặc trưng.
Trong thời kì quá độ ở Việt Nam có ba loại hình sở hữu cơ bản : sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân ( tư hữu ) mỗi loại hình sở hữu lại có nhiều hình thức sở hữu ở nhiều mức độ chín muồi khác nhau. Các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất tồn tại khách quan, lâu dài và thường đan xen lẫn nhau. Trong một đơn vị sản xuất - kinh doanh có thể có nhiều chủ sở hữu đại diện cho nhiều hình thức sở hữu tư liệu sản xuất. Ví dụ, trong công ti cổ phần bao gồm nhiều cổ đông thuộc loại nhiều loại hình sở hữu khác nhau ( sở hữu công cộng, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân ); trong hợp tác xã, đất đai thuộc sở hữu công cộng, vốn và tư liệu sản xuất có phần thuộc sở hữu tập thể, có phần thuộc sở hữu của hộ xã viên; trong công ty tư nhân, tư liệu sản xuất thuộc sở hữu tư nhân, nhưng đất đai, điện, nước ... thuộc sở hữu công cộng.
Chính sự đa dạng của các loại hình sở hữu và các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất tồn tại đan xen với nhau mà hình thành nhiều thành phần kinh tế, nhiều tổ chức liên doanh, liên kết và các hình thức kinh tế quá độ hết sức phong phú trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trong các hình thức sở hữu trên thì sở hữu công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu là nền tảng, là đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, nhưng nó chỉ có thể được hình thành từng bước từ thấp đến cao và chỉ chiếm ưu thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng xong về cơ bản.

nhà nước
- Chủ thể của sở hữu nhà nước: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đại diện chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân nên trên thực tế Nhà nước là chủ thể duy nhất của sở hữu của sở hữu toàn dân. Các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân được Nhà nước giao vốn, các tư liệu sản xuất, các phương tiện làm việc...để quản lý, sử dụng. Nhà nước không giao cho các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và cá nhân quyền sở hữu mà chỉ giao cho quyền sử dụng. Khi sử dụng không đúng mục đích hoặc trái quy định của pháp luật, Nhà nước có thể chuyển giao quyền sử dụng từ cơ quan, tổ chức này cho cơ quan, tổ chức khác...Tuy nhiên để tài sản thuộc thuộc sở hữu nhà nước được bảo tồn và sử dụng có hiệu quả, Nhà nước quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể cho các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và công dân trong việc sử dụng.

Như vậy, phạm vi khách thể của sở hữu nhà nước rất rộng, có trong tất cả các lĩnh vực: như công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải...Có trong tay phần lớn những tư liệu sản xuất chủ yếu trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, Nhà nước có ưu thế đặc biệt để điều hành nền kinh tế.
Mặt khác, khách thể của sở hữu nhà nước là không hạn chế và ngoài những khách thể nói trên, Nhà nước còn có các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước.
-Đất đai là khách thể đặc biệt của sở hữu nhà nước. Đặc biệt ở chỗ đất đai gắn liền trực tiếp với dân cư và dân cư trực tiếp sử dụng. Theo quy định ở điều 17 Hiến pháp 1992 thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước thống nhất quản lý (điều 18 Hiến pháp 1992). Trên thực tế người dân chỉ có quyền sở hữu hạn chế đối với đất đai, quyền sở hữu theo quan điểm pháp luật dân sự gồm 3 quyền năng: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Cả 3 quyền năng này của người dân đối với đất đai đều bị hạn chế. Người dân chỉ được quyền chiếm hữu, sử dụng nhưng định đoạt thì hạn chế , chẳng hạn trong các trường hợp quy định tại điều 23 Hiến pháp năm 1992 vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường theo thời giá thị trường. Đất đai không được mua bán mà chỉ được chuyển nhượng quyền sử dụng.
1.3.1.3. Thái độ của Nhà nước đối với hình thức sở hữu nhà nước
Trước bối cảnh nền kinh tế thị trường, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề giữ vững định hướng XHCN đặt ra nhiều thử thách. Trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” có nêu: “Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu”. Nghĩa là tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về công hữu, còn không chủ yếu có thể thuộc những hình thức sở hữu khác, kể cả sở hữu cá nhân. Nhà nước ta lấy sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể làm nòng cốt, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể ngày càng phát triển trở thành nền tảng vững chắc các thành phần khác được khuyến khích phát triển.
Nền kinh tế nước ta qua từng thời kì đã phát triển ngày càng đa dạng phong phú, đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
1.3.1.4. Cơ sở pháp lý để hình thành sở hữu nhà nước
Những tài sản thuộc sở hữu nhà nước được hình thành bằng nhiều cách, trên những cơ sở pháp lý khác nhau như:
-Một là bằng con đường tiếp thu những tài sản của Nhà nước, chế độ cũ để lại. Chẳng hạn, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước ta đã tiếp thu những tài sản của Nhà nước thực dân phong kiến (triều đình Huế để lại). Hay sau khi giải phóng miền Nam, Nhà nước ta đã tiếp thu những tài sản của chế độ Mĩ-Ngụy để lại.
-Hai là bằng con đường tịch thu, trưng thu những tài sản của bọn Việt gian, tư sản mại bản, của bọn làm ăn phi pháp hoặc những tài sản mà Nhà nước quy định thuộc quyền sở hữu của Nhà nước như các di sản văn hóa, kim khí, đá quý, nằm trong lòng đất.
-Ba là bằng con đường thu thuế, Nhà nước ban hành các luật thuế để quy định cụ thể các loại thuế, nghĩa vụ nộp thuế và mức độ thu cụ thể đối với từng đối tượng. Thuế là nguồn thu thường xuyên, lớn nhất vào ngân sách hàng năm.
-Bốn là bằng con đường quốc hữu hóa những cơ sở kinh tế của địa chủ, phong kiến và tư sản mại bản cũng như tuyên bố quốc hữu hóa đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu như ruộng đất, sông hồ, hầm mỏ…Nhà nước có được những khách thể nhất định.
-Năm là trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, các hình thức sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể có thể chuyển hóa thành sở hữu nhà nước thông qua các hình thức: công tư hợp doanh, liên doanh…
-Sáu là con đường tích lũy trên cơ sở bảo toàn vốn, nâng cao năng suất, chất lượng lao động, làm ăn có lãi, bảo đảm đời số g của công nhân và có tích lũy cho Nhà nước đối với các đơn vị kinh tế nhà nước…
-Bảy là bằng sự giúp đỡ không hoàn lại của các nước, các tổ chức, cá nhân trong nước và trên thế giới…
Tài sản thuộc sở hữu nhà nước là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, là thành quả của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, Nhà nước ta quy định: “Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi ích công cộng” (điều 78 Hiến pháp năm 1992). Bộ luật hình sự cũng như các văn bản pháp luật khác có những quy định cụ thể để bảo vệ sở hữu nhà nước. Thực tế trong những năm qua do chưa phân công trách nhiệm, phân ấp quản lý rõ ràng nên tài sản thuộc sở hữu nhà nước bị xúc phạm nghiêm trọng dưới nhiều hình thức như: Tham ô, lãng phí, trộm cắp, lừa đảo, hủy hoại…Để khắc phục những hiện tượng trên, bảo toàn và mở rộng phạm vi của sở hữu nhà nước, một mặt Nhà nước phải tăng cường giáo dục, thuyết phục, mặt khác phải kiên quyết áp dụng các biện pháp pháp luật; khắc phục tình trạng sơ hở trong việc ban hành văn bản pháp luật cũng như trong quản lý kinh tế. Hiện nay trong công cuộc đổi mới, sở hữu nhà nước đang điều chỉnh theo hai hướng.
+Một là xác định những khu vực, đơn vị được coi là then chốt, chủ yếu nhất như là các cơ sở công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo máy, công nghiệp hóa chất, giao thông, vận tải… phải củng cố và mở rộng sở hữu nhà nước. Mặt khác, phải thu hẹp sở hữu nhà nước ở những ngành, những lĩnh vực, đơn vị kinh tế làm ăn kém hiệu quả hoặc chưa thực sự cần thiết dưới nhiều hình thức như: chuyển quyền sở hữu, bán đấu thầu, chuyển thành công ty cổ phần…
+Hai là thực hiện phân cấp quản lý tài sản thuộc sở hữu nhà nước nhằm mục đích bảo toàn và phát triển số tài sản này. Thực hiện chủ trương đó, trong những năm qua chúng ta đã tiến hành rộng rãi việc giao vốn cho các đơn vị kinh tế quốc doanh, trên cơ sở đó tăng cường trách nhiệm trong việc sử dụng vốn của các đơn vị kinh tế quốc doanh. Còn đối với ruộng đất là sở hữu nhà nước cũng được quy định quyền sử dụng ổn định và lâu dài đối với cá nhân và tập thể được giao. Chế độ giao vốn, ruộng đất cũng như tài sản khác của Nhà nước cho chủ thể sử dụng sẽ loại bỏ dần tình trạng vô trách nhiệm đối với sở hữu nhà nước, bảo đảm hiệu quả kinh tế thực sự chứ không phải biến quá trình sản xuất thành quá trình ăn mòn sở hữu nhà nước với mỗi xí nghiệp, chủ thể sử dụng. Để tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động nói trên Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục và các biện pháp thực hiện như: Nghị định số 80/2005/NĐ-CP của Chính phủ về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê công ti nhà nước; Nghị định số 132/2005/TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước…
1.3.2. Sở hữu tập thể 1.3.2.1. Khái niệm
Là sở hữu của hợp tác xã hoặc các hình thức kinh tế tập thể ổn định khác do cá nhân, hộ gia đình cùng góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục đích chung được quy định trong điều lệ, theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng quản lý và cùng hưởng lợi. Tài sản thuộc sở hữu tập thể là tài sản hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên, thu nhập hợp pháp do sản xuất, kinh doanh, được nhà nước hỗ trợ hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của luật pháp (Điều 218 - Bộ luật dân sự). Tài sản thuộc sở hữu tập thể giao cho các thành viên khai thác công dụng bằng sức lao động của mình trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm phục vụ cho nhu cầu mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế chung và lợi ích, nhu cầu của các thành viên. Tài sản thuộc sở hữu toàn dân mà kinh tế tập thể được giao cho quản lý, sử dụng, khai thác thì vẫn thuộc sở hữu toàn dân. Kinh tế tập thể chỉ có quyền quản lý, sử dụng khai thác mà không có quyền định đoạt đối với tài sản đó[4].
* SỞ HỮU TẬP THỂ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA :
Sở hữu công cộng của tập thể những người lao động đối với tư liệu sản xuất trong xã hội xã hội chủ nghĩa, họ tự nguyện liên hiệp lại thành lập các loại hình hợp tác xã khác nhau do tập thể xã viên làm chủ. Tư liệu sản xuất và sản phẩm làm ra đều thuộc quyền sở hữu công cộng của hợp tác xã. Sản phẩm làm ra được phân phối theo số lượng và chất lượng lao động của xã viên tham gia trong quá trình sản xuất. Về bản chất kinh tế - xã hội, sở hữu tập thể thuộc loại hình quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, nhưng căn cứ vào trình độ xã hội hoá sản xuất và phân phối thì sở hữu tập thể còn ở trình độ thấp so với sở hữu toàn dân. Cùng với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất, trình độ xã hội hoá tập thể từng bước được nâng lên, đưa chế độ sở hữu tập thể tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa. Quy mô, hình thức và bước đi của sở hữu tập thể phụ thuộc vào yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Vì vậy, trình độ và hình thức của SHTTXHCN đi từ hợp tác giản đơn đến phức tạp, từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn, từ trình độ thấp đến trình độ cao. Một chế độ kinh tế tiến bộ nào mới xuất hiện cũng đều cần có sự giúp đỡ về mọi mặt của chính quyền. Bởi vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải hướng dẫn, hỗ trợ chế độ sở hữu tập thể phát triển, phát huy được ưu thế về kinh tế, xã hội và vai trò lịch sử của nó.

nhà nước
-Chủ thể của sở hữu tập thể là các hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã mua bán, hợp tác xã thủ công nghiệp, tập đoàn sản xuất...
). Hiện nay quá trình đổi mới hợp tác xã đang gắn liền với việc hoàn thiện quyền tự chủ của các xã viên. Cùng với quá trình củng cố hợp tác xã, bản thân mỗi hợp tác xã với tư cách là chủ thể của sở hữu tập thể cũng biến đổi về quy mô từ nhiều hợp tác xã nhỏ thành một hợp tác xã lớn và ngược lại.[/COLOR]
-Khách thể của sở hữu tập thể bao gồm vốn, những tư liệu sản xuất (trâu, bò, nông cụ, máy móc, nhà xưởng...) và những tư liệu dùng trong sinh hoạt (nhà ở, câu lạc bộ, bàn ghế, phương tiện đi lại...) So với sở hữu nhà nước, phạm vi khách thể của sở hữu tập thể bị hạn chế. Những tư liệu sản xuất chủ yếu như ruộng đất, hầm mỏ, sông hồ... không thể là khách thể của sở hữu tập thể. Đối với những tập thể mà hoạt động chủ yếu là sản xuất kinh doanh (như các hợp tác xã) không chỉ mua sắm thêm các trang thiết bị dùng trong sinh hoạt. Còn những tập thể mà hoạt động chủ yếu không phải là sản xuất kinh doanh (như các cơ quan hành chính sự nghiệp, các tổ chức công đoàn, đoàn...) cũng mở rộng phạm vi khách thể của mình, mua sắm các thiết bị sản xuất kinh doanh. Như vậy, ngoài tư liệu sản xuất chủ yếu là khách thể duy nhất của sở hữu nhà nước, phạm vi khách thể của sở hữu tập thể ngày càng được mở rộng, phát triển.
1.3.2.3. Thái độ của Nhà nước đối với hình thức sở hữu tập thể
Nhà nước ta theo định hướng XHCN lấy hai hình thức sở hữu làm nòng cốt là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể ngày càng phát triển trở thành nền tảng vững chắc cùng với sự khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế khác. Điều này được thể hiện rõ trong điều 15 Hiến pháp 1992: "Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nhà nướcthực hiện nhất quán chính sáchphát triển nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.”
Tại điều 25 Hiến pháp 1992 có quy định: “Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hóa.
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước”. Ở đây có đề cập đến tổ chức nước ngoài tuy nhiên theo quan điểm của chúng tôi đây là một dạng đặc biệt của sở hữu tập thể, có quyền sở hữu theo luật định hạn chế hơn so với hình thức sở hữu tập thể của các tổ chức trong nước.
1.3.2.4. Cơ sở pháp lý để hình thành sở hữu tập thể
- Hiến Pháp năm 1946: Là Sở hữu nhà nước (sở hữu toàn dân), là loại hình sở hữu mà một cộng đồng các thành viên của xã hội chiếm chung tư liệu sản xuất ở những qui mô khác nhau, liên kết với nhau trong lao động và có địa vị ngang nhau về kinh tế. Việc sử dụng, chi phối tơ liệu sản xuất đều phục tùng lợi ích xã hội à khi tư liệu SX thuộc toàn xã hội thì SXHH và Trao đổi HH sẽ không còn.Trong giai đoạn XHCN khi đó thì sản phẩm lao động không còn bị người bóc lột chiếm hữu mà được phân phối theo lợi ích ngơời lao động , dùng cho nhu cầu chung của XH.

- Hiến pháp năm 1959: Trước đây Nhà nước chủ trương thực hiện nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần là kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động. Hiện nay Nhà nước chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trương có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN để dần dần xoá bỏ kinh tế tự cung tự cấp kém phát triển giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế . Thực tế trong những năm qua đó đã chứng minh chủ trương đó là phù hợp thúc đẩy sản xuất phát triển hạn chế tình trạng khủng hoảng thiếu. Hiến pháp qui định sự tồn tại và phát triển lâu dài của các loại hình kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể . Các hình thức sở hữu là hình thức sở hữu nhà nước (toàn dân), hình thức sở hữu hợp tác xã (tập thể), hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc.
điều 9 HP qui định: Nước VNDCCH tiến dần từ chế độ DCND lên CNXH bằng cách phát triển và cải tạo nền KTQD theo CNXH biến nền KT lạc hậu thành một nền KT XHCN với Công nghiệp và Nông nghiệp hiện đại, KH và Kĩ thuật tiên tiến.
Điều 11: KT HTX thuộc hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động. NN đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ sự phát triển của KT HTX.

- HP 1980 : Nhà nước ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp trong cả nước thành một cơ cấu công - nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với thiết lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan hệ hợp tác, tương trợ với các nước anh em trong Cộng đồng xã hội chủ nghĩa theo tinh thần chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi.
Điều 17: Nhà nước quy định chế độ và thi hành những biện pháp cần thiết bảo đảm cho nhân dân lao động sử dụng đầy đủ quyền làm chủ tập thể về tư liệu sản xuất và lực lượng lao động, về sản xuất và phân phối, về khoa học và kỹ thuật, làm cho sự nghiệp phát triển kinh tế thật sự là sự nghiệp của toàn dân.
Điều 18: Nhà nước tiến hành cách mạng về quan hệ sản xuất, hướng dẫn, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, thiết lập và củng cố chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động. Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và được phát triển ưu tiên.
Điều 23 :Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ kinh tế hợp tác xã phát triển.Tài sản của hợp tác xã và các tổ chức tập thể khác của nhân dân lao động được Nhà nước bảo vệ theo pháp luật.Hợp tác xã kinh doanh theo phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch của cả nước và của địa phương, bảo đảm không ngừng phát triển sản xuất và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của xã viên, làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước, đồng thời tăng tích luỹ cho hợp tác xã. Quyền làm chủ tập thể của xã viên trong việc quản lý hợp tác xã phải được tôn trọng và phát huy.Kinh tế phụ gia đình xã viên được Nhà nước thừa nhận và bảo hộ theo pháp luật.
Điều 24 :Nhà nước khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ nông dân cá thể, người làm nghề thủ công và những người lao động riêng lẻ khác tiến lên con đường làm ăn tập thể, tổ chức hợp tác xã sản xuất và các hình thức hợp tác, tương trợ khác theo nguyên tắc tự nguyện. Những người buôn bán nhỏ được hướng dẫn và giúp đỡ chuyển dần sang sản xuất hoặc làm những nghề thích hợp khác. Pháp luật quy định phạm vi được phép lao động riêng lẻ trong các lĩnh vực nông nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, mỹ nghệ, dịch vụ.
Điều 30 :Nhà nước giáo dục và vận động toàn dân cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội; quy định và kiểm tra chặt chẽ việc sử dụng lực lượng lao động, vật tư và tiền vốn trong mọi hoạt động kinh tế và quản lý Nhà nước.
Điều 31 : Nhà nước và các tổ chức kinh tế tập thể áp dụng nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao động, đồng thời tăng dần phúc lợi xã hội theo trình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Điều 33 : Nhà nước lãnh đạo nền kinh tế quốc dân theo kế hoạch thống nhất; đề cao tinh thần trách nhiệm, phát huy tính chủ động và tính sáng tạo của các cấp, các ngành, các đơn vị cơ sở và cá nhân, để xây dựng và thực hiện kế hoạch Nhà nước; huy động mọi lực lượng lao động, tài nguyên thiên nhiên và cơ sở vật chất - kỹ thuật của đất nước, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân phát triển toàn diện, cân đối, vững chắc, với nhịp độ nhanh và hiệu quả cao.
Điều 34 :Nhà nước tổ chức nền sản xuất xã hội theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; xây dựng và hoàn thiện không ngừng hệ thống quản lý kinh tế; vận dụng đúng đắn các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội; áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ; kết hợp lợi ích của Nhà nước, của tập thể và của người lao động; xây dựng và bảo đảm tôn trọng pháp luật kinh tế.

- Hiến Pháp năm 1992: Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể làm nền tảng. Các thành phần kinh tế : kinh tế quốc doanh , kinh tế tập thể , kinh tế cá thể , kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Tóm lại, sở hữu tập thể được hình thành bằng nhiều cách, trên những cơ sở pháp lý khác nhau như:
-Sở hữu tập thể được hình thành trước hết bằng cách đóng góp tự nguyện của các thành viên trong tổ chức như vốn, trâu, bò, nông cụ, nhà xưởng, máy móc…
-Sở hữu tập thể được hình thành bằng cách nâng cao hiệu quả kinh tế trong quá trình sản xuất, kinh doanh, để có tích lũy, mở rộng sản xuất.
-Sở hữu tập thể được hình thành bổ sung nhờ sự giúp đỡ của Nhà nước cũng như các tổ chức khác, cá nhân trong và ngoài nước. Cùng với việc đổi mới hệ thống chính trị của xã hội cũng như sự phát triển của nền kinh tế, Nhà nước ngày càng chú trọng giúp đỡ cơ sở vật chất, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức xã hội hoạt động có hiệu quả.
Cùng với sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể hợp thành cơ sở của nền kinh tế quốc dân được Nhà nước bảo hộ. 
1.3.3. Sở hữu tư nhân
1.3.3.1.Khái niệm:
Sở hữu tư nhân: là một người hay một nhóm người được sở hữu tài sản do sức lao động của cá nhân, các hộ cá thể, xí nghiệp tư doanh có quyền được hưởng những thành quả lao động do chính mình làm ra hoặc sở hữu tư nhân còn thong qua con đường thừa kế. Cụ thể tại điều 58 Hiến pháp 1992 có nói rõ về quyền của công dân được sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác (ngoại trừ đất đai không thuộc sở hữu tư nhân).
Định nghĩa:

1.3.3.2.Sự ra đời của sở hữu tư nhân:
Sở hữu tư nhân ở các nước Phương Tây
Vào cuối những năm 70 và đầu những năm 80, các nước Tây Âu đã khởi động quá trình tư hữu hóa. Vào thời điểm này, khu vực kinh tế nhà nước hoạt động đã giảm hiệu quả. Các xí nghiệp nhà nước có tiếng là “thành trì cổ xưa”, là “những con voi một ngà nặng cân và khan hiếm” cũng bị đình trệ về mặt sản xuất do tập trung hóa cao độ và tệ nạn quan liêu. Tất cả điều này dù muốn hay không cũng đã phá vỡ các quy luật thị trường và kìm hãm tinh thần chủ động kinh doanh của các tập thể và cá nhân.
Bắt đầu từ chính phủ bảo thủ của M. Thatchez ở Anh và sau đó là các chính phủ Pháp, Bỉ, Italia, Tây Đức, Hà Lan cũng như các chính phủ do những người xã hội dân chủ lãnh đạo ở Tây Ban Nha, Áo và Thụy Điển đã tuyên bố bắt tay vào tư hữu hóa một phần khu vực kinh tế nhà nước. Ở các quốc gia Đông Âu và SNG, vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX cũng diễn ra quá trình cùng một ý nghĩa có tên gọi là phi nhà nước hóa và tư nhân hóavới tất cả tính phức tạp của chúng.
Như vậy, cùng với tiến trình phát triển của xã hội thì “Sở hữu tư nhân” là một điều tất yếu, sự phân công lao động đã làm xuất hiện chế độ tư hữu; “ý thức về người chủ, người sở hữu” hay nói cách khác đi là nhận thức lại sở hữu tư nhân và vận dụng kinh tế tư nhân một cách hợp lý là tạo động lực cho nền kinh tế.
Sở hữu tư nhân ở Việt Nam
Nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ là phổ biến, lại trải qua chiến tranh lâu dài. Do đó, sự phát triển của lực lượng sản xuất rất không đều nhau giữa các vùng, ngành kinh tế của đất nước ; giữa miền xuôi với miền ngược ; giữa thành thị với nông thôn sự phát triển của lực lượng sản xuất không đều nhau. Chính vì thế, đòi hỏi phải có các hình thức sở hữu tương ứng, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở từng vùng, miền và từng ngành kinh tế khác nhau. Điều đó cũng có nghĩa là, với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay, chưa thể đơn nhất hoá, mà đa dạng hình thức sở hữu tư liệu sản xuất trở thành tất yếu khách quan.
Trước đổi mới, nền kinh tế nước ta, chỉ tồn tại hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Sự vượt trước của quan hệ sản xuất, trong khi tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất chưa cho phép, đã kìm hãm sự phát triển của sản xuất xã hội. Đất nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã mở ra thời kỳ mới cho đất nước bằng sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế xã hội. Thực hiện nhất quán đường lối đa dạng hoá hình thức sở hữu, trong đó có sự ra đời của hình thức “Sở hữu tư nhân”, nền kinh tế nước ta từng bước thoát ra khỏi khủng hoảng và hiện nay đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
“Sở hữu tư nhân” trong các bản Hiến Pháp từ trước đến nay.
Việc đưa hình thức sở hữu tư nhân vào là một điểm tiến bộ của bản Hiến Pháp năm 1992 (HP 1980 không có hình thức sở hữu tư nhân, trong quyền của công dân cũng không nói rõ các tài sản mà công dân được quyền sở hữu)
Các Hiến Pháp trước đó chưa có Hiến Pháp nào quy định cụ thể là hình thức sở hữu tư nhân (Hiến pháp 1958 có đề cập đến sở hữu của người lao động riêng lẻ và sở hữu của các nhà tư sản dân tộc – chưa mở rộng như Hiến pháp 1992)
Các Hiến Pháp trước đây công nhận sở hữu chủ yếu về tiền mặt, hiện vật, thì nay đã chuyển sang sở hữu về giá trị tài sản, sở hữu Tư liệu sản xuất. Điều này làm nền tảng cho hình thức kinh tế tư nhân phát triển, tiến tới một nền kinh tế thị trường phong phú và phát triển mạnh mẽ.
Bản Hiến pháp 1992 quy định về hình thức sở hữu tư nhân đã cho thấy đầy đủ tính chất phát triển của đất nước, kinh tế nước nhà đang bước vào nền kinh tế thị trường nên sở hữu tư nhân là điều cần thiết để đảm bảo quyền cho cá nhân và doanh nghiệp. Đây là một điểm tiến bộ của Hiến pháp 1992.
1.3.3.3.Ý nghĩa:
Bản thân tiến trình ra đời của hình thức sở hữu tư nhân cũng đã cho ta thấy đầy đủ ý nghĩa của nó. Ý thức của con người về sở hữu (tư hữu) làm cho từng cá nhân thấy được tầm quan trọng của mình trong việc phát triển nền kinh tế, tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh tế - xã hội. Việc ý thức về người chủ, về người sở hữu đã kích thích sự quan tâm thường xuyên của họ tới việc tạo ra của cải vật chất và bảo vệ thành quả lao động. Trước đây, trong thời bao cấp kinh tế Hợp tác xã phát triển người ta hờ hững với những tài sản chung và tỏ ra vô trách nhiệm vì tư tưởng cào bằng ai cũng như ai không cần có sự cố gắng của cá nhân.
“Sở hữu tư nhân” nghĩa là vai trò cá nhân được công nhận sẽ kích thích người ta sáng tạo phát minh ra những cái mới để làm phát triển cuộc sống của chính mình cũng là làm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm từ đó mà nền kinh tế phát triển. Đồng thời cũng là tiến tới mục đích cao nhất của xã hội là nâng cao chất lượng đời sống của người dân.
Nhưng “ sở hữu tư nhân” cũng có những mặt hạn chế của nó mà cần phải kiểm soát và giảm bớt lại. Thứ nhất, khi thể chế yếu kém và có tình trạng thông tin bất cân xứng (điều này luôn xảy ra, nhất là tại các thị trường tài chính mới nổi), Chính phủ có thể phân bổ nguồn vốn hiệu quả cao hơn tư nhân.
Thứ hai, vấn đề độc quyền. Người ta quan ngại rằng, thông qua sở hữu tư nhân, việc tích tụ tư bản quá mức trong tay một số ngân hàng lớn với vị thế siêu quyền lực (độc quyền) có thể hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng của nhiều bộ phận trong xã hội
Khi sở hữu tư nhân không được kiểm soát thì dẫn đến tình trạng mất cân bằng trong xã hội, một bộ phận người chiếm hữu được tư liệu sản xuất sẽ giàu lên nhanh chóng và sẽ quay lại dùng đồng tiền để thuê người phục vụ cho công việc của mình họ trở thành những ông chủ giàu có bóc lột sức lao động của người làm thuê và càng trở nên giàu có. Chênh lệch giữa giàu và nghèo trong xã hội càng gia tăng. Chính sách đóng thuế thu nhập cá nhân chính là một trong những hình thức điều tiết xã hội để cân bằng xã hội.

1.3.3.2. Chủ thể và khách thể của hình thức sở hữu tư nhân
-Chủ thể của sở hữu tư nhân
Chủ thể của sở hữu tư nhân là từng cá nhân công dân. Như vậy phạm vi chủ thể của hình thức sở hữu này cũng rất rộng.
-Khách thể của sở hữu tư nhân:

Điều 17 “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”
Điều 18 “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”
 Sở hữu cá nhân với tư cách là một hình thức sở hữu đã từng tồn tại trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây đã không được nhắc lại trong BLDS và điều đó đồng nghĩa với việc có lẽ nó đã không được thừa nhận về mặt pháp lý.
Ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể tương ứng với từng bản Hiến pháp, vấn đề về sở hữu nói chung và sở hữu tư nhân nói riêng được nhìn nhận và đánh giá không giống nhau. Tuy nhiên cuối cùng vai trò của nó đã được thừa nhận và được đảm bảo thực hiện bằng văn bản pháp luật có giá trị cao nhất đó là Hiến pháp.HP 1959 lần đầu tiên nhà nước đề cập đến sở hữu tư nhân và thừa nhận nó dưới dạng:
-Hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ
-Hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc.
qui định tại Điều 11Ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong thời kỳ quá độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là: hình thức sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân, hình thức sở hữu của hợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc.”

HP 1959 đã đề cập và giải thích chi tiết sở hữu tư nhân bao gồm những thành phần nào và tất cả đều được nhà nước bảo hộ bình đẳng như nhau. Tại các Điều 14, 15, 16, 18, nhà nước thể hiện sự quan tâm đến các hình thức sở hữu của nhiều tầng lớp trong xã hội, trong đó có tầng lớp nông dân (Điều 14), những người làm nghề thủ công, những người lao động riêng lẻ (Điều 15), các nhà tư sản dân tộc (Điều 16). Đồng thời Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở các thứ vật dụng riêng khác. (Điều 18)

Tuy nhiên đến HP 1980 sở hữu tư nhân đã không được thừa nhận sự tồn tại trong nền kinh tế, nhà nước với mục tiêu tiến hành cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất, cải tạo các thành phần kinh tế phi XHCN, đã thiết lập chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể, trong đó sở hữu toàn dân được chú trọng. (Điều 18)

Ngoài tất cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, công trình công cộng v.v… nhà nước còn trưng thu toàn bộ tài sản của giai cấp địa chủ phong kiến và tư sản mại bản (Điều 25) đưa vào sở hữu toàn dân. Và nhà nước chỉ bảo vệ tài sản của công dân với điều kiện “được phép lao động riêng lẻ” (Điều 27)

Đến giai đoạn này ta thấy có một sự thay đổi rõ rệt trong đường lối của nhà nước, với nôn nóng xây dựng XHCN ở miền Bắc làm nền tảng kinh tế, là hũ gạo để nuôi sống miền Nam trong cuộc trường kỳ kháng chiến, các nhà lãnh đạo đã tư duy sai lầm khi lựa chọn nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung làm cơ sở để thực hiện chiến lược của mình. Việc quá coi trọng sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể không thừa nhận bộ phận sở hữu tư nhân đã đưa đất nước ta vào giai đoạn “đêm đen”, nhà nước sản xuất mọi thứ và bao tiêu mọi thứ với giá cả bất hợp lý, thị trường không tồn tại, chỉ có tem, phiếu và mọi công dân phải xếp hàng để được nhận những mặt hàng không những không phù hợp với nhu cầu mà còn kém chất lượng, thậm chí không thể sử dụng. Tiêu chí làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu thể hiện sự bất hợp lý, nó tiêu diệt động lực lao động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận của các cá nhân, thành phần kinh tế tư nhân không được thừa nhận cho nên phải hoạt động lén lút cầm chừng, không tự do buôn bán, không thương mại, không xuất nhập khẩu, nền kinh tế không có động lực để phát triển và ngày càng suy yếu. HP 1980 đã góp phần đưa đất nước lùi một khoảng dài hàng chục năm so với thời cuộc.

Tuy nhiên nhà nước đã nhận ra và sửa chữa sai lầm của mình bằng công cuộc đổi mới toàn diện 1986. Trên cơ sở đó HP 1992 ra đời sau đó được sửa đổi bổ sung đã khắc phục nhiều nhược điểm của HP 1980 trong đó quan trọng nhà nướcthực hiện nhất quán chính sáchphát triển nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. (Điều 15)

Việc nhà nước thừa nhận trở lại sở hữu tư nhân cho thấy nhìn nhận đúng đắn về vai trò của các thành phần kinh tế: “Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (Điều 16). Trên tinh thần đó nhà nước cam kết bằng Hiến pháp bảo vệ tài sản hợp pháp của mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội (Điều 23), kể cả các cá nhân và tổ chức nước ngoài (Điều 25). Đây là điểm tiến bộ của Hiến pháp 1992 (sửa đổi bỏ sung 2001) so với tất cả các bản Hiến pháp trước đó, thể hiện kỹ thuật lập hiến của Việt Nam ngày càng được nâng cao.
Năm 1946, cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công giành lại chủ quyền cho dân tộc, nền tự do cho nhân dân và lần đầu tiên thiết lập một nhà nước Dân chủ cộng hòa trên lãnh thổ Việt Nam, Hiến pháp 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nước ta được xây dựng với nguyên tắc chủ đạo là: “Đoàn kết toàn dân,… đảm bảo các quyền tự do dân chủ” của nhân dân. Với kĩ thuật lập pháp còn khá thô sơ, Hiến pháp 46 chỉ vỏn vẹn 70 điều quy định những vấn đề cơ bản nhất nhằm thiết lập một chế độ chính trị sơ khai sau chiến tranh. Tuy nhiên, Hiến pháp 1946 cũng dành riêng một điều để ghi nhận về quyền sở hữu. Cụ thể, điều thứ 12 Hiến pháp này quy định: “Quyền tư hữu tài sản của công dân được đảm bảo”, không có thêm bất cứ quy định nào khác liên quan đến vấn đề sở hữu trong Hiến pháp này. Tuy nhiên, có thể nhận thấy, nhà nước ta trong giai đoạn này vẫn chủ trương về hình thức sở hữu đa thành phần, hình thức sở hữu tư nhân vẫn được nhà nước bảo vệ, có thể nói, trong giai đoạn này quyền sở hữu là quyền hiến định của công dân.
Năm 1959, Cách mạng Việt Nam chuyển sang một hình thể mới. Xây dựng miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam đề hoà bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Trong giai đoạn mới của cách mạng, Quốc hội ta cần sửa đổi bản Hiến pháp năm 1946 cho thích hợp với tình hình và nhiệm vụ mới – đó là lí do Hiến pháp 1959 ra đời. Xuất phát từ tình hình mới đó, chế định sở hữu trong Hiến pháp này cũng có những chuyển biến nhất dịnh phù hợp với tình hình mới. Vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 11 Hiến pháp 1959: “Ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong thời kỳ quá độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là: hình thức sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân, hình thức sở hữu của hợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc.” Khác với Hiến pháp 1946, các quy định về sở hữu được quy định ở Hiến pháp 1959 được quy định cụ thể hơn rất nhiều. Chẳng hạn, Điều 12 quy định về hình thức sở hữu toàn dân, Điều 13 quy định về hình thức sở hữu của hợp tác xã, Điều 14 quy định về hình thức sở hữu ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân, Điều 15 quy định về quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của những người làm nghề thủ công và những người lao động riêng lẻ khác, Điều 16 quy định về quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của nhà nước tư sản dân tộc,… Ngoài ra, Hiến pháp còn nhiều quy định khác quy định về quyền sở hữu và bảo hộ quyền sở hữu của các nhóm chủ thể khác nhau. Nhìn chung, trong giai đoạn này đã có sự chuyển biến đáng kể trong chế định sở hữu, cụ thể, vẫn tồn tại đủ các hình thức sở hữu nhưng đã có sự thay đổi trong vai trò của chúng. Như được khẳng định tại Điều 11 Hiến pháp 1959, đây là một giai đoạn “quá độ” của quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội, chính vì vậy, nhà nước vẫn tạm thời chấp nhận chế độ sở hữu tư nhân, tư bản tư nhân những ở mức độ hạn chế hơn, không khuyến khích. Bên cạnh đó, đưa ra định hướng cải tạo dần thành phần sở hữu tư nhân, cụ thể, Điều 16 Hiến pháp 1959 quy đinh: “Nhà nước ra sức hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh, góp phần phát triển kinh tế quốc dân phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước. Nhà nước khuyến khích và hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc đi theo con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác”.
Trải qua hai cuộc chiến tranh lớn, thống nhất nước nhà, tâm lí hăm hở xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, sớm thiết lập chế độ cộng sản đã trở thành tư tưởng chủ đạo khi xây dựng Hiến pháp 1980, dường như lúc này không ai quan tâm nhiều đến hoàn cảnh khó khăn thực tiễn hay tương quan với những thế lực bên ngoài của nền kinh tế Việt Nam. Hiến pháp 1980 thiết lập một chế độ sở hữu hoàn toàn mới, đoạn tuyệt hẳn với chế độ sở hữu tư bản tư nhân. Cụ thể, Điều 18 Hiến pháp 1980 quy định: “Nhà nước tiến hành cách mạng về quan hệ sản xuất, hướng dẫn, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, thiết lập và củng cố chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động. Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và được phát triển ưu tiên.”Đồng thời, “tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa ở thành thị và nông thôn bằng những hình thức thích hợp”, và trong Hiến pháp này cũng không có bất cứ điều luật nào khác quy định về vấn đề bảo vệ quyền sở hữu của công dân, quyền mà nhiều quốc gia trên thế giới được xem là “quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm”. Cho đến nay, khi nhắc đến giai đoạn này, chúng ta đều cho rằng đó là một sai lầm, là một giai đoạn mông muội. Sự nôn nóng về việc xây dựng một chế độ sơt hữu toàn dân khiến cho chúng ta không đủ minh mẫn để suy xét, sự không tương thích giữa cơ sở hạ tầng và chế độ sở hữu mới làm cho toàn nền kinh tế rơi vào tình trạng suy sụp nhanh chóng. Những hậu quả của nó cho đến nay vẫn chưa có khả năng khắc phục hoàn toàn. Việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân trong giai đoạn này như một sự cưỡng bức với nền kinh tế, đốt cháy động lực của sự phát triển. Nhận thức được sai lầm này, Đại hội Đảng lần thứ 6 vào cuối năm 1986 đã quyết định chấm dứt tình trạng này. Tuy nhiên, mãi đến năm 1992, Hiến pháp mới được sửa đổi, trong giai đoạn từ đó cho đến khi Hiến pháp mới ra đời, chúng ta đã tạm thời chấp nhận tình trạng “vi hiến”.
Hiến pháp 1992 ra đời đánh dấu những thay đổi sâu sắc trong tư duy và chiến lược phát trển kinh tế và cả đường hướng chính trị của nhà nước ta. Nếu như trước đây kinh tế thị trường được xem là sự thối rữa của các nhà nước tư bản thì nay chúng ta xác định, chúng là hình thái kinh tế bắt buộc cần thiết trong giai đoạn quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Thiết lập nền kinh tế thị trường đồng nghĩa với việc chấp nhận sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu, đặc biệt là sở hữu tư bản tư nhân. Điều này được thể hiện khá cụ thể trong Điều 15 Hiến pháp 1992: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng”. Tuy nhiên, hình thức sở hữu tập thể và nhà nước vẫn đồng thời được khuyến khích: “Kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển, nhất là trong những ngành và lĩnh vực then chốt, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân…Kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi. Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả”.Đồng thời, Hiến pháp cũng quy định về việc bảo hộ quyền sở hữu của tổ chức cá nhân (Điều 23). Qua hơn 17 năm vận hành, nhìn vào những chuyển biến của nền kinh tế Việt Nam có thể thấy chế định sở hữu trong Hiến pháp 1992 là một quyết định đúng đắn, phù hợp với trình độ hiện thời của Việt Nam.
Nếu nhìn vào những thay đổi trong chính sách cũng như trong các văn bản pháp luật của nhà nước ta trong giai đoạn gần đây, chúng ta cũng có thể thấy những thay đổi trong vai trò của các hình thức sở hữu thuộc các thành phần kinh tế nước ta hiện nay. Trong giai đoạn trước mắt, sở hữu tư bản tư nhân ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn đối với nền kinh tế. Đây không phải là sự thay đổi định hướng xã hội chủ nghĩa mà là sự thay đổi để phù hợp với cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn quá độ. Chính vì vậy, nhà nước càng cần phải nâng cao vai trò quản lí của mình, điều kiển và vận hành bằng các phương tiện vĩ mô hơn, đảm bảo sự phát triển đúng hướng, kiên định định hướng xã hội chủ nghĩa của nhà nước Việt Nam.

Triết học Mác Lê – nin đã khẳng định, cơ sở hạ tầng chính là yếu tố quyết định kiến trúc thượng tầng của một xã hội, và vì thế chế độ sở hữu của một nền kinh tế luôn là yếu tố tiên quyết quyết định đến bản chất của mọi nhà nước. Chính vì vậy, điều này luôn được ghi nhận trong văn bản pháp lí cao nhất của mỗi nhà nước – Hiến pháp. Lịch sử lập hiến của nước ta đã trải qua 4 bản Hiến pháp: Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, và Hiến pháp 1992 (sẽ được sử đổi, bổ sung trong thời gian không xa), cùng với sự thay đổi đó là những thăng trầm của đấu tranh giành độc lập dân tộc và tìm kiếm một hướng đi phù hợp cho một nhà nước dân chủ.
Pháp luật là một hiện thượng thuộc kiến trúc thượng tầng, tuy nhiên, nó cũng là sản phẩm của giai cấp, chính vì vậy, sự thay đổi của nó vừa thể hiện những biến động trong thực tiễn xã hội và đồng thời cả ý chí, tư tưởng của giai cấp thống trị qua các giai đoạn lịch sử. Lượt lại sự thay đổi của chế định sở hữu quan 4 bảng Hiến pháp sẽ cho ta thấy rõ những điều này. Có lẽ cũng là cơ hội cho việc nhìn nhận lại bài học lập pháp đáng giá mà chúng ta không thể không ghi nhớ.
Năm 1946, cuộc Cách mạng Tháng tám thành công giành lại chủ quyền cho dân tộc, nền tự do cho nhân dân và lần đầu tiên thiết lập một nhà nước Dân chủ cộng hòa trên lãnh thổ Việt Nam, Hiến pháp 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nước ta được xây dựng với nguyên tắc chủ đạo là: “Đoàn kết toàn dân,… đảm bảo các quyền tự do dân chủ” của nhân dân. Với kĩ thuật lập pháp còn khá thô sơ, Hiến pháp 46 chỉ vỏn vẹn 70 điều quy định những vấn đề cơ bản nhất nhằm thiết lập một chế độ chính trị sơ khai sau chiến tranh. Tuy nhiên, Hiến pháp 1946 cũng dành riêng một điều để ghi nhận về quyền sở hữu. Cụ thể, điều thứ 12 Hiến pháp này quy định: “Quyền tư hữu tài sản của công dân được đảm bảo”, không có thêm bất cứ quy định nào khác liên quan đến vấn đề sở hữu trong Hiến pháp này. Sự sơ sài của các quy định này chủ yếu là do hoàn cảnh khách quan trong thời điểm ra đời của Hiến pháp, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vừa mới ra đời, chưa thoát hẳn khỏi sự đe dọa của các thế lực thù địch, chiến tranh vẫn cận kề, chính vì vậy, vai trò chính của Hiến pháp là tuyên bố sự độc lập về lãnh thổ là chính trị của Việt Nam và thiết lập nên cơ chế quyền lực của nhà nước sơ khai. Sự hạn chế của các quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân (trong đó có quyền năng sở hữu) và chế độ kinh tế của nhà nước không phải là một vấn đề quá khác biệt. Tuy nhiên, có thể nhận thấy, nhà nước ta trong giai đoạn này vẫn chủ trương về hình thức sở hữu đa thành phần, hình thức sở hữu tư nhân vẫn được nhà nước bảo vệ, có thể nói, trong giai đoạn này quyền sở hữu là quyền hiến định của công dân. Hơn nữa, xét hoàn cảnh thực tiễn lúc bấy giờ, nhà nước sơ khai vẫn chưa đủ khả năng cũng như điều kiện để thiết lập những định chế mới. Sự tiếp quản nền kinh tế với những phương thức sở hữu đã được hình thành trước đó là một yêu cầu của hoàn cảnh. Hình thức sở hữu tư nhân chính vì thế tiếp tục được tồn tại. Hơn nữa, tư tưởng về một nhà nước xã hội chủ nghĩa, căn nguyên của chế độ sở hữu tập thể vẫn chưa trở thành một tư tưởng chủ đạo trong quá trình xây dựng Hiến pháp này.
Năm 1959, Cách mạng Việt Nam chuyển sang một hình thể mới. Xây dựng miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam đề hoà bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Trong giai đoạn mới của cách mạng, Quốc hội ta cần sửa đổi bản Hiến pháp năm 1946 cho thích hợp với tình hình và nhiệm vụ mới – đó là lí do Hiến pháp 1959 ra đời. Xuất phát từ tình hình mới đó, chế định sở hữu trong Hiến pháp này cũng có những chuyển biến nhất dịnh phù hợp với tình hình mới. Vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 11 Hiến pháp 1959: “Ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong thời kỳ quá độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là: hình thức sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân, hình thức sở hữu của hợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc.” Khác với Hiến pháp 1946, các quy định về sở hữu được quy định ở Hiến pháp 1959 được quy định cụ thể hơn rất nhiều. Chẳng hạn, Điều 12 quy định về hình thức sở hữu toàn dân, Điều 13 quy định về hình thức sở hữu của hợp tác xã, Điều 14 quy định về hình thức sở hữu ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân, Điều 15 quy định về quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của những người làm nghề thủ công và những người lao động riêng lẻ khác, Điều 16 quy định về quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của nhà nước tư sản dân tộc,… Ngoài ra, Hiến pháp còn nhiều quy định khác quy định về quyền sở hữu và bảo hộ quyền sở hữu của các nhóm chủ thể khác nhau. Nhìn chung, trong giai đoạn này đã có sự chuyển biến đáng kể trong chế định sở hữu, cụ thể, vẫn tồn tại đủ các hình thức sở hữu nhưng đã có sự thay đổi trong vai trò của chúng. Như được khẳng định tại Điều 11 Hiến pháp 1959, đây là một giai đoạn “quá độ” của quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội, chính vì vậy, nhà nước vẫn tạm thời chấp nhận chế độ sở hữu tư nhân, tư bản tư nhân những ở mức độ hạn chế hơn, không khuyến khích. Và đồng thời khẳng định, “kinh tế quốc doanh thuộc hình thức sở hữu của toàn dân, giữ vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân và được Nhà nước bảo đảm phát triển ưu tiên”, đồng thời cũng “đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ sự phát triển của kinh tế hợp tác xã”.
Bên cạnh đó, đưa ra định hướng cải tạo dần thành phần sở hữu tư nhân, cụ thể, Điều 16 Hiến pháp 1959 quy đinh: “Nhà nước ra sức hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh, góp phần phát triển kinh tế quốc dân phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước. Nhà nước khuyến khích và hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc đi theo con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác”. Trên thực tế, trong giai đoạn này, bằng biện pháp tâm lí, các cơ quan công quyền ở miền Bắc đã dần thiết lập nên chế độ công hữu tuy không nhận được hoàn toàn sự đồng tình từ các nhóm đối tượng. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, do cả nước đang hướng đến mục tiêu thống nhất, chống chiến tranh nên những hệ quả của sự thay đổi mang tính quá độ về hình thức sở hữu này không được thể hiện rõ nét.

Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và được phát triển ưu tiên.
Đồng thời, “tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa ở thành thị và nông thôn bằng những hình thức thích hợp”, và trong Hiến pháp này cũng không có bất cứ điều luật nào khác quy định về vấn đề bảo vệ quyền sở hữu của công dân, quyền mà nhiều quốc gia trên thế giới được xem là “quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm”. Cho đến nay, khi nhắc đến giai đoạn này, chúng ta đều cho rằng đó là một sai lầm, là một giai đoạn mông muội. Sự nôn nóng về việc xây dựng một chế độ sở hữu toàn dân khiến cho chúng ta không đủ minh mẫn để suy xét, sự không tương thích giữa cơ sở hạ tầng và chế độ sở hữu mới làm cho toàn nền kinh tế rơi vào tình trạng suy sụp nhanh chóng. Những hậu quả của nó cho đến nay vẫn chưa có khả năng khắc phục hoàn toàn. Việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân trong giai đoạn này như một sự cưỡng bức với nền kinh tế, đốt cháy động lực của sự phát triển. Nhận thức được sai lầm này, Đại hội Đảng lần thứ 6 vào cuối năm 1986 đã quyết định chấm dứt tình trạng này. Tuy nhiên, mãi đến năm 1992, Hiến pháp mới được sửa đổi, trong giai đoạn từ đó cho đến khi Hiến pháp mới ra đời, chúng ta đã tạm thời chấp nhận tình trạng “vi hiến”.
Hiến pháp 1992 ra đời đánh dấu những thay đổi sâu sắc trong tư duy và chiến lược phát trển kinh tế và cả đường hướng chính trị của nhà nước ta. Nếu như trước đây kinh tế thị trường được xem là sự thối rữa của các nhà nước tư bản thì nay chúng ta xác định, chúng là hình thái kinh tế bắt buộc cần thiết trong giai đoạn quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Thiết lập nền kinh tế thị trường đồng nghĩa với việc chấp nhận sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu, đặc biệt là sở hữu tư bản tư nhân. Điều này được thể hiện khá cụ thể trong Điều 15 Hiến pháp 1992: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng”. Tuy nhiên, hình thức sở hữu tập thể và nhà nước vẫn đồng thời được khuyến khích: “Kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển, nhất là trong những ngành và lĩnh vực then chốt, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân…Kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi. Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả”.Đồng thời, Hiến pháp cũng quy định về việc bảo hộ quyền sở hữu của tổ chức cá nhân (Điều 23). Qua hơn 17 năm vận hành, nhìn vào những chuyển biến của nền kinh tế Việt Nam có thể thấy chế định sở hữu trong Hiến pháp 1992 là một quyết định đúng đắn, phù hợp với trình độ hiện thời của Việt Nam.
Nếu nhìn vào những thay đổi trong chính sách cũng như trong các văn bản pháp luật của nhà nước ta trong giai đoạn gần đây, chúng ta cũng có thể thấy những thay đổi trong vai trò của các hình thức sở hữu thuộc các thành phần kinh tế nước ta hiện nay. Trong giai đoạn trước mắt, sở hữu tư bản tư nhân ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn đối với nền kinh tế. Đây không phải là sự thay đổi định hướng xã hội chủ nghĩa mà là sự thay đổi để phù hợp với cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn quá độ. Chính vì vậy, nhà nước càng cần phải nâng cao vai trò quản lí của mình, điều kiển và vận hành bằng các phương tiện vĩ mô hơn, đảm bảo sự phát triển đúng hướng, kiên định định hướng xã hội chủ nghĩa của nhà nước Việt Nam

Trước hết, sở hữu tư nhân được hình thành bằng con đường thu nhập hợp pháp, bằng sức lao động của cá nhân, các hộ cá thể, xí nghiệp tư doanh có quyền được hưởng những thành quả do lao động của chính mình làm ra.
Ngoài ra, sở hữu tư nhân còn được hình thành bằng con đường thừa kế, tiết kiệm để dành của cá nhân, hộ cá thể, xí nghiệp tư doanh.


Các điều liên quan đến vấn đề sở hữu Hiến pháp 1946
Điều 11Ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong thời kỳ quá độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là: hình thức sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân, hình thức sở hữu của hợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc.

Điều 14
Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân.
Nhà nước ra sức hướng dẫn, giúp đỡ nông dân cải tiến kỹ thuật canh tác, phát triển sản xuất, và khuyến khích nông dân tổ chức hợp tác xã sản xuất, hợp tác xã mua bán và hợp tác xã vay mượn theo nguyên tắc tự nguyện.

Điều 15
Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của những người làm nghề thủ công và những người lao động riêng lẻ khác.
Nhà nước ra sức hướng dẫn, giúp đỡ những người làm nghề thủ công và những người lao động riêng lẻ khác cải tiến cách làm ăn và khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất và hợp tác xã mua bán theo nguyên tắc tự nguyện.

Điều 16
Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của nhà nước tư sản dân tộc.
Nhà nước ra sức hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh, góp phần phát triển kinh tế quốc dân phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước. Nhà nước khuyến khích và hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc đi theo con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác.

Điều 18
Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở các thứ vật dụng riêng khác.

Các điều liên quan đến vấn đề sở hữu Hiến pháp 1959
Điều 11
Ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong thời kỳ quá độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là: hình thức sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân, hình thức sở hữu của hợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc.

Điều 14
Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân.
Nhà nước ra sức hướng dẫn, giúp đỡ nông dân cải tiến kỹ thuật canh tác, phát triển sản xuất, và khuyến khích nông dân tổ chức hợp tác xã sản xuất, hợp tác xã mua bán và hợp tác xã vay mượn theo nguyên tắc tự nguyện.

Điều 15
Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của những người làm nghề thủ công và những người lao động riêng lẻ khác.
Nhà nước ra sức hướng dẫn, giúp đỡ những người làm nghề thủ công và những người lao động riêng lẻ khác cải tiến cách làm ăn và khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất và hợp tác xã mua bán theo nguyên tắc tự nguyện.

Điều 16
Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của nhà nước tư sản dân tộc.
Nhà nước ra sức hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh, góp phần phát triển kinh tế quốc dân phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước. Nhà nước khuyến khích và hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc đi theo con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác.

Điều 18
Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở các thứ vật dụng riêng khác.

Các điều liên quan đến vấn đề sở hữu Hiến pháp 1980

Điều 17
Nhà nước quy định chế độ và thi hành những biện pháp cần thiết bảo đảm cho nhân dân lao động sử dụng đầy đủ quyền làm chủ tập thể về tư liệu sản xuất và lực lượng lao động, về sản xuất và phân phối, về khoa học và kỹ thuật, làm cho sự nghiệp phát triển kinh tế thật sự là sự nghiệp của toàn dân.

Điều 18
Nhà nước tiến hành cách mạng về quan hệ sản xuất, hướng dẫn, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, thiết lập và củng cố chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động.
Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và được phát triển ưu tiên.

Điều 19
Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa, các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp quốc doanh; ngân hàng và tổ chức bảo hiểm; công trình phục vụ lợi ích công cộng; hệ thống đường sắt, đường bộ, đường sông, đường biển, đường không; đê điều và công trình thuỷ lợi quan trọng; cơ sở phục vụ quốc phòng; hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, điện ảnh; cơ sở nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, cơ sở văn hoá và xã hội cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước - đều thuộc sở hữu toàn dân.

Điều 23
Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ kinh tế hợp tác xã phát triển.
Tài sản của hợp tác xã và các tổ chức tập thể khác của nhân dân lao động được Nhà nước bảo vệ theo pháp luật.
Hợp tác xã kinh doanh theo phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch của cả nước và của địa phương, bảo đảm không ngừng phát triển sản xuất và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của xã viên, làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước, đồng thời tăng tích luỹ cho hợp tác xã.
Quyền làm chủ tập thể của xã viên trong việc quản lý hợp tác xã phải được tôn trọng và phát huy.
Kinh tế phụ gia đình xã viên được Nhà nước thừa nhận và bảo hộ theo pháp luật.

Điều 25
Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, những cơ sở kinh tế của địa chủ phong kiến và tư sản mại bản đều bị quốc hữu hoá không bồi thường.

Điều 27
Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, những công cụ sản xuất dùng trong những trường hợp được phép lao động riêng lẻ.
Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân.

Điều 28
Khi thật cần thiết vì lợi ích chung, Nhà nước có thể trưng mua, trưng dụng hoặc trưng thu có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc của tập thể.
Thể thức trung mua, trưng dụng, trưng thu do pháp luật quy định.

Các điều liên quan đến vấn đề sở hữu Hiến pháp 1992

Điều 15
Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.

Điều 16
Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới.

Điều 17
Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân.

Điều 18
Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả.
Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài.
Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật.

Điều 23
Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá.
Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường.
Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định.

Điều 25
Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá.
Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước.
 Việt Nam đã trải qua 5 kỳ soạn thảo Hiến pháp kể từ năm 1946 đến 2001. Vấn đề sở hữu được nhìn nhận khác nhau qua các thời kì, trong đó sở hữu tư nhân với vai trò nhất định của nó không phải lúc nào cũng được Nhà nước thừa nhận trong các bản Hiến pháp.

Hiến pháp 1946 có 7 chương với 70 điều nhưng không có chương nào quy định về chế độ kinh tế và chỉ có duy nhất 1 điều quy định về vấn đề sở hữu đó là Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm (Điều 12) nằm trong Chương II – Nghĩa vụ và quyền lợi của công dân.

Có thể lý giải vấn đề này là do hoàn cảnh lịch sử đất nước ta lúc bấy giờ vừa mới giành được độc lập từ tay thực dân Pháp, nhu cầu về một bản HP thống nhất là vô cùng bức thiết, đó cũng là một trong những nhiệm vụ cấp bách được Hồ Chủ tịch đưa ra tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 03/9/1945 “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ”, và vấn đề quan tâm hàng đầu thời kỳ đó là vấn đề chính trị, xã hội, là bảo vệ tổ quốc, là tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh để giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, vấn đề kinh tế do đó không được chú trọng là lẽ dễ hiểu. Nhìn vào cơ cấu bản HP 1946 ta dễ dàng nhận ra điều đó, trong toàn bộ 7 chương với 70 điều thì hầu hết quy định về vấn đề chính trị, xã hội, tổ chức bộ máy nhà nước với 5 chương với 51 điều.

HP 1959 lần đầu tiên nhà nước đề cập đến sở hữu tư nhân và thừa nhận nó dưới dạng:
-Hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ
-Hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc qui định tại Điều 11Ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong thời kỳ quá độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là: hình thức sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân, hình thức sở hữu của hợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc.”

Hiến pháp 1959 đã đề cập và giải thích chi tiết sở hữu tư nhân bao gồm những thành phần nào và tất cả đều được nhà nước bảo hộ bình đẳng như nhau. Tại các Điều 14, 15, 16, 18, nhà nước thể hiện sự quan tâm đến các hình thức sở hữu của nhiều tầng lớp trong xã hội, trong đó có tầng lớp nông dân (Điều 14), những người làm nghề thủ công, những người lao động riêng lẻ (Điều 15), các nhà tư sản dân tộc (Điều 16). Đồng thời Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở các thứ vật dụng riêng khác. (Điều 18)

Tuy nhiên đến HP 1980 sở hữu tư nhân đã không được thừa nhận sự tồn tại trong nền kinh tế, nhà nước với mục tiêu tiến hành cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất, cải tạo các thành phần kinh tế phi XHCN, đã thiết lập chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể, trong đó sở hữu toàn dân được chú trọng. (Điều 18)

Ngoài tất cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, công trình công cộng v.v… nhà nước còn trưng thu toàn bộ tài sản của giai cấp địa chủ phong kiến và tư sản mại bản (Điều 25) đưa vào sở hữu toàn dân. Và nhà nước chỉ bảo vệ tài sản của công dân với điều kiện “được phép lao động riêng lẻ” (Điều 27)

Đến giai đoạn này ta thấy có một sự thay đổi rõ rệt trong đường lối của nhà nước, với nôn nóng xây dựng XHCN ở miền Bắc làm nền tảng kinh tế, là hũ gạo để nuôi sống miền Nam trong cuộc trường kỳ kháng chiến, các nhà lãnh đạo đã tư duy sai lầm khi lựa chọn nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung làm cơ sở để thực hiện chiến lược của mình. Việc quá coi trọng sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể không thừa nhận bộ phận sở hữu tư nhân đã đưa đất nước ta vào giai đoạn “đêm đen”, nhà nước sản xuất mọi thứ và bao tiêu mọi thứ với giá cả bất hợp lý, thị trường không tồn tại, chỉ có tem, phiếu và mọi công dân phải xếp hàng để được nhận những mặt hàng không những không phù hợp với nhu cầu mà còn kém chất lượng, thậm chí không thể sử dụng. Tiêu chí làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu thể hiện sự bất hợp lý, nó tiêu diệt động lực lao động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận của các cá nhân, thành phần kinh tế tư nhân không được thừa nhận cho nên phải hoạt động lén lút cầm chừng, không tự do buôn bán, không thương mại, không xuất nhập khẩu, nền kinh tế không có động lực để phát triển và ngày càng suy yếu. HP 1980 đã góp phần đưa đất nước lùi một khoảng dài hàng chục năm so với thời cuộc.

Tuy nhiên nhà nước đã nhận ra và sửa chữa sai lầm của mình bằng công cuộc đổi mới toàn diện 1986. Trên cơ sở đó HP 1992 ra đời sau đó được sửa đổi bổ sung đã khắc phục nhiều nhược điểm của HP 1980 trong đó quan trọng nhà nướcthực hiện nhất quán chính sáchphát triển nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. (Điều 15)

Việc nhà nước thừa nhận trở lại sở hữu tư nhân cho thấy nhìn nhận đúng đắn về vai trò của các thành phần kinh tế: “Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (Điều 16). Trên tinh thần đó nhà nước cam kết bằng HP bảo vệ tài sản hợp pháp của mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội (Điều 23), kể cả các cá nhân và tổ chức nước ngoài (Điều 25). Đây là điểm tiến bộ của HP 1992 (sửa đổi bỏ sung 2001) so với tất cả các bản HP trước đó, thể hiện kỹ thuật lập hiến của VN ngày càng được nâng cao.

Tóm lại ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể tương ứng với từng bản HP, vấn đề về sở hữu nói chung và sở hữu tư nhân nói riêng được nhìn nhân và đánh giá không giống nhau. Tuy nhiên cuối cùng vai trò của nó đã được thừa nhận và được đảm bảo thực hiện bằng văn bản pháp luật có giá trị cao nhất đó là Hiến pháp.

Sở hữu tư nhân qua các bản hiến pháp:
Hiến pháp 1946 công nhận các quyền cơ bản của công dân như quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền khiếu nại tố cáo... Ở các bản Hiến pháp sửa đổi năm 1959 và 1980, các quyền này không được qui định rõ ràng hoặc không đầy đủ. Đến bản Hiến pháp sửa đổi năm 1992 lại có nhiều điểm quay lại với Hiến pháp 1946.
Điều 12 Hiến pháp năm 1946: Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm.
Điều 11 Hiến pháp năm 1959: Ở nước Việt Nam DCCH trong thời kỳ quá độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là: hình thức sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân, hình thức sở hữu của hợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ, và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc.
Điều 15 Hiến pháp năm 1980: Mục đích chính sách kinh tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và văn hóa ngày càng tăng của cả xã hội bằng cách không ngừng phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, trên cơ sở chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa và nền khoa học, kỹ thuật hiện đại.
Điều 15 Hiến pháp năm 1992: Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nhà nướcthực hiện nhất quán chính sáchphát triển nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.”
2.1. Thực tiễn áp dụng hình thức sở hữu toàn dân (sở hữu nhà nước)
Vấn đề áp dụng hình thức sở hữu toàn dân (sở hữu nhà nước) có biểu hiện rất phong phú tuy nhiên dưới đây chúng tôi chủ yếu đề cập việc Nhà nước quản lý ngân sách, quản lý vốn trong các doanh nghiệp nhà nước, việc quản lý đất đai, tài nguyên,…
DNNN trong cơ chế kinh tế tập trung.

Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, với quan niệm đồng nhất kinh tế nhà nước (quốc doanh) với CNXH; tỷ trọng kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân càng cao thì càng nhiều tính CNXH, nên trong chỉ đạo thực hiện, Nhà nước đã giành mọi nỗ lực cho việc thúc đẩy nhanh chóng quá trình quốc doanh hoá với nhiều biện pháp khác nhau, trong đó trước hết và chủ yếu là các biện pháp hành chính.
Trong thời kỳ này, ở miền Bắc ngay từ đầu những năm 1960, hệ thống DNNN đã có mặt hầu khắp trong các ngành và các lĩnh vực sản xuất của xã hội và chiếm một tỷ trọng lớn về giá trị vốn, tổng sản lượng và thu nhập trong nền kinh tế. Theo số liệu niên giám thống kê 1975, đến năm 1960, khu vực này đã chiếm tỷ trọng: 83,5% trong tổng giá trị tài sản cố định và 79,6% giá trị tài sản lưu động của khu vực sản xuất vật chất: 38,4% giá trị tổng sản phẩm xã hội; 33,1% thu nhập quốc dân.
Theo nguồn số liệu trên, tỷ trọng giá trị sản lượng công nghiệp do khu vực tư nhân và cá thể sản xuất ra giảm từ 89,2% (năm 1955) giảm xuống còn 5,0% (năm 1960). Đến đầu năm 1974, giá trị tổng sản lượng công nghiệp của khu vực DNNN đã tăng đến 72,2%, trong khi đó giá trị này của khu vực tư nhân và cá thể giảm xuống còn 2,3% (bảng 1)


HTML Code:
Thành phần kinh tế
1955       1957       1960       1965       1971       1973       1974
1. Quốc doanh, công tư hợp doanh
10,8       26,9       57,3       72,8       73,4       70,2       72,2  
2. Tiểu thủ công nghiệp       
89,2       73,1       42,7       27,2       26,6       29,8       27,8
Trong đó:  
+ Tập thể
...       ...       37,7       23,7       32,1       27,0       25,5
+ Tư nhân và cá thể
89,2       73,1       5,0       3,5       3,5       2,8       2,3
Như vậy, sau 20 năm cải tạo và phát triển kinh tế ở miền Bắc, khu vực kinh tế tư nhân đã bị vắng mặt gần như hoàn toàn trong tất cả các ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân. Thành phần kinh tế XHCN bao gồm khu vực DNNN và khu vực kinh tế tập thể đã chiếm tuyệt đại đa số trong các ngành.
Hàng năm, các DNNN đóng góp khoảng 30-40% tổng sản phẩm xã hội và 28-30% thu nhập quốc dân. Phần thu của ngân sách nhà nước từ DNNN và thông qua DNNN là phần thu lớn nhất và dao động trong khoảng 60-70%.
Các DNNN chiếm khoảng 85% vốn cố định của nền kinh tế, 90% lao động có kỹ thuật, cán bộ khoa học và quản lý đào tạo có hệ thống của cả nước. Nhà nước cũng đã ưu tiên dành nhiều nguồn lực để phát triển các DNNN. Chỉ tính riêng trong khoảng 10 năm từ năm 1976 đến năm 1985, nhà nước đã phân bố khoảng 60-70% vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế và trên 90% vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi cho các DNNN.
Cũng trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, đặc điểm về phương diện cơ chế tổ chức là 2 lĩnh vực nghiên cứu KH&CN và sản xuất tồn tại như hai hệ thống "ngành dọc" hầu như hoàn toàn độc lập với nhau và rất ít có mối liên hệ. Vì thế, sự kết hợp cũng như đưa những kết quả nghiên cứu KH&CN vào thực tế sản xuất nhìn chung còn nhiều hạn chế. Cả hai bên đều không có nhu cầu thực tế, không tìm thấy lợi ích khi đến với nhau. Đối với cơ quan nghiên cứu khoa học (có tới 163 cơ sở nghiên cứu khoa học của thời kỳ trước năm 1985), việc triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học mang nhiều yếu tố tự thân. Trong khi đó, các DNNN lại được xem như là một tổ chức hành chính của nhà nước hơn là một đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện mục tiêu cấu tạo, phát triển và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN chứ không phải là nhằm mục tiêu kinh tế vì lợi nhuận. Vai trò này của DNNN được tiếp tục phát huy bởi cơ chế quản lý của Nhà nước với những đặc điểm chủ yếu sau:
- Nhà nước quản lý DNNN trực tiếp bằng các chỉ tiêu pháp lệnh. Kế hoạch sản xuất của DNNN được nhà nước quy định chặt chẽ, doanh nghiệp giữ vai trò như một cơ sở hành chính.
- Nhà nước thực hiện chế độ bao cấp đối với DNNN. Mối quan hệ giữa nhà nước và DNNN là quan hệ cấp phát và giao nộp. Về mặt tài chính, DNNN thực hiện theo nguyên tắc thu đủ chi đủ. Là doanh nghiệp nhưng mục tiêu lợi nhuận không được đặt ra.
- Nhà nước sử dụng công cụ giá trị một cách hình thức, dùng để tính toán. Giá được sử dụng như là công cụ tính toán cho việc cấp phát và giao nộp sản phẩm giữa nhà nước và doanh nghiệp.
- Nhà nước xem nhẹ yếu tố thị trường - nơi quyết định sản xuất cái gì, cho ai và như thế nào. Bởi vậy, doanh nghiệp không có động cơ phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tìm kiếm các giải pháp công nghệ mới để đổi mới công nghệ tạo ra sản phẩm mới. Cơ chế cấp phát giao nộp sản phẩm thôi thúc các DNNN yêu cầu nhà nước cấp phát cho các yếu tố đầu vào ở mức độ tối đa. DNNN không phải tìm tòi nghiên cứu thị trường. Đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp diễn ra chậm chạp và thiếu năng động, thiếu động lực sáng kiến, cải tiến, nên về cơ bản, cho đến trước thời kỳ đổi mới, sự gắn kết giữa nghiên cứu KH&CN và sản xuất phần lớn chỉ mang tính chất hình thức. Hiệu quả đầu tư của Nhà nước cho nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ ở các doanh nghiệp không cao.
Việt Nam, ở thời kỳ trước đổi mới, trong khuôn khổ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khu vực DNNN giữ một vai trò đặc biệt. Nó được đồng nhất với kinh tế XHCN. Đổi mới kinh tế mà thực chất là chuyển sang nền kinh tế thị trường, kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế:
Hơn 10 năm qua nền kinh tế nhà nước đã hình thành và phát triển đồng bộ hơn. Từng bước đổi mới cơ chế, chính sách quản lý tài chính đối với DNNN, chuyển từ cơ chế quản lý hành chính sang mở rộng quyền tự chủ tài chính, quyền tự chủ kinh doanh và chế độ tự chịu trách nhiệm của các DNNN. Tạo điều kiện thuận lợi về tài chính để khuyến khích kinh doanh; bước đầu xử lý có kết quả các vấn đề nợ quá hạn giữa các doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp với ngân hàng; thực hiện ưu đãi tài chính, đẩy nhanh quá trình sắp xếp lại, đa dạng hóa các hình thức sở hữu của các doanh nghiệp được triển khai khá mạnh mẽ và đem lại kết quả nhất định. Theo đánh giá của các chuyên gia: “Tốc độ tăng trưởng của các DNNN còn chậm, hiệu quả sử dụng vốn và sức cạnh tranh của các DNNN còn thấp, chưa tương xứng với tiềm lực và lợi thế sẵn có. Nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện tốt việc bảo toàn và phát triển vốn, tình trạng ăn vào vốn, mất vốn vẫn còn…” Chính vì vậy, đổi mới căn bản chính sách, hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính DNNN là vấn đề cấp thiết.
-Thực trạng về DNNN, cơ chế quản lý tài chính đối với DNNN trong thời gian qua
+Thực trạng về DNNN
DNNN phát triển nhanh ở giai đoạn 1991-1995 với tốc độ tăng trưởng bình quân 11,7%, gấp 1,5 lần tốc độ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế. Từ 1998 trở lại đây tốc độ tăng trưởng của DNNN chậm lại nhưng DNNN vẫn tiếp tục đóng vai trò then chốt trong nhiều lĩnh vực, ảnh hưởng lớn đến tốc độ phát triển kinh tế (nộp ngân sách hàng năm chiếm 40% tổng thu NSNN và hơn 50% kim ngạch xuất khẩu).
Trong những năm qua DNNN đã đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, đã có những đóng góp to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế phù hợp với tình hình có chiến tranh cũng như trong thời kỳ hoà bình. Tuy nhiên, DNNN vẫn còn yếu kém, tồn tại trong hoạt động. Về khách quan: Do ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới, cùng với những thiên tai nặng nề đã làm cho DNNN gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh, giảm hiệu quả kinh tế; DNNN phần lớn được đầu tư, thành lập trong thời kỳ bao cấp, công nghệ thiết bị lạc hậu, vốn ít không có khả năng đổi mới công nghệ thiết bị nên ảnh hưởng nhiều đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh. Về mặt chủ quan: Số lượng DNNN vẫn còn nhiều, tản mạn ở nhiều ngành. Lĩnh vực khác nhau, chưa tập trung vào những ngành then chốt hoặc những ngành mà các doanh nghiệp hoặc các thành phần kinh tế khác không làm được; Nhà nước chưa có định hướng, quy hoạch đầu tư ngành hoặc lĩnh vực mũi nhọn của nền kinh tế; Nhận thức và thực hiện cơ chế, chính sách của các Bộ, ngành, địa phương chưa tốt; Tư tưởng muốn bao cấp lại cho doanh nghiệp; Trình độ của một bộ phận không ít người quản lý điều hành doanh nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ chế thị trường.
 -Thực trạng về cơ chế quản lý tài chính đối với DNNN
+Quản lý vốn và tài sản
Triển khai Luật DNNN, ngày 3.12.2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 199/NĐ-CP về Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác. Quy chế này có thể coi là một sự đổi mới tư duy theo hướng mở rộng quyền tự chủ và tăng tính tự chịu trách nhiệm của công ty nhà nước; đã cải tiến một bước về cơ chế quản lý vốn của nhà nước tại các doanh nghiệp. Điểm mới của Luật là đã xác định rõ hơn trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và đại diện của phần vốn của nhà nước tại các doanh nghiệp; Việc thành lập tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn của nhà nước sẽ làm thay đổi căn bản phương thức nhà nước tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, năng động và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, tổng công ty có nhiệm vụ “bảo toàn vốn nhà nước” chứ không phải là “đem lại hiệu quả”, những vướng mắc cơ bản về quản lý hành chính sẽ cơ bản được gỡ, còn lại phụ thuộc vào việc tuyển chọn cũng như năng lực quản lý của cán bộ.
+Quản lý doanh thu và chi phí
Việc quy định phạm vi doanh thu và phạm vi chi phí còn nhiều điều bất cập và thiếu nhất quán, không phù hợp với tình hình thực tế của cơ chế thị trường. Trong các văn bản về quản lý chi phí kinh doanh của DNNN còn lẫn lộn giữa chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp và chức năng chủ sỡ hữu nhà nước đối với các DNNN.
-Phân phối thu nhập
+Cơ chế phân phối thu nhập của DNNN đã có một số thay đổi so với cơ chế trước đây. Sự thay đổi này thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá đúng mức hơn quyền tự chủ của doanh nghiệp trong phân phối lợi nhuận sau thuế.
+Về chính sách tiền lương: tiền lương được tính trong giá thành và lấy từ doanh thu nhưng do doanh thu thấp nên tỷ trọng tiền lương trong doanh thu ở các DNNN còn thấp. Người lao động không sống bằng tiền lương mà sống bằng thu nhập. Trong tổng thu nhập, phần tiền lương chỉ chiếm 1/4-1/3, còn lại là do các đơn vị mang lại. Việc phân phối này được các đơn vị phân phối một cách tùy tiện, dẫn đến sự rối loạn trong phân phối. Ngoài ra, người lao động còn có các khoản thu nhập từ các công việc khác. Điều này làm cho tiền lương không trở thành động lực thu hút người lao động và là đòn bẫy để thúc đẩy kinh tế phát triển.
+ Về thuế thu nhập doanh nghiệp: thuế thu nhập doanh nghiệp của nước ta hiện nay chưa thống nhất giữa Luật đầu tư trong nước và nước ngoài gây nên sự bất bình đẳng giữa các nhà đầu tư.
+ Trích lập quỹ: Nhà nước quy định nhiều loại quỹ bắt buộc cho doanh nghiệp gây khó khăn cho việc tập trung vốn; Việc căn cứ trên mức lương để trích hai quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi là thiếu hợp lý và không công bằng.
Tóm lại, trong thời gian qua cơ chế và chính sách quản lý tài chính DNNN đã có nhiều bước đổi mới, hoàn thiện, phù hợp với tình hình đổi mới kinh tế của nước ta. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn nhiều điểm hạn chế cần phải hoàn thiện hơn.
-Những ưu điểm trong cơ chế và chính sách quản lý tài chính DNNN
Từng bước đổi mới cơ chế tập trung, bao cấp trong các mặt quản lý tài chính DNNN. Tạo được quyền tự chủ rất cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý tài chính, dần dần tạo được sân chơi bình đẳng cho các loại hình doanh nghiệp.
-Những tồn tại trong cơ chế và chính sách quản lý tài chính DNNN
+Những quy định về quy chế tài chính trong Luật chưa hoàn thiện, chưa đầy đủ và chưa nhất quán.
+Cơ chế tài chính cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và hoạt động công ích chưa được tách bạch rõ ràng, khó thực hiện.
+Quyền chủ sở hữu của nhà nước đối với doanh nghiệp và quyền sở hữu của doanh nghiệp đối với tài sản chưa phân định rõ ràng.
+Quyền của doanh nghiệp trong công tác quản lý tài chính mặc dù đã được mở rộng nhiều nhưng còn nhiều vấn đề vẫn chịu ràng buộc, chưa thực sự giao quyền chủ động cho doanh nghiệp.
+Trách nhiệm của người quản lý và điều hành doanh nghiệp chưa được quy định cụ thể, rõ ràng và chưa tương xứng với quyền đã giao cho họ. Việc kiểm tra xử lý trách nhiệm càng chưa được thực hiện triệt để.
+Quyền hạn và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước, của pháp nhân doanh nghiệp và của bộ máy quản lý doanh nghiệp chưa được tách biệt. Phương thức quản lý tài chính đối với doanh nghiệp vẫn mang tính chất hành chính vừa sự vụ, vừa lỏng lẻo, kém hiệu quả.
+Sự ưu đãi của nhà nước đối với các tổng công ty đã làm giảm tính cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung, khuynh hướng kinh doanh độc quyền ngày càng đậm nét, tạo ra một sân chơi không bình đẳng trong kinh doanh và làm ảnh hưởng lan rộng trong hoạt động của các Tổng công ty.
-Các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính DNNN trong nền kinh tế thị trường +Quan điểm cơ bản về đổi mới DNNN
Thống nhất vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và vai trò nồng cốt của DNNN phải dựa vào yêu cầu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội là chủ yếu; Từng bước tạo lập môi trường sản xuất kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; tách bạch rõ chức năng quản lý nhà nước, quản lý của chủ sở hữu với chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp; xóa bỏ cơ chế chủ quản; phân định rõ quyền của các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu đối với DNNN; cơ cấu lại vốn và tài sản theo hướng tích cực và có hiệu quả, giảm các khoản nợ xấu và tài sản tồn đọng; kiên quyết và khẩn trương xóa bỏ tình trạng bao cấp, bảo hộ bất hợp lý, đặc quyền và độc quyền trong kinh doanh của các DNNN.
+Các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính DNNN trong nền KTTT
Sắp xếp lại hệ thống DNNN
Đối với các doanh nghiệp cần duy trì hình thức công ty nhà nước: tiếp tục thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại công ty nhà nước, chuyển các tổng công ty sang mô hình công ty mẹ- công ty con, hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh. Căn cứ Nghị định 63/2004/NĐ-CP để chuyển hầu hết các công ty khác thuộc diện phải giữ 100% vốn nhà nước (DNNN, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội) sang vận hành theo cơ chế công ty TNHH một thành viên nhà nước.
Đối với các doanh nghiệp thuộc diện sắp xếp, chuyển đổi sở hữu: Triển khai thực hiện cổ phần hóa. Đặc biệt đẩy nhanh thí điểm cổ phần hóa một số tổng công ty lớn để tăng số lượng và chất lượng hàng hóa của thị trường chứng khoán, góp phần phát triển thị trường chứng khoán, thị trường vốn và minh bạch quá trình cổ phần hóa công ty nhà nước. Thực hiện đưa giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa; định giá doanh nghiệp cổ phần hóa thông qua các định chế trung gian, có cơ chế để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư chiến lược tham gia góp vốn, chấm dứt cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp.
Hoàn thiện, ban hành các quy định liên quan đến lĩnh vực đa dạng hóa các hình thức chuyển đổi sở hữu: giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp; đồng thời đổi mới phương thức bán doanh nghiệp thông qua hình thức đấu giá.
Các doanh nghiệp còn lại không đủ điều kiện chuyển đổi sở hữu thì kiên quyết thực hiện giải thể, phá sản theo quy định của Luật phá sản (năm 2003) Nghị định số 180/2004/NĐ-CP về thành lập mới, tổ chức lại và giải thể công ty nhà nước và các văn bản hướng dẫn liên quan.
+Đổi mới phương thức quản lý nhà nước về kinh tế
Việc đổi mới phương thức quản lý này thể hiện ở việc đổi mới các quan hệ sau: Một là, đổi mới quan hệ đối với cơ quan quản lý nhà nước: Hệ thống pháp luật hoàn chỉnh để từng bước xóa bỏ sự khác biệt về chính sách giữa các loại hình doanh nghiệp, tạo môi trường bình đẳng, hạn chế cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Môi trường kinh doanh ổn định và lành mạnh. Hai là, đổi mới quan hệ của các cơ quan chức năng.
+Cải cách bộ máy quản lý trong nội bộ doanh nghiệp
Đi đôi với việc cải tiến cơ chế quản lý cần thiết phải đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý hiện có để thích ứng với việc quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường.
2.2.2 Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính nhằm nâng cao quyền tự chủ tài chính cho các DNNN
2.2.2.1 Đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
a) Tạo lập, huy động, quản lý và sử dụng vốn
° Tạo lập, huy động vốn
- Phải có chính sách đảm bảo vốn pháp định.
- Nhà nước cần có chính sách tín dụng đúng đắn nhằm tạo môi trường kinh tế và pháp lý để phát triển đa dạng các loại hình tín dụng.
- Cần tranh thủ thu hút vốn đầu tư nước ngoài bằng các hình thức liên doanh, liên kết giữa các DNNN với các tổ chức kinh tế và cá nhân nước ngoài, hoàn thiện luật pháp quản lý đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Phát triển các hình thức liên doanh, liên kết giữa các DNNN với nhau và với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác dưới hình thức lập các công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa tập trung nguồn thu vào ngân sách và nhu cầu tích tụ vốn ở doanh nghiệp.
° Quản lý và sử dụng vốn
- Ban hành cơ chế đầu tư cho doanh nghiệp, xác định rõ quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp trong công tác đầu tư theo hướng mở rộng quyền tự quyết của doanh nghiệp đối với dự án đầu tư đồng thời quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp khi đầu tư không có hiệu quả.
- Xây dựng cơ chế để doanh nghiệp tự bổ sung nguồn kinh doanh bằng các nguồn hợp pháp. Nhà nước không cấp vốn cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp tự quyết định các hình thức huy động vốn phù hợp với quy mô sản xuất và phương án kinh doanh, chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn vay và nguồn để trả cả gốc và lãi cho người vay vốn. Nhà nước chỉ hỗ trợ vốn trong điều kiện có thể đối với những doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, hạn chế và đi đến chấm dứt các hình thức hỗ trợ mang tính bao cấp cho doanh nghiệp.
- Xác định rõ quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp, bỏ sự can thiệp của cơ quan nhà nước đối với các vấn đề tài sản của doanh nghiệp.
- Xây dựng cơ chế xử lý linh hoạt gắn với tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp đối với việc thanh lý, nhượng bán tài sản, xử lý tổn thất về tài sản của doanh nghiệp.
b) Quản lý doanh thu, chi phí
- Cơ chế quản lý chi phí của doanh nghiêp theo hướng mở rộng quyền của người quản lý và điều hành doanh nghiêp trong việc quyết định các khoản chi phí, trên cơ sở trách nhiệm rõ ràng, cụ thể.
- Xây dựng và ban hành cơ chế kiểm soát chi phí của các doanh nghiệp trong các ngành có lợi thế hoặc độc quyền, chống việc lợi dụng những lợi thế, độc quyền để tạo nên những đặc quyền, đặc lợi.
c) Phân phối lợi nhuận
- Cần khẳng định lợi nhuận sau thuế là của Nhà nước, Nhà nước có toàn quyền quyết định việc sử dụng các khoản lợi nhuận này. Nhà nước dành một phần khoản lợi nhuận sau thuế để khen thưởng và đảm bảo phúc lợi cho người lao động trong doanh nghiệp, song không tạo thành một đặc quyền của họ so với những người lao động ở các doanh nghiệp khác tạo nên sức ì khi chuyển đổi hình thức sở hữu.
- Xác định lại hệ thống quỹ của doanh nghiệp. Lợi nhuận sau thuế sau khi dành một phần để trích quỹ khen thưởng, phúc lợi, còn lại dùng để đầu tư đổi mới công nghệ, thay thế thiết bị, bổ sung vào vốn cho doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp không có các nhu cầu này hoặc nhà nước thấy không cần thiết phải đầu tư lại cho doanh nghiệp thì nhà nước sẽ thu hồi lại để đầu tư cho những doanh nghiệp có nhu cầu hoặc cần thiết phải đầu tư.
- Cải cách chế độ tiền lương: Thực hiện chế độ tiền lương theo chức danh tiêu chuẩn, tiền lương phải thực sự là thu nhập chủ yếu của người lao động đủ sức nuôi sống bản thân người lao động và gia đình (thậm chí còn có tích luỹ), còn tiền thưởng chỉ là thứ yếu nhằm kích thích người lao động hoàn thành tốt công việc được giao.
2.2.2.2 Đối với doanh nghiệp hoạt động công ích
- Nhà nước nên có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thực hiện hoạt động công ích. Nhà nước chỉ trực tiếp tham gia cung cấp sản phẩm dịch vụ công ích khi các đối tượng khác không làm hoặc không được phép làm.
- Xây dựng cơ chế tài chính cho việc thực hiện các sản phẩm và dịch vụ công ích.
2.2.3 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức hoạt động của DNNN trong cơ chế KTTT
- Thành lập công ty TNHH một thành viên: Quá trình chuyển đổi này sẽ tạo môi trường pháp lý bình đẳng tiến tới việc các doanh nghiêp hoạt động theo luật thống nhất. Bằng việc chuyển đổi và những tác động tích cực, các doanh nghiệp sẽ kinh doanh hiệu quả hơn, nâng cao được sức cạnh tranh của mình, đáp ứng được yêu cầu hội nhập của khu vực và quốc tế.
- Thành lập tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước sẽ giúp thực hiện quản lý thống nhất các nguồn vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả, bảo toàn và phát triển nguồn vốn nhà nước; Phân định rõ quản lý nhà nước và quyền tự chủ sản xuất
- Kinh doanh của doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước không can thiếp trực tiếp vào hoạt động sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp; Chuyển từ cơ chế cấp vốn trực tiếp cho doanh nghiệp sang hình thức đầu tư vốn vào doanh nghiệp, tiến tới xóa bỏ việc cấp vốn từ NSNN đối với DNNN không cần nắm giữ 100% vốn; Đẩy nhanh quá trình sắp xếp, đổi mới DNNN và thúc đẩy thị trường vốn và thị trường chứng khoán phát triển.
- Hoàn thiện cơ chế tài chính trong mô hình tổng công ty: Đẩy mạnh viêc sắp xếp, kiện toàn Tổng công ty nhà nước và thành lập tập đoàn kinh tế trong một số lĩnh vực then chốt nhất của nền kinh tế mà ta có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả. 
Kết luận
Cải cách DNNN là một yêu cầu cấp thiết được đặt ra hiện nay nhằm nâng cao năng lực hoạt động, tăng cường khả năng cạnh tranh và phát huy vai trò chủ đạo, quyền chủ động trong kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiện nay, khu vực DNNN đang nắm trong tay hầu hết các ngành kinh tế chủ chốt và khối lượng vốn, tài sản quốc gia rất lớn. Do vậy, nếu tiếp tục hoạt động kém hiệu quả thì nó sẽ trở thành lực cản lớn nhất đối với sự cất cánh của toàn bộ nền kinh tế, làm cho tình hình tài chính tiền tệ trở nên tồi tệ và phức tạp hơn. Chính vì vậy, vấn đề cải cách và nâng cao hiệu quả kinh doanh, sử dụng vốn của khu vực DNNN có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với nền kinh tế, với chính vấn đề DNNN có thể thực hiện được vai trò chủ đạo đích thực của mình hay khộng?
Để tiến hành cải cách có hiệu quả đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới triệt để trong nhận thức, tư duy về khu vực DNNN, từ đó hình thành chiến lược cải cách nhất quán nhằm loại bỏ sự ôm đồm bất hợp lý của nhà nước đối với khu vực kinh tế này, chuyển hẳn sang phương châm “Nhà nước chỉ nắm cái lớn, cái then chốt”. Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nền kinh tế bằng luật, điều chỉnh kinh tế bằng đòn bẫy kinh tế là chủ yếu chứ không phải bằng số lượng DNNN cồng kềnh, làm ăn thua lỗ. Tuy nhiên, để giải quyết vấn đề này phải có thời gian, song lộ trình phải rõ, quan điểm phải nhất quán.
Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã nhấn mạnh : Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh nghiệp Nhà nước giữ vững những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật.
Trong 30 năm từ năm 1960 đến năm 1990, số lượng doanh nghiệp Nhà nước tăng lên nhanh chóng. Cũng trong 30 năm đó, chúng ta đã liên tục đổi mới, cải tiến quản lý doanh nghiệp Nhà nước nhưng vẫn không khắc phục được tình trạng yếu kém của hệ thống doanh nghiệp này, và tình trạng đó đã bộc lộ rõ hơn khi nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ năm 1990 đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều quyết định và chính sách nhằm xoay chuyển tình trạng yếu kém của các doanh nghiệp Nhà nước, thông qua việc giảm hơn 50% số lượng doanh nghiệp này, đổi mới cơ chế quản lý kích thích sản xuất ...Mặc dù vậy, cho đến nay, việc đổi mới hệ thống doanh nghiệp Nhà nước nhằm thực hiện tốt vị trí then chốt của nó vẫn đang còn nhiều vấn đề phải giải quyết, chẳng hạn như:
-Sắp xếp các DNNN.
-Đổi mới cơ chế ,chính sách đối với DNNN.
-Thực hiện các mô hình tổng công ty; cổ phần hoá một bộ phận DNNN mà nhà nước không giữ 100% vốn; giao, bán và khoán kinh doanh,cho thuê các DNNN có qui mô nhỏ.
-Tổ chức lại tổng công ty nhà nước.
-Cổ phần hoá một bộ phận DNNN mà nhà nước không cần giữ 100% vốn
- Triển khai việc giao ,bán và khoán kinh doanh,cho thuê các DNNN có qui mô nhỏ.
DNNN có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên do những bất cập còn tồn tại mà tình trạng DNNN là con cưng được Nhà nước giang tay bảo hộ cộng với trình độ quản lý còn yếu kém dẫn tới việc hoạt động kém hiệu quả gây thất thoát cho ngân quỹ quốc gia mà ví dụ điển hình gần đây là vụ việc tập đoàn Vinashin gây nhiều phản ứng bất bình trong dư luận xã hội
Những tồn tại trong đổi mới cơ chế ,chính sách đối với DNNN
-DNNN chưa thực sự hạch toán kinh doanh trong cơ chế thị trường .
-DNNN còn bị nhiều trói buộc,chưa thực sự được tự chủ trong kinh doanh phù hợp với cơ chế thị trường như doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
-Cơ chế ,chính sách tiền lương và phân phối lợi nhuận để lại DNNN chưa thực sự tạo được động lực cả với công nhân và người quản lý.
-Chế độ thuế còn bất hợp lí cần được tiếp tục bổ sung và sửa đổi,ổn định trong một thời gían nhất định.
-Việc cổ phần hoá,đa dạng hoá các hình thức sở hữu trong doanh nghiệp,với mô hình công ty cổ phần có vốn của nhà nước chi phối hoặc tham gia,còn nhiều vướng mắc và cơ chế tiến hành.
-Các tổng công ty còn gặp nhiều vướng mắc trong thực tiễn ,hạn chế việc thực hiện chức năng nhiệm vụ.
-Chưa có chính sách hữu hiệu để giải quyết tình trạng nợ nần không có khả năng thanh toán ,tình trạng lao động dôi dư lớn và đổi mới công nghệ vốn đã quá cũ kĩ, lạc hậu ở các DNNN.
-Nhiều chủ trương đổi mới của đảng đối với DNNN được thể chế hoá và đưa vào thực hiện chậm ,hoặc chưa được thể chế hoá. 
CÁC GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH CHỦ YẾU
1-Làm cho các cấp, các ngành, các doanh nghiệp nhà nước quán triệt sâu sắc và có nhận thức đúng đắn về chủ trương, chính sách và giải pháp đổi mới và phát triển doanh nghiệp Nhà nước.
2-Các giải pháp cho vấn đề lao động, việc làm
3-Các giải pháp phù hợp để giải quyết các khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước.
4-Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách phù hợp với từng đối tượng như doanh nghiệp hoạt động công ích, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
5-Thẩm định, kiểm tra chặt chẽ, nghiêm ngặt việc thành lập mới doanh nghiệp của Nhà nước.
6-Tiếp tục củng cố, sắp xếp và hoàn thiện tổng công ty Nhà nước
-Đẩy mạnh sắp xếp các tổng công ty Nhà nước
[I]7-Thành lập công ty đầu tư tài chính của nhà nước.
8-Bổ sung, hoàn thiện các chính sách đối với các hình thức chuyển đốỉ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước.
9-Bồi dưỡng, đào tạo đôị ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp Nhà nước.
Trả Lời Với Trích Dẫn Thực trạng sở hữu đất đai
Quy định về sở hữu đất đai

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia thì chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của chúng ta mang tính thuật ngữ. Luật chưa làm rõ được quyền sở hữu đất đai. Ngay trong Hiến pháp, sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước được đánh đồng với nhau trong khi yêu cầu thống nhất khái niệm dưới góc độ tiếp cận pháp lý thuần túy là rất cần thiết để tránh sự hiểu lầm nảy sinh nhiều khó khăn khác trong hoạt động quản lý của Nhà nước.
Nói Nhà nước quản lý đất đai, nhưng luật chưa làm rõ được quản lý với tư cách là đại diện chủ sở hữu thì khó phân biệt được với quản lý nói chung - việc mà bất kỳ nhà nước nào, dù không phải là chủ sở hữu đất đai, cũng thực hiện. Vì vậy, nhà nước không thực hiện được chức năng điều tiết lợi ích chung của xã hội, và để xảy ra tình trạng tiêu cực như đầu cơ đất, giá bất động sản bị thả nổi…
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia thì sẽ tiếp tục có cách hiểu ngoài xã hội rằng cá nhân cũng có quyền sở hữu đất, chứ không phải quyền sử dụng đất. Điều này thể hiện ở việc khái niệm giá đất vẫn được sử dụng chứ không phải là giá trị quyền sử dụng đất. Quy định về vấn đề đất đai vẫn tồn tại tình trạng không thống nhất khái niệm giữa các luật chuyên ngành với nhau, giữa các luật chuyên ngành với Hiến pháp. Và như vậy khi xảy ra tranh chấp sẽ không thể giải quyết được. Theo số liệu thống kê thì số lượng khiếu kiện đất đai chiếm hơn hai phần ba đơn thư.
Vấn đề tích tụ đất phát triển kinh tế trang trại phải quy định chặt chẽ hơn nữa. Thực tế đã xuất hiện trường hợp núp bóng trang trại để đầu cơ đất đai kiếm lời. Nông dân từ chỗ làm chủ, sau khi chuyển nhượng đất giá rẻ, trở thành người làm thuê.
Mặc dù hiện nay UBND các tỉnh đầu năm đã lập khung giá đất và công bố rộngrãi. Tuy nhiên các phương pháp kiểm soát giá cả kèm theo chưa đủ mạnh, nên sẽ tiếp tục còn tình trạng địa tô chênh lệch lớn mà Nhà nước không thu được.
Hiện cũng đang có những vấn đề đất đai nảy sinh khi bố trí chỗ ở cho người lao động ở các khu công nghiệp. Công nhân sống chật chội với 6-7 người trong một căn phòng 10 m2. Vì vậy luật cần quy định trách nhiệm khi quy hoạch khu công nghiệp phải giành quỹ đất cho nhà ở cùng các công trình văn hóa thể thao phục vụ người lao động. Tuy nhiên việc cấp giấy tờ nhà đất thủ tục hành chính còn rườm rà. Rất nhiều người sinh sống hàng chục năm trong các khu nhà do nhà máy cấp, nay không thể xin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặt khác thời gian quy định quy hoạch cấp tỉnh ổn định 5 năm, cấp huyện ổn định trong 1 năm khó tạo tâm lý yên tâm làm ăn cho người dân. Trong khi đó việc thu hồi đất chỉ báo trước 3 tháng, người bị thu hồi không xoay xở kịp. Việc nâng thời gian báo trước này lên 2 năm, đồng thời với cơ chế đền bù đất bị thu hồi phải có chính sách tạo việc làm cho người dân là rất cần thiết nhưng hiện nay chưa được chú trọng .

Việc luật cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất và chấp nhận các quy luật thị trường vào việc định giá đất - các quy định này liệu có mâu thuẫn với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai?
Nguyên nhân căn bản của nhiều vấn đề liên quan tới luật đất đai ở Việt Nam là đất đai vẫn do Nhà nước (thay mặt cho toàn dân) quản lý, cho dù nền kinh tế đã dịch chuyển theo định hướng thị trường. Điều này dẫn đến một hệ thống pháp lý về sở hữu pháp lý đất đai không rõ ràng và những bất cập trong xác định quyền hạn đối với đất đai. Vấn đề về mặt lý luận này gây ra tình trạng không rõ ràng và cản trở quá trình phát triển thị trường bất động sản ở Việt Nam. Chính phủ có thể xem xét giải quyết vấn đề này bằng cách giảm sự phân biệt giữa các loại quyền sử dụng đất đi kèm theo các quyền lợi khác nhau ở Việt Nam. Ví dụ: giữa việc giao đất không thu hay có thu tiền sử dụng đất, thuê đất v.v. có thể so sánh hệ thống không rõ ràng ở Việt Nam với khái niệm sở hữu ở Hồng Kông, nơi mà cũng không có quyền sở hữu đất tư nhân song có một hệ thống quyền thuê đất - là quyền rõ ràng trong thời hạn bao lâu và cho mục đích sử dụng gì. Hệ thống này tạo sự ổn định cho nhà đầu tư mà không cần phải có quyền sở hữu tư nhân về đất đai.
Đất đai: một trong ba yếu tố đầu vào khi hội nhập kinh tế quốc tếNhững quy định trong Luật Đất đai năm 2003 chứng minh quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế (lược thuật lời của Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, GS-TSKH Đặng Hùng Võ) :
Thứ nhất, trong Luật Đất đai năm 1993 có một Chương riêng để quy định về quyền sử dụng đất có yếu tố nước ngoài, nhưng trong Luật Đất đai năm 2003 không còn Chương này nữa. Nhà đầu tư nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư ở Việt Nam được pháp luật cư xử bình đẳng như các nhà đầu tư trong nước.
Thứ hai, Luật Đất đai năm 2003 đã cắt phần lớn cơ chế bao cấp về đất của Nhà nước, áp dụng hệ thống tài chính đất đai một giá đất phù hợp với giá thị trường.
Thứ ba, không có bất kỳ một quy định nào mang lại ưu đãi về đất cho các tổ chức kinh tế của Nhà nước, các thành phần kinh tế trong nước hoàn toàn bình đẳng về quyền sử dụng đất.
Thứ tư, quyền sử dụng đối với thửa đất là tài sản của người sử dụng đất, quyền tài sản đó được pháp luật dân sự bảo hộ như các tài sản khác và được tham gia thị trường bất động sản.
Thứ năm, thủ tục hành chính trong quản lý đất đai được cải cách triệt để theo hướng phục vụ người sử dụng đất thông qua hệ thống dịch vụ công của các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.
Hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành về đất đai của Việt Nam khi trở thành thành viên của WTO
Mục tiêu đặt ra là sau thời gian 12 năm Việt Nam phải có một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh theo chuẩn mực của WTO và hệ thống thương mại phải tuân thủ các hiệp định của WTO dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản là: "Tối huệ quốc đa phương"; "Ưu đãi quốc gia cho hàng hoá trong nước ngang bằng với hàng hoá nhập khẩu"; "Mở cửa thị trường cho hàng nhập khẩu"; "Cạnh tranh công bằng". Đối tượng điều chỉnh của các hiệp định này là hàng hoá vật thể, hàng hoá dịch vụ và hàng hoá trí tuệ. Cơ chế tác động trực tiếp lên hàng hoá mà các nước thành viên của WTO quan tâm là hải quan, hàng rào thuế quan, hàng rào phi thuế quan.
Với những điểm cốt yếu như trên khi hội nhập kinh tế quốc tế trong WTO, tưởng như vấn đề đất đai không có gì liên quan lắm. Lúc này, cần nhìn đất đai là 1 trong 3 yếu tố đầu vào của quá trình phát triển kinh tế - xã hội (đất đai, lao động, vốn). Đất đai có liên quan tới cơ chế ưu đãi cho đầu tư (giữa nước ngoài và trong nước); mở cửa thị trường cho đầu tư nước ngoài, trong đó có đầu tư xây dựng kinh doanh bất động sản; mở cửa thị trường dịch vụ trong đó có dịch vụ ngân hàng trong thế chấp bằng đất; bảo đảm tính công bằng về quyền tiếp cận đến quỹ đất của các thành phần kinh tế.
Hệ thống chính sách đất đai phải bảo đảm tính công bằng đối với mọi thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài. Hệ thống pháp luật đất đai phải tương thích với pháp luật đất đai của các nước đã thực hiện xong các cam kết trong lộ trình hội nhập. So với các nước này, pháp luật về đất đai của nước ta còn một số điểm kháccần tiếp tục đổi mới.
Cụ thể: chúng ta chỉ công nhận một hình thức sở hữu toàn dân về đất đai (các nước công nhận đa sở hữu về đất đai); cơ chế Nhà nước thu hồi đất và giao hoặc cho thuê đất chưa thực sự phù hợp với cơ chế thị trường; doanh nghiệp nước ngoài chỉ được thuê đất của Nhà nước hoặc của tổ chức kinh tế trong nước, không được Nhà nước giao đất, không được thuê đất của hộ gia đình và cá nhân, không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất; thế chấp bằng quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện với các tổ chức tín dụng nước ngoài có pháp nhân ở Việt Nam.
Theo quan điểm của của Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đặng Hùng Võ thì Quyền lợi, nghĩa vụ người sử dụng đất VN không khác các nước khác trên thế giới. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta chỉ mang tính thuật ngữ. Bản chất các quyền năng về sở hữu đối với đất đai đã được thể hiện rất rõ trong Luật Đất đai năm 2003. Sở hữu về đất đai có đặc thù riêng, có phần "của riêng" và có phần "của chung", không giống sở hữu đối với các đối tượng khác.

Chúng ta tiếp cận đến sở hữu đất đai bằng con đường chỉ công nhận hình thức sở hữu toàn dân và giao một số quyền năng sở hữu cho người sử dụng. Các nước khác lại sử dụng cách tiếp cận là công nhận nhiều hình thức sở hữu nhưng hạn chế lại để chuyển một số quyền năng sở hữu cho Nhà nước.
Quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất ở nước takhông khác so với quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai ở các nước.Về điều này, một minh chứng về chế độ sở hữu toàn dân là vấn đề đất đai của nước ta không gây bất kỳ ảnh hưởng nào tới cơ chế thị trường trong vụ kiện xuất khẩu cá basa, tôm, hàng dệt may của nước ta. Các chuyên gia, các nhà đầu tư nước ngoài đã công nhận. Điểm đến của ta và các nước khác làtrùngnhau, chỉ khác nhau về giải thích thuật ngữ.
Pháp luật về đất đai nước ta có đặt ra một nguyên tắc là tổ chức, cá nhân nước ngoài không được sở hữu quyền sử dụng đất ở Việt Nam. Thứ trưởng Đặng Hùng Võ cho rằng đây cũng chỉ mang tính hình thức vì tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất của Nhà nước có thời hạn có quyền và nghĩa vụ trong thời hạn đó như quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế trong nước được Nhà nước giao đất có thời hạn. Như vậy chỉ còn gọi tên động tác này là "Nhà nước giao đất" hay "Nhà nước cho thuê đất". Cũng là cùng nội dung chỉ khác nhau về hình thức.Khi hình thức "Nhà nước giao đất có thời hạn cho tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài" được pháp luật thừa nhận thì vấn đề tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài nhận chuyển nhượng có thời hạn đối với quyền sử dụng đất; thuê đất của hộ gia đình, cá nhân; nhận thế chấp bằng đất đai cũng sẽ được pháp luật thừa nhận.
Xét về phương diện “sở hữu toàn dân về đất đai” có thể nêu một số vấn đề ở góc độ lý thuyết
Thứ nhất, khi Hiến pháp ghi rằng “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” thì cần coi đó là tuyên ngôn chính trị về sở hữu hơn là một chế định pháp lý. Đất đai nói chung, tương tự như không khí và ánh sáng là các yếu tố thuộc về môi trường sống tự nhiên, nên không thể là “tài sản” thuộc phạm trù sở hữu của luật Dân sự được. Thay vào đó, các “mảnh đất” hay “thửa đất” cụ thể mới là đối tượng của sở hữu theo pháp luật. Luật về đất đai của các nước, do đó, chính là luật về địa chính.
Thứ hai, khi tuyên bố đất đai thuộc sở hữu toàn dân trên cơ sở Luật Đất đai năm 1980, Nhà nước đã vô hiệu hóa toàn bộ sở hữu tư nhân về đất đai ở Việt Nam. Tuy nhiên, bởi “đất đai” và “thửa đất” (hay “mảnh đất”) thuộc hai phạm trù khác nhau, do đó, trên thực tế, quá trình quốc hữu hoá các “mảnh đất” và “thửa đất” cụ thể đã không xảy ra sau đó.
Nói cách khác, Nhà nước vẫn phải thừa nhận một thực tế khách quan là ai ở đâu (trên mảnh đất nào) thì vẫn ở đó. Có nghĩa rằng về mặt pháp lý, Nhà nước chỉ can thiệp vào hai khía cạnh của quyền sở hữu đất đai, đó quyền sử dụng và quyền định đoạt (chứ không tước đoạt hay giành lấy các quyền này). Theo đó, người dân (chủ sử dụng đất) muốn thay đổi mục đích sử dụng hay chuyển đổi, chuyển nhượng chủ quyền đối với các mảnh đất, thửa đất của mình thì phải xin phép và phải được sự đồng ý của Nhà nước.
Như vậy, động cơ của hành động “quốc hữu hoá” nói trên không phải nằm ở vấn đề quyền sở hữu mà ở chính sách của Nhà nước nhằm kế hoạch hoá một cách triệt để các quan hệ liên quan đến sở hữu đất đất đai.
Thứ ba, ngày nay, khi triển khai xây dựng nền kinh tế thị trường, chủ trương kế họach hoá của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội không còn nữa, dẫn đến chế định sở hữu toàn dân đối với đất đai cũng mất hết ý nghĩa. Không những thế, việc tiếp tục duy trì chế định sở hữu này còn trực tiếp và/hoặc gián tiếp cản trở sự phát triển của nền kinh tế và quá trình làm giàu của người dân thông qua việc hạn chế người dân biến các mảnh đất, thửa đất của mình thành tài sản và/hoặc vốn đầu tư. Mặt khác, chế định này còn đã và đang gây ra các “lạm dụng” một cách công khai hay bí mật của tất cả các chủ thể liên quan đến sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất đai, bao gồm cả chính các cơ quan chính quyền, qua đó, thay vì chuyển đất đai thành tài sản và vốn đầu tư để phát triển kinh tế và đời sống thì biến nó thành phương tiện đầu cơ để trục lợi bằng tiền bạc ngắn hạn.
Thứ tư,phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, một quá trình tư nhân hoá về sở hữu đất đai đã và đang diễn ra trên thực tế một cách không thể tránh khỏi, dẫn đến vô hiệu hoá chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.
Như trên đã nói, “chủ sở hữu đất đai” luôn luôn tách rời khỏi người chiếm hữu và sử dụng đất. Nhà nước (là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai) cố gắng duy trì quyền sở hữu của mình bằng cách can thiệp vào quá trình sử dụng và định đoạt đất. Tuy nhiên, cách này đã và đang dần dần bị hạn chế và/hoặc khống chế bởi chính các yếu tố thị trường. Sự tác động của các quy luật thị trường (không chỉ bó hẹp trong nước mà còn bao gồm cả thị trường quốc tế và toàn cầu) gây sức ép làm phá vỡ các kế hoạch chủ động, và trên thực tế những năm vừa qua đã buộc các cơ quan Nhà nước thường xuyên phải thay đổi các quy hoạch phát triển kinh tế nói chung và quy hoạch sử dụng đất nói riêng đã ban hành.
Hơn nữa, các dự án đó lại được khởi xướng và quyết định bởi các lực lượng tư nhân, là đối tượng chắc chắn chủ yếu quan tâm đến tỷ suất thu hồi đầu tư và lợi nhuận, hơn là những mục tiêu quốc kế, dân sinh. Câu hỏi đặt ra là các cơ quan cấp phép đầu tư có thể từ chối cho phép các dự án đu tư mang tính “gây sức ép” như vậy được không? Có thể, nhưng rất khó, bởi về mặt công khai, Nhà nước đang và luôn luôn đứng trước một sức ép khác còn lớn và có tính trực tiếp hơn, đó là nâng cao và duy trì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, đồng thời tạo ra công ăn việc làm, lấy phát triển kinh tế để bảo đảm ổn định chính trị và xã hội.
Trở lại khía cạnh sở hữu về đất đai, vấn đề chính ở chỗ các dự án kinh tế có phải luôn luôn được triển khai như cam kết của nhà đầu tư hay không, để qua đó cơ quan Nhà nước vẫn bảo đảm được các quy hoạch và kế hoạch về sử dụng đất? Thực tế vừa qua, trong phần lớn các trường hợp rủi ro đối với triển khai dự án, các cơ quan quản lý Nhà nước lại khó có thể thu hồi mà thường sẵn sàng đồng ý để chủ đầu tư gia hạn sử dụng đất, chuyển đổi mục đích và/hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tổ chức, cá nhân khác. Đối với không ít dự án kinh tế, các quá trình gia hạn, chuyển đổi và chuyển nhượng lại có thể tiếp tục diễn ra thêm một vòng hay nhiều vòng nữa, để cuối cùng, các khu đất đã được cấp vẫn nguyên hình là “đất” trong khi các lợi ích của các chủ đầu tư liên quan vẫn được thu hồi đầy đủ, thông qua việc quay vòng kinh doanh và buôn bán cái gọi là “thương quyền” đối với đất đai.
“Sổ đỏ” thực chất có ý nghĩa gì?
Đối với đất ở dân sinh, “sổ đỏ” chỉ tái xác nhận “ai ở đâu vẫn ở đấy”, và do đó, người dân không thấy có ích lợi gì một khi nhận thức rằng đó là đất thuộc sở hữu của ông cha để lại hoặc đã bỏ tiền ra mua từ trước, nay để nhận được một “tờ giấy màu đỏ” lại phải nộp tiền và làm các thủ tục phiền hà. Nếu đất có “sổ đỏ” sẽ dễ dàng mua bán, chuyển nhượng hơn thì xét từ lợi ích của người dân, đó cũng chỉ là các thủ tục do chính Nhà nước đặt ra trong khi từ trước đó, họ vẫn giao dịch bằng giấy viết tay.
Trên thực tế, trong các giao dịch đất đai hiện nay, đặc biệt là đất ở, nếu đối với cơ quan nhà nước, khi tiến hành các thủ tục hành chính liên quan, chỉ cần dựa trên “sổ đỏ” được cấp cho các mảnh đất. Song, theo tập quán của giao dịch dân sự thì người dân vẫn hiểu rằng người đứng tên trên “sổ đỏ” chỉ là người đại diện cho các chủ sở hữu để tiếp nhận “sổ đỏ” mà thôi. Do vậy, khi tiến hành giao dịch, bên mua vẫn yêu cầu có sự đồng ý của tất cả những đồng sở hữu hoặc có quyền và lợi ích liên quan khác đối với mảnh đất. Trong trường hợp này, có thể thấy rằng các “yếu tố dân sự” được coi trọng và thực hiện triệt để hơn các “yếu tố hành chính”.
“Sổ đỏ”, một khi được cấp, đương nhiên sẽ tạo thuận lợi hơn cho bên cho vay tiền (nhất là các ngân hàng) tiếp nhận thế chấp đối với quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, vấn đề phức tạp và các khó khăn lại xảy ra khi xử lý các thế chấp như vậy. Ngân hàng hay các bên cho vay hoàn toàn không dễ dàng phát mại tài sản thế chấp hay tiếp nhận quyền sử dụng đất thay thế bên vay, bởi phụ thuộc một loạt các điều kiện được pháp luật quy định về chủ thể, mục đích, hình thức và thời hạn sử dụng đất như đã nói ở trên.
Hàng loạt các “sổ đỏ” đã được cấp sau các nỗ lực rất lớn của các cơ quan quản lý địa chính trong thời gian qua sẽ có thể phát huy tác dụng rất lớn cho đời sống dân sinh và đời sống kinh tế nếu nó thật sự là các “chứng thư về sở hữu” đối với đất đai. Tuy nhiên với tính chất chỉ là các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (như tên gọi của nó), trong khi quyền sở hữu vẫn nằm trong tay “người khác” thì tác dụng và ý nghĩa của nó đã bị hạn chế rất nhiều.
“Rào cản” đối với phát triển
Khi nói đến phát triển trong nền kinh tế thị trường tức là phát huy quyền tự do sáng tạo của người dân với tư cách là các chủ thể kinh tế. Theo đó, người dân cần phải có quyền tự do sử dụng các “mảnh đất”, “thửa đất” của mình như một phương tiện và/hoặc tài sản (hay vốn) kinh doanh. Nói đến “phương tiện” là nói đến tính linh hoạt và đa dạng về mục đích sử dụng. Còn nói đến “vốn” hay “tài sản” trong kinh doanh tức nói đến khả năng chuyển dịch đơn giản và thuận tiện để “quay vòng” làm tăng giá trị đồng vốn và tài sản.
Các khả năng này, rất tiếc đều bị cản trở hay hạn chế chính bởi cơ chế “sở hữu toàn dân”, trong đó điển hình là năm loại giới hạn về (i) chủ thể sử dụng đất (tức ai được giao đất hay thuê đất với các tiêu chí do cơ quan quản lý nhà nước quyết định), (ii) mục đích sử dụng đất (với các phân định rất chi tiết về các loại đất và hình thức pháp lý để có đất phụ thuộc vào mục đích sử dụng), (iii) quyền liên quan đến việc sử dụng (ví dụ quyền thế chấp, chuyển nhượng, thừa kế v.v..), (iv) thời hạn sử dụng đất (được quy định phổ biến là 20, 30 hay 50 năm, trừ đất ở dân sinh), và (v) thủ tục hành chính nặng nề và phức tạp để chuyển dịch và chuyển đổi quyền sử dụng đất.
Lạm dụng trong quy hoạch và thu hồi
Trong thời gian qua, các “lạm dụng” trong lĩnh vực đất đai chủ yếu đến từ các doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước tại các địa phương. Sự “lạm dụng” xảy ra đặc biệt nghiêm trọng trong hai khía cạnh (i) quy hoạch sử dụng đất và (ii) thu hồi quyền sử dụng đất hiện hữu của người dân (nhất là nông dân) để xây dựng các dự án công nghiệp và thương mại.
Về mặt lý thuyết, quyền quy hoạch sử dụng đất đương nhiên thuộc chủ sở hữu đất. Vậy nếu chủ sở hữu là “toàn dân” thì nhân dân phải được tham gia xây dựng quy hoạch. Trên thực tế, nhân danh vai trò “đại diện chủ sở hữu toàn dân”, các cơ quan chính quyền nắm giữ toàn quyền và độc quyền trong việc lập và sửa đổi quy hoạch. Quá trình lạm dụng sẽ bắt đầu một cách “bài bản” khi có các nhóm lợi ích tư nhân từ phía các doanh nghiệp tham gia, thậm chí chi phối, dẫn đến hậu quả là quy hoạch không còn phục vụ các mục đích “quốc kế dân sinh” mà chỉ nhằm hỗ trợ các nhóm lợi ích tư nhân tìm kiếm lợi nhuận thông qua các dự án kinh tế cụ thể.
Ngoài ra, Luật đất đai và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành đã hợp thức quyền thu hồi đất của người đang sử dụng để phát triển các dự án kinh tế mà không tính đến tính chất và mục tiêu của các dự án này. Khác với nền kinh tế kế hoạch trước đây, trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các dự án kinh tế được hình thành trên cơ sở các cân nhắc về lợi ích thương mại và vì động cơ lợi nhuận của cá nhân hoặc nhóm cá nhân các nhà kinh doanh. Một sự cần thiết hay nhất thiết phải phân biệt giữa dự án vì lợi ích công cộng (trong đó có lợi ích của chính những người bị thu hồi đất) và dự án vì mục đích thương mại thuần tuý đã không được tính đến khi ban hành các văn bản pháp luật về đất đai và đầu tư. Do đó, hậu quả của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá thời gian qua là sự mất và giảm nghiêm trọng “đất trồng lúa” và biến hàng triệu nông dân thành “tay trắng” về phương diện tư liệu sản xuất. Sự “lạm dụng” đó có nguyên nhân từ một cơ chế tâm lý và pháp lý đặc thù hình thành từ chế độ sở hữu toàn dân về đất đa
 2.2.Thực tiễn áp dụng hình thức sở hữu tập thể
Ở Việt Nam, sở hữu tập thể được hình thành và phát triển phổ biến trong lĩnh vực nông nghiệp và thủ công nghiệp. Chế độ sở hữu mới đã phát huy được vai trò tích cực trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp, và tiểu thủ công nghiệp cải tạo nông thôn và đời sống vật chất, tinh thần của nông dân và thợ thủ công. Mặt khác, chế độ đó cũng phát huy vai trò vô cùng to lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc.

Chính sách ruộng đất ở Miền Bắc Việt Nam thời kỳ 1958 đến trước năm 1975
Sau thời kỳ khôi phục kinh tế, Đảng và NNVNDCCH chủ trương cải tạo XHCN
đối với nông nghiệp bằng hình thức hợp tác xã. Vấn đề ruộng đất được đặt ra và giải quyết thông qua phong trào hợp tác hoá là một nội dung cơ bản của hợp tác xã nông nghiệp. Xác lập chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất gắn liền với tổ chức lao động tập thể trong các hợp tác xã nông nghiệp từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn. Từ đây, kinh tế hộ nông dân bị coi là kinh tế phụ.
Đầu những năm 1960, ở Miền Bắc với chế độ làm ăn tập thể, người nông dân đem ruộng đất, nông cụ trâu bò thuộc quyền sở hữu của mình vào làm ăn tập thể. Những tài sản này được định giá và hợp tác xã thanh toán dần cho xã viên cho đến hết thì trở thành tài sản thuộc quyền sở hữu tập thể của hợp tác xã. Kết quả, trong hơn một nǎm, từ tháng 4-1959 đến mùa thu 1960, đã tập thể hoá 76% diện tích ruộng đất canh tác của 2,4 triệu hộ nông dân, chiếm 84,8% tổng số hộ nông dân miền Bắc.

Từ nǎm 1961 trở đi, Nhà nước tập trung củng cố, tǎng cường và mở rộng mô hình sở hữu tập thể, bằng một loạt cuộc vận động ở nông thôn. Nội dung cơ bản của các cuộc vận động thể hiện trên những điểm sau:

Một là, mở rộng quy mô sở hữu tập thể về ruộng đất từ thôn lên liên thôn, đỉnh cao là quy mô toàn xã sau Hội nghị nông nghiệp ở Thái Bình tháng 8-1974.

Hai là, xác lập và thực hiện cơ chế quản lý tập trung trong kinh tế nông nghiệp từ vi mô đến vĩ mô. Quản lý và sử dụng ruộng đất tập trung thống nhất theo chế độ sở hữu tập thể. Mọi phân biệt về lợi ích kinh tế trên đất đai đều bị xoá bỏ.
Về phân phối, thực hiện nguyên tắc "trừ lùi" (thuế, quỹ, chi phí sản xuất, các khoản điều hoà...), còn lại chia theo ngày công, bằng hiện vật.

Ba là, cơ chế vận hành của mô hình tập thể hoá triệt để ruộng đất, sức lao động và các tư liệu sản xuất khác của nông dân bằng một bộ máy hành chính hoá, qua nhiều tầng nấc trung gian từ Trung ương xuống tỉnh, huyện, xã và hợp tác xã.

Những chủ trương và biện pháp trong quá trình hợp tác hoá nông nghiệp đã tạo ra “một cuộc cải cách ruộng đất” thứ hai nhằm thiết lập chế độ sở hữu tập thể về
ruộng đất
trong đời sống kinh tế xã hội nông thôn miền Bắc suốt 20 nǎm (1960-1980).

Tuy nhiên, trong điều kiện lịch sử cụ thể lúc bấy giờ chế độ tập thể hoá đất đai đã đem lại một số lợi ích thiết thực: đã xây dựng được một hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật bước đầu, đặc biệt là hệ thống thuỷ lợi, cải tạo đồng ruộng, phát triển giao thông nông thôn, khai hoang, phục hoá. Nhiều tiến bộ khoa học - kỹ thuật được áp dụng trong nông nghiệp, làm thay đổi tập quán và phương pháp canh tác cổ truyền, đưa lại nǎng suất cao, nhất là nǎng suất lúa. Trong thời kỳ cả nước có chiến tranh, mô hình tập thể hoá triệt để này đã góp phần to lớn vào việc cung cấp sức người, sức của cho
kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Xét về bản chất kinh tế, việc tập thể hoá quyền sở hữu ruộng đất dần dần có những mặt trái và hết sức hạn chế của nó, đó là:
- Quá trình củng cố mô hình kinh tế tập thể hoá quyền sở hữu ruộng đất chính là quá trình tách lao động nông nghiệp ra khỏi ruộng đất mà hệ quả trực tiếp là làm tha hoá người lao động, đỉnh cao là thời kỳ 1976-1980.
- Kinh tế hộ nông dân bị hoà tan vào kinh tế tập thể. Các thành viên lao động trong gia đình nông dân bị xé lẻ, phân công vào các đội chuyên hoặc đội cơ bản đặt dưới sự điều hành của bộ máy quản lý tập trung.
- Chức nǎng kinh tế của hộ gia đình cơ bản bị thủ tiêu, chỉ còn lại chức nǎng xã hội. Lợi ích kinh tế trực tiếp của người lao động bị vi phạm đã làm mất đi sự thiết tha với ruộng đất, làm mất đi bản chất cần cù một nắng hai sương của người nông dân
Việt Nam.
- Do cơ chế quản lý tập trung quan liêu, ruộng đất thuộc sở hữu và sử dụng tập thể theo kiểu "cha chung không ai khóc" đã dẫn đến tình trạng vô chủ trong quản lý và
sử dụng đất đai, gây ra lãng phí và mất đất đai nghiêm trọng ở Nam Hà, Thanh Hoá và Hải Hưng mỗi tỉnh mất 2 vạn hécta. Trong 10 nǎm (1961-1971), mỗi tỉnh mất đi
diện tích canh tác bằng diện tích hai huyện, còn đất gieo trồng ở miền Bắc mất đi bằng diện tích hai tỉnh.

Nguyên nhân chính xuất phát từ chỗ :
- Do vi phạm các nguyên tắc về hợp tác hoá, đã bỏ qua nội dung kinh tế của các nguyên tắc này. Cơ sở kinh tế của nguyên tắc tự nguyện chính là sự xã hội hoá sức sản xuất, trên cơ sở đó xuất hiện nhu cầu hợp tác hoá các hộ nông dân, hợp tác ở những khâu nào có lợi nhất cho phát triển sản xuất.
- Cơ sở kinh tế cǎn bản nhất của nông dân là quyền làm chủ sử dụng ruộng đất. Trong tập thể hoá, NNVN đã xoá bỏ ngay từ đầu cơ sở kinh tế này. Song, trên thực tế là do nhận thức đơn giản, giáo điều, duy ý chí về chế độ kinh tế XHCN. Cụ thể là: quan niệm thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chỉ tồn tại hai hình thức sở hữu: toàn dân và tập thể, và sau này đồng nghĩa với sở hữu nhà nước, từ đó đã nóng vội muốn nhanh chóng xoá bỏ các loại hình sở hữu khác, coi đó là điều kiện tiên quyết để xây dựng chế độ kinh tế mới trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết.
- Do phân phối bình quân, lợi ích kinh tế của nông dân bị vi phạm đã dẫn đến thủ tiêu động lực sản xuất của người lao động.
- Hoạt động "quản lý là khâu yếu kém nhất, ruộng đất được tập thể hoá nhưng sử dụng không có kế hoạch, dẫn đến cày sâu cấy muộn, bỏ sót ruộng, nǎng suất và sản lượng thấp. Cán bộ quản lý thiếu nǎng lực do trình độ vǎn hoá thấp, không đủ kinh nghiệm quản lý sản xuất, từ đó dẫn đến hiệu quả kinh tế giảm sút, không hơn sản xuất cá thể".

Vi dụ:

Lâm Đồng là địa phương duy nhất trong cả nước còn tồn tại các HTX nông nghiệp kiểu cũ với tư liệu sản xuất thuộc sở hữu tập thể. Hàng chục năm qua, các HTX này hoạt động kém hiệu quả, nợ nần chồng chất.

Vấn nạn “cha chung”
11 HTX nông nghiệp kiểu cũ còn tồn tại ở Lâm Đồng là An Lạc (Bảo Lâm), Thạnh Nghĩa (Đơn Dương), Đông Di Linh và Tây Di Linh (Di Linh) và 7 HTX ở Bảo Lộc. Các HTX này có hơn 4.000 xã viên, hàng vạn lao động và đang sở hữu hàng ngàn ha cây trồng.

Đất đai chủ yếu do xã viên đưa vào HTX nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) lại thuộc về HTX. Xã viên chỉ được giao đất để sản xuất rồi nộp từ 3-7%
sản lượng cho HTX chứ không có quyền chuyển nhượng, cho thuê; không được thế chấp để vay vốn; không thể chủ động chuyển đổi giống và cơ cấu cây trồng, do đó năng suất, chất lượng sản phẩm trên một đơn vị diện tích thấp hơn nhiều so với các hộ cá thể.

Mỗi HTX sở hữu trung bình 150 ha đất (giá trị tài sản cố định từ vườn cây lên tới nhiều tỷ đồng) nhưng số tiền thu khoán chỉ khoảng 100 triệu đồng mỗi năm nên hầu như không có vốn để hoạt động. Tiêu biểu, HTX An Lạc sở hữu tới 300 ha chè và cà phê nhưng chỉ có 430 ngàn đồng vốn lưu động.

Do công tác quản lý yếu kém nên nhiều xã viên chây ỳ không chịu trả nợ khiến việc thu hồi vốn của HTX rất khó khăn dẫn đến tình trạng lãi mẹ đẻ lãi con, nợ nần chồng chất.

HTX Đông Di Linh đầu tư ứng trước 5,3 tỷ đồng cho xã viên từ những năm 2002 – 2003 nhưng đến nay xã viên vẫn còn nợ 4,1 tỷ, do đó HTX thiếu vốn trầm trọng, không đủ chi phí quản lý và trả lãi ngân hàng; cán bộ quản lý chỉ được trả thù lao vài ba trăm ngàn một tháng và không có bảo hiểm xã hội…

Bởi mô hình HTX kiểu cũ chỉ còn tồn tại ở Lâm Đồng nên xã viên chịu nhiều
thiệt thòi: Việc miễn thuế nông nghiệp và miễn lãi suất vay vốn cà phê đều bị chậm trễ vì phải gửi công văn ra Chính phủ để xin bổ sung đối tượng được hưởng chính sách là hộ xã viên.

Tiến trình chuyển đổi quá chậm

Từ những năm 2003-2005, nhiều xã viên đã bức xúc kiến nghị nhưng mãi đến tháng 2/2006, UBND tỉnh Lâm Đồng mới ra quyết định tổ chức triển khai “Hóa giá vườn cây và chuyển giao quyền sử dụng đất (HGVC&CGQSDĐ) của HTX cho hộ xã viên quản lý sử dụng”.
Mỗi vườn cây được tính toán, xác định giá trị để hóa giá rồi cấp sổ đỏ cho hộ xã viên đang trực tiếp sản xuất. Số tiền HGVC sẽ được bổ sung vào vốn sản xuất kinh doanh của HTX để phát triển ngành nghề, tăng cường các hoạt động dịch vụ, tín dụng…
Theo kế hoạch, đến tháng 6/2006 phải hoàn thành công tác này ở HTX Tiến Phát, sau đó mở rộng triển khai trong 10 HTX còn lại. “Có lẽ do sống trong bao cấp quá lâu nên cán bộ HTX thiếu năng động, sáng tạo khi xây dựng phương án hoạt động mới. Tổ chuyên viên phải hướng dẫn nhiều lần nên mất nhiều thời gian” - Tổ trưởng tổ chuyên viên Ban chỉ đạo HGVC&CGQSDĐ tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Văn Lục nhận định.
Thế nhưng, gần hết tháng 10/2006 mà phương án “HGVC&CGQSDĐ” của Tiến Phát vẫn chưa được chính quyền thông qua.
9 HTX khác cũng đã xây dựng phương án nhưng chưa thể triển khai vì chưa có biện pháp xử lý tài chính phù hợp, chưa định hướng được việc sử dụng nguồn vốn để kinh doanh…
Nguyên nhân do năng lực xây dựng phương án của các HTX còn nhiều hạn chế. Các ngành các cấp cũng chưa thực sự quan tâm chỉ đạo, đội ngũ của tổ chuyên viên còn mỏng, hoạt động chưa đồng đều…
Mặt khác hiện có sự chênh lệch rất lớn giữa diện tích giao khoán, diện tích trên bản đồ và diện tích thực tế. Qua kiểm tra 604 thửa đất của HTX Tiến Phát, có tới 216 thửa sai sót về diện tích.
Sau nhiều lần điều chỉnh của phường và thị xã, hiện vẫn còn 37 thửa có nhiều sai sót không thể điều chỉnh được, do đó Sở TN&MT phải tiến hành đo đạc lại bản đồ địa chính, điều chỉnh lô thửa.
Ban chỉ đạo HGVC&CGQSDĐ thừa nhận tiến độ triển khai còn chậm và cho biết đang đốc thúc các ban ngành và 11 HTX đẩy nhanh tiến độ bởi càng kéo dài hoạt động của HTX kiểu cũ thì càng lỗ nặng, phát sinh thêm những vụ tố cáo, khiếu nại phức tạp…/.
2.3.Thực tiễn áp dụng hình thức sở hữu tư nhân
Trên phương diện Pháp lý
Điều 15 (Hiến Pháp 1992): “…cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toán dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân…”
Điều 21 (Hiến Pháp 1992): “Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ hức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh”. Kinh tế tư nhân dựa trên nền tảng sở hữu tư nhân nên có thể thấy vai trò của “sở hữu tư nhân” đang ngày càng khẳng định vai trò của mình và từng bước được Đảng và Nhà Nước ta quan tâm hơn.
Điều 23 (Hiến Pháp 1992): “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng an ninh vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường…” cho thấy Hiến Pháp đã bảo vệ quyền lợi của người dân, ý nghĩa rất to lớn trong việc xây dựng Nhà nước Pháp quyền “của dân, do dân và vì dân”
Điều 58 (Hiến Pháp 1992): “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong Doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác…”
Trên phương diện kinh tế.
Góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất. Từ các hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân hình thành 6 thành phần kinh tế : kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Chính sự vận động của nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã mang đến cho nền kinh tế nước ta một sức sống mới. Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1991 – 2000 đạt bình quân 7%/năm, sau 10 năm GDP tăng 2,07 lần, các năm gần đây 2001, 2002 và 7 tháng đầu năm 2003 GDP đều tăng xấp xỉ 7%. Tốc độ tăng trưởng của công nghiệp bình quân trong 10 năm 1991 – 2000 đạt 13%, các năm gần đây đều có tốc độ tăng trưởng tương tự, đặc biệt 7 tháng đầu năm 2003 đạt trên 15%. Cơ cấu ngành kinh tế theo hướng hiện đại đang dần dần được hình thành. Chẳng hạn, trong GDP, tỷ trọng nông nghiệp từ 38,7% giảm xuống 24,3%; công nghiệp và xây dựng từ 22,7% tăng lên 36,6%; dịch vụ từ 38% tăng lên 39,1%
Góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta. Đa dạng hoá hình thức sở hữu góp phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta. Biểu hiện đầu tiên là, góp phần giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chuẩn nước ta) từ 30% xuống 10%, theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới (IMF) thu nhập dưới 2 đô la/người/ngày là nghèo, Việt Nam đã giảm nhanh tỷ lệ người nghèo từ 90% năm 1990 xuống còn 60% năm 2002. Với nền kinh tế nhiều thành phần hàng năm có thêm 1,2 triệu việc làm mới. Với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, điện, đường, trường, trạm đã vươn tới mọi miền của Tổ quốc. Tốc độ đô thị hoá nông thôn đang diễn ra nhanh chóng, chất lượng cuộc sống của nhân dân không ngừng được nâng cao. Tuổi thọ bình quân từ 65,2 tuổi tăng lên 68,3 tuổi. Biểu hiện thứ hai là, trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực và tính năng động xã hội được nâng lên đáng kể. Với hệ thống trường lớp đa thành phần tham gia, nước ta đã hoàn thành mục tiêu xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, bắt đầu phổ cập trung học cơ sở ở một số thành phố, tỉnh đồng bằng. Số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gấp 6 lần. Đào tạo nghề được mở rộng. Các hoạt động thông tin văn hoá về với mỗi bản làng, thôn xóm, từ hải đảo xa xôi đến vùng sâu, vùng xa đều đã được phủ sóng truyền hình và đài phát thanh. Chính vì vậy, lòng tin của nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới ngày càng tăng và sự nghiệp đổi mới của Đảng đang từng ngày, từng giờ đi vào cuộc sống của người dân
Tính đến giữa tháng 11/2010, lĩnh vực kinh tế tư nhân đã đóng góp cho ngân sách nhà nước 830,292 tỷ đồng, vượt 23% dự toán pháp lệnh, vượt 19% dự toán phấn đấu và tăng khoảng 50% so với thực hiện cùng kỳ năm 2009, chiếm hơn 40% tổng thu ngân sách nội địa.
Kinh tế tư nhân phát triển mạnh kéo theo hàng loạt những động thái tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội như: thúc đẩy đầu tư tài chính, mang đến nguồn vốn con người và khả năng sáng tạo cho các doanh nhân; tạo ra nhiều việc làm và những cơ hội mới; tăng thu nhập xã hội, tạo nên thị trường sôi động và có sức cạnh tranh hơn..
Kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc. Tuy nhiên, so với khu vực với thế giới, cũng như so với khu vực kinh tế nhà nước và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thì đáng tiếc các doanh nghiệp tư nhân còn khá yếu. Bên cạnh những đóng góp hết sức cụ thể, đến nay vai trò của khu vực kinh tế tư nhân vẫn chưa được nhìn nhận đúng mức và có cơ chế phù hợp kích hoạt phát triển đúng tầm vóc. Chủ trương của Nhà nước là không phân biệt các thành phần kinh tế, tuy nhiên đến nay vẫn còn có cái nhìn khá e dè và đâu đó vẫn còn phân biệt đối xử với thành phần kinh tế này, thể hiện qua việc tiếp cận các cơ hội kinh doanh, chính sách đầu tư, phân bổ vốn và nguồn lực quốc gia. Các doanh nghiệp phải tự thân vận động, đối mặt với vô vàn thách thức về môi trường kinh doanh, đồng thời gặp không ít khó khăn trong việc tiếp cận những nguồn lực cần thiết như sử dụng đất đai; nhân lực; vay vốn trung và dài hạn; công nghệ và đào tạo... Chính vì lẽ đó, khu vực kinh tế tư nhân “chậm lớn” so với tiềm năng và khả năng quản trị, điều hành.
Ngoài ra theo các chuyên gia kinh tế, tuy đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước đề ra là đúng đắn nhưng trong nhận thức chỉ đạo điều hành của các cấp quản lý không đồng đều nên việc triển khai chính sách chưa sâu, chưa sát thực tế, có lúc còn gây khó khăn, triệt tiêu động lực phát triển doanh nghiệp tư nhân. Vì vậy, tiềm năng phát triển của kinh tế tư nhân chưa được khai thác hết, hiệu quả chưa cao.
Để khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành một lực lượng đối trọng - trong đó bao gồm các tập đoàn kinh tế tư nhân được công nhận chính danh, có vị thế cạnh tranh trong nước và trên trường quốc tế, đòi hỏi tự thân các doanh nghiệp phải tăng cường nội lực thực sự trên thương trường, tham gia có hiệu quả vào các lĩnh vực kinh tế mang tính chiến lược của đất nước.
Theo Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng, sắp tới cần tiếp tục có các biện pháp khuyến khích, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển thành lực lượng mạnh, tạo động lực để khu vực kinh tế này có đóng góp bền vững, lâu dài cho đất nước. Cũng theo Phó Thủ tướng, thời gian tới lực lượng doanh nghiệp tư nhân cần phát triển mạnh về số lượng, vừa phát triển về chất lượng theo hướng tái cơ cấu toàn bộ nền kinh tế. Trước nay nền kinh tế nước ta vẫn phát triển chủ yếu theo chiều rộng, nay cần tập trung phát triển theo chiều sâu, phát triển hài hòa để có điều kiện chuyển đổi cơ cấu lao động. Về phát triển theo chiều sâu nên theo 2 hướng chủ đạo: thứ nhất, phải tạo ra các sản phẩm, tổ chức sản xuất kinh doanh trong những ngành nghề có hàm lượng kỹ thuật, chất xám cao, mang lại giá trị gia tăng cao; thứ hai, tiến mạnh vào các lĩnh vực dịch vụ cao cấp như tài chính - ngân hàng, hàng không, bảo hiểm, khai thác chế biến sâu…
Phát triển kinh tế tư nhân và áp dụng các nguyên tắc thị trường ở Việt Nam là một chủ trương phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, do vậy nó đã đạt được những thành quả to lớn sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc Đổi mới và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên trong thực tế chúng ta không tránh khỏi những bỡ ngỡ và ngộ nhận trên cả hai khía cạnh: nhận thức và kinh nghiệm thực tiễn.
Trên phương diện chính trị
Góp phần ổn định chính trị xã hội và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Vào cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nền kinh tế xã hội nước ta, đang trong tình trạng khủng hoảng. Cũng là thời điểm chúng ta bắt đầu tiến hành đổi mới, bạn bè quốc tế, không ít người lo ngại cho tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của nước ta. Còn kẻ thù của chủ nghĩa xã hội coi đây là cơ hội để tiến hành "diễn biến hoà bình", gây mất ổn định chính trị, xã hội hòng thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Điều đó, đã không xẩy ra, bởi vì với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta, chỉ sau một thời gian ngắn thoát khỏi khủng hoảng, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế. Kinh tế phát triển là nhân tố quyết định sự ổn định chính trị xã hội, đến lượt mình, ổn định chính trị xã hội lại tạo tiền đề thuận lợi cho kinh tế phát triển..
Sự phát triển về kinh tế, ổn định về chính trị xã hội đã nâng cao uy tín của nước ta trên trường quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã lập quan hệ ngoại giao với các nước và vùng lãnh thổ, là thành viên của Liên hợp quốc, thành viên của ASEAN, tham gia diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM 1996), thành viên chính thức của AFEC (1998). Quan hệ của nước ta với các nước, các trung tâm kinh tế, chính trị lớn trên thế giới không ngừng được cải thiện.

Giải pháp:
Vì vậy, nếu chúng ta muốn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường thì trước hết phải lấy sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể làm nền tảng vì:
Một là, nhiều năm nay thực hiện cuộc cách mạng, các quan hệ sở hữu đã xác lập nên một nền kinh tế chủ yếu dự trên cơ sở sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể chiếm tỉ trọng cao, nắm giữ những lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế. Đây là một thành quả cần được kế thừa và phát triển.
Hai là, mặt tiêu cực của sở hữu tư nhân không thể bị hạn chế bởi những mệnh lệnh hành chính, những sự cấm đoán phi kinh tế mà phải bằng đòn bẩy kinh tế, phát huy ưu thế của các thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể thông qua cạnh tranh lành mạnh với sức mạnh của sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Do đó, sở hữu tư nhân sẽ bị cuốn theo sự phát triển với định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế quốc dân. Và chỉ với sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể thì nhà nước mới nắm trong tay các thế mạnh kinh tế để dựa vào đó mà quản lý và định hướng nền kinh tế theo hướng đã chọn. Hiện nay, sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể chưa đạt được hiệu quả kinh tế cao nên chưa thực sự đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Nguyên nhân chính là do hình thức và phương pháp quản lý của chúng. Vì vậy, hướng khắc phục những khiếm khuyết trên là khắc phục tình trạng vô chủ, bảo đảm kinh doanh có hiệu quả, đứng vững cạnh tranh và làm gương cho các thành phần kinh tế khác.
Một điều kiện không kém phần quan trọng khác trong việc phát triển sở hữu tư nhân mang tính định hướng xã hội chủ nghĩa là phải xây dựng chính quyền nhân dân thực sự có hiệu lực thông qua việc đổi mới từng bước hệ thống chính trị nhằm đề cao quyền lực nhân dân, thực hiện cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Do đó, Nhà nước sẽ có đủ khả năng để quản lý tốt nền kinh tế , xử lý nghiêm minh những hoạt động sở hữu, kinh doanh bất hợp pháp, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động và người tiêu dùng.
Hình thức sở hữu tư nhân hiện nay còn khá phổ biến và còn tồn tai lâu dài trong nền kinh tế quốc dân. Thông qua cách mạng trong quan hệ sản xuất, sở hữu tư nhân cũng dần dần được chuyển hoá thành các hình thức sở hữu khác (sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể).
 3. Đánh giá
Nhận thức vấn đề sở hữu là mục đích hay phương tiệnchi phối đến việc giải quyết quan hệ sở hữu.
Nhiều năm ở nước ta đã quan niệm sở hữu là mục đích, cho rằng có thể xác lập sớm một chế độ công hữu, một quan hệ sản xuất XHCN để lôi kéo, thúc đẩy lực lượng sản xuất lạc hậu. Nhưng thực tiễn vội vàng mở rộng phạm vi quốc hữu hóa, nôn nóng thực hiện hợp tác hóa – đồng nhất với tập thể hóa và nhiều sai lầm khác trong quản lý, phân phối…đã đưa tới một chế độ công hữu cùng làm chủ mà thực tế nhiều nơi, nhiều lúc là vô chủ. Rất nhiều ý kiến phê phán sở hữu toàn dân trước đây là hư ảo.
Muốn xóa bỏ tận cùng những bất bình đẳng giữa người thì phải xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Marx, Enghels đã từng phê phán những nhà kinh tế chính trị tiểu tư sản khi họ đề nghị xóa bỏ những mặt trái, tiêu cực của sở hữu tư bản nhưng vẫn giữ lại nội dung tư hữu của nó. Như vậy xác lập chế độ công hữu để làm thay đổi mục đích của nền sản xuất xã hội, thay đổi kết cấu giai cấp, thay đổi bản chất chế độ chính trị xã hội. Sở hữu là mục đích. Tuy nhiên, sẽ là không biện chứng trong quan niệm sở hữu là mục đích khi nóng vội xác lập công hữu bất chấp trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Mặt khác, cũng sẽ là sai lầm khi coi sở hữu chỉ là phương tiện để phát triển sản xuất. Vì phương tiện có thể dùng, có thể không dùng; có thể xác lập chế độ công hữu hoặc không xác lập chế độ đó. Nói phát triển sản xuất một cách chung chung mà không gắn sự phát triển đó với mục đích gì thì đó là sai lầm có tính nguyên tắc, là quên đi điều Lênin căn dặn: Chính trị bao giờ cũng giữ vai trò ưu tiên so với kinh tế. Phải có quan điểm chính trị khi giải quyết những vấn đề kinh tế.
Chúng tôi cho rằng xác lập chế độ công hữu là mục đích cuối cùng của công cuộc phát triển kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng trong quá trình phát triển ấy, thích ứng với các giai đoạn phát triển từ thấp đến cao của lực lượng sản xuất thì xác lập chế độ công hữu vừa thúc đẩy sản xuất, chúng ta sẽ không bị chệch hướng.
Hiến pháp năm 1992 là cơ sở pháp lý cao nhất cho sự ra đời và hoàn thiện pháp luật về kinh tế - phương tiện đặc biệt quan trọng trong việc xóa bỏ các quan hệ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, xây dựng quan hệ kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, hội nhập, có sự quản lý của Nhà nước.
Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta, Hiến pháp tuyên bố: "Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa" (Điều 15); "Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh" (Điều 21); "Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được liên doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật" (Điều 22); "Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa" (Điều 23); "Nhà nước khuyến khích các tổ chức cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hóa" (Điều 25); "Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài" (Điều 18). Dựa vào các quy định nền tảng đó, hàng loạt các đạo luật, bộ luật mới về kinh tế - dân sự - lao động lần lượt ra đời như Bộ luật Dân sự (năm 1995 và 2005); Bộ luật Lao động (năm 1995, 2003, 2006), Luật Doanh nghiệp (năm 1999, 2003, 2006), Luật Đầu tư (2005), Luật Thương mại (năm 1997, 2005) và hàng chục đạo luật, bộ luật khác. Cần phải khẳng định rằng, không có những tư duy pháp lý mới về kinh tế của Hiến pháp năm 1992 làm nền tảng, không thể có sự đổi mới và hoàn thiện pháp luật về kinh tế, không thể tạo lập được một trật tự các quan hệ kinh tế mới làm chỗ dựa vững chắc cho đổi mới các yếu tố của thượng tầng kiến trúc, giữ vững sự ổn định và phát triển xã hội. Không dựa trên những quy định gốc về chế độ kinh tế của Hiến pháp năm 1992 không thể xây dựng và hoàn thiện được một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về kinh tế - dân sự - lao động đồng bộ và thống nhất như hiện nay. Và, do đó không thể có vốn để đầu tư, không thể có công nghệ tiên tiến để đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhờ có các quy định nền tảng về kinh tế của Hiến pháp năm 1992, pháp luật nói chung, đặc biệt là pháp luật về kinh tế nói riêng thực sự trở thành một lực lượng vật chất góp phần xây dựng và phát triển kinh tế nước nhà trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua.
Việc phân loại sở hữu như hiện nay tiến hành trên cơ sở áp dụng đồng thời cả hai tiêu chí nêu trên và hậu quả là các hình thức sở hữu ở nước ta được xác định một cách, vừa thừa lại vừa thiếu, không phù hợp với thực tiễn khách quan. Việc phân loại hình thức sở hữu trong BLDS là một minh chứng cho cách làm này.
Vậy từ nay cần phải căn cứ vào tiêu chí gì để phân loại (xác định) các hình thức sở hữu? Theo tôi, chỉ nên dùng một yếu tố duy nhất, theo đó chủ thể nào có quyền trực tiếp chiếm hữu sử dụng và định đoạt tài sản thì người đó được coi là sở hữu chủ và căn cứ vào cách thực hiện quyền của người đó đối với tài sản mà xác định tên gọi của hình thức sở hữu cho phù hợp. Ví dụ khi một cá nhân duy nhất là chủ sở hữu tài sản thì đó là sở hữu cá nhân; khi nhiều người tập hợp lại thành một tổ chức có tư cách pháp nhân (trong đó có hợp tác xã) và chính pháp nhân đó thực hiện các quyền chủ sở hữu thì đó là sở hữu pháp nhân; khi hai người (cá nhân, tổ chức) trở lên có quyền cùng nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với một tài sản thì đó là một sở hữu chung và khi Nhà nước được trao quyền chủ sở hữu tài sản, mặc dù tài sản đó là của toàn thể nhân dân thì đó là sở hữu nhà nước.
Trên cơ sở quan niệm như vậy, tôi không đồng ý với cả hai phương án đã được nêu ra trong bản xin ý kiến nhân dân về các loại hình sở hữu ở VN. Theo tôi, căn cứ vào tiêu chí như vừa nêu trên thì ở nước ta có 4 hình thức sở hữu: sở hữu nhà nước; sở hữu pháp nhân; sở hữu cá nhân và sở hữu chung. 
Đánh giá về việc thực hiện hình thức “Sở hữu tư nhân” ở Việt Nam.
Với tình hình Việt Nam hiện nay sở hữu Nhà nước và Sở hữu tập thể vẫn là nền tảng, theo tôi đây là điều hợp lý không phải như thế là ta chưa coi trọng Sở hữu tư nhân mà hiện nay lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp nên vẫn chưa thể đủ tầm vóc để nắm vai trò chủ chốt trong nền kinh tế; hơn nữa hiện nay, trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa theo kiểu kinh tế thị trường điển hình cũng chỉ khoảng 10 đến 15% tư liệu sản xuất thuộc về sản xuất tư nhân, 60 đến 70% thuộc sở hữu tập thể cùng sở hữu cổ phần, 15 đến 25% là sở hữu Nhà nước.
Một vấn đề được nhắc đến nhiều nhất hiện nay về vấn đề “Sở hữu tư nhân” đó là vấn đề sở hữu đất đai. Thời bao cấp, đất đai được quản lý theo chế độ cấp phát, việc mua bán (thuật ngữ pháp lý gọi là chuyển nhượng) bị cấm. Thị trường bất động sản hầu như không phát triển. Đầu những năm 90, chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhu cầu về chỗ ở, nơi lắp đặt nhà xưởng, trung tâm thương mại phát sinh, và Luật Đất đai 1993 ra đời cho phép người sử dụng đất được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Việc chuyển nhượng đất được hợp pháp hóa và giá đất tăng vùn vụt đồng nghĩa với việc hình thành thị trường bất động sản. Nhưng đó chỉ là một thị trường nửa vời, trong đó yếu tố phát triển cũng có, yếu tố giằng co cũng có. Cả hai tồn tại song song, hoạt động theo những quy luật trái nghịch.
Khi hình thành cơ chế thị trường, thị trường bất động sản cũng ra đời, và dù nhà nước không công nhận, đất đai vẫn trở thành hàng hóa. Thế nhưng, những quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý” vẫn còn. Người dân muốn có đất để xây nhà thì họ phải “mua” chứ không được cấp. Vậy nhưng thủ tục lại là: người bán xin giao đất, người mua xin được giao đất.
Doanh nghiệp khi muốn đầu tư cũng phải hoạt động theo cơ chế “phi thị trường” đó. Thay vì khi triển khai dự án, họ có quyền giao dịch với dân trên cơ sở thuận mua vừa bán (sau khi xem xét quy hoạch tổng thể của nhà nước), thì họ lại phải theo một thủ tục bất hợp lý: trước hết phải tìm địa điểm, tham khảo ý dân về giá đất, làm văn bản xin thuận địa điểm, được chấp nhận rồi mới lập dự án, rồi trình sở địa chính xin thu hồi đất, rồi duyệt giá đền bù..., cuối cùng mới họp dân công bố quy hoạch giải tỏa, đền bù. Nhiều trường hợp kéo dài lê thê hằng năm trời, đến khi công bố quy hoạch thì giá thị trường đã khác, dân không chịu nữa. Vậy là khiếu nại, tố cáo liên miên. Vậy “thị trường” tại sao không có thuận mua, vừa bán? 5 quyền luật định về đất đai có để làm gì?
Chính quan điểm không công nhận chế độ sở hữu tư nhân về đất đai đã sinh ra một nền kinh tế phi chính thức: kinh doanh không đăng ký, chẳng phải đóng thuế. Nhiều người cứ mua bất động sản rồi bán lại kiếm lời, bởi thủ tục của họ mau lẹ, dân “khoái” vì được thương lượng thoải mái. Họ gom đất ở những vùng đã có quy hoạch, rồi “làm giá” với các công ty đầu tư hợp pháp, và nếu không được chấp nhận thì dự án sẽ kéo dài, khó khăn về vốn.
Vì sao Việt Nam đa dạng hoá hình thức sở hữu ?
Đa dạng hoá các hình thức sở hữu ở nước ta là tất yếu khách quan, xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn sau đây:
Trước hết, từ đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nền kinh tế chưa thể đơn nhất hoá hình thức sở hữu tư liệu sản xuất. Nhận thức tính khách quan của sự tồn tại các loại hình sở hữu trong thời kỳ quá độ, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng chỉ rõ: "… phù hợp với sự phát triển lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao, với sự đa dạng về hình thức sở hữu".
Hai là,từ sự phát triển không đều của lực lượng sản xuất giữa các vùng, ngành kinh tế ở nước ta hiện nay.
Nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ là phổ biến, lại trải qua chiến tranh lâu dài. Do đó, sự phát triển của lực lượng sản xuất rất không đều nhau giữa các vùng, ngành kinh tế của đất nước ; giữa miền xuôi với miền ngược ; giữa thành thị với nông thôn sự phát triển của lực lượng sản xuất không đều nhau. Chính vì thế, đòi hỏi phải có các hình thức sở hữu tương ứng, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở từng vùng, miền và từng ngành kinh tế khác nhau. Điều đó cũng có nghĩa là, với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay, chưa thể đơn nhất hoá, mà đa dạng hình thức sở hữu tư liệu sản xuất trở thành tất yếu khách quan.
Ba là, từ thực tiễn nước ta trước đây và hiện nay.
Trước đổi mới, nền kinh tế nước ta, chỉ tồn tại hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Sự vượt trước của quan hệ sản xuất, trong khi tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất chưa cho phép, đã kìm hãm sự phát triển của sản xuất xã hội. Đất nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã mở ra thời kỳ mới cho đất nước bằng sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế xã hội. Thực hiện nhất quán đường lối đa dạng hoá hình thức sở hữu, xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta từng bước thoát ra khỏi khủng hoảng và hiện nay đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Những tác động tích cực và thách thức của quá trình đa dạng hoá hình thức sở hữu
Việc đa dạng hoá hình thức sở hữu tư liệu sản xuất ở nước ta là quá trình có tính hai mặt. Một mặt, quá trình này có những tác động tích cực,mặt khác,chính quá trình này cũng đặt ra nhiều thách thức cho sự phát triển kinh tế – xã hội của nước ta.
1. Tác động tích cực của quá trình đa dạng hoá hình thức sở hữu tư liệu sản xuất đối với nền kinh tế nước ta.
Một là, góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất. Từ các hình thức sở hữu cơ bản : sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân hình thành 6 thành phần kinh tế : kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Chính sự vận động của nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã mang đến cho nền kinh tế nước ta một sức sống mới. Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1991 – 2000 đạt bình quân 7%/năm, sau 10 năm GDP tăng 2,07 lần, các năm gần đây 2001, 2002 và 7 tháng đầu năm 2003 GDP đều tăng xấp xỉ 7%. Tốc độ tăng trưởng của công nghiệp bình quân trong 10 năm 1991 – 2000 đạt 13%, các năm gần đây đều có tốc độ tăng trưởng tương tự, đặc biệt 7 tháng đầu năm 2003 đạt trên 15%. Cơ cấu ngành kinh tế theo hướng hiện đại đang dần dần được hình thành. Chẳng hạn, trong GDP, tỷ trọng nông nghiệp từ 38,7% giảm xuống 24,3%; công nghiệp và xây dựng từ 22,7% tăng lên 36,6%; dịch vụ từ 38% tăng lên 39,1%.
Hai là,góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta. Đa dạng hoá hình thức sở hữu góp phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta. Biểu hiện đầu tiên là, góp phần giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chuẩn nước ta) từ 30% xuống 10%, theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới (IMF) thu nhập dưới 2 đô la/người/ngày là nghèo, Việt Nam đã giảm nhanh tỷ lệ người nghèo từ 90% năm 1990 xuống còn 60% năm 2002. Với nền kinh tế nhiều thành phần hàng năm có thêm 1,2 triệu việc làm mới. Với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, điện, đường, trường, trạm đã vươn tới mọi miền của Tổ quốc. Tốc độ đô thị hoá nông thôn đang diễn ra nhanh chóng, chất lượng cuộc sống của nhân dân không ngừng được nâng cao. Tuổi thọ bình quân từ 65,2 tuổi tăng lên 68,3 tuổi. Biểu hiện thứ hai là, trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực và tính năng động xã hội được nâng lên đáng kể. Với hệ thống trường lớp đa thành phần tham gia, nước ta đã hoàn thành mục tiêu xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, bắt đầu phổ cập trung học cơ sở ở một số thành phố, tỉnh đồng bằng. Số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gấp 6 lần. Đào tạo nghề được mở rộng. Các hoạt động thông tin văn hoá về với mỗi bản làng, thôn xóm, từ hải đảo xa xôi đến vùng sâu, vùng xa đều đã được phủ sóng truyền hình và đài phát thanh. Chính vì vậy, lòng tin của nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới ngày càng tăng và sự nghiệp đổi mới của Đảng đang từng ngày, từng giờ đi vào cuộc sống của người dân.
Ba là,góp phần ổn định chính trị xã hội và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Vào cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nền kinh tế xã hội nước ta, đang trong tình trạng khủng hoảng. Cũng là thời điểm chúng ta bắt đầu tiến hành đổi mới, bạn bè quốc tế, không ít người lo ngại cho tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của nước ta. Còn kẻ thù của chủ nghĩa xã hội coi đây là cơ hội để tiến hành "diễn biến hoà bình", gây mất ổn định chính trị, xã hội hòng thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Điều đó, đã không xẩy ra, bởi vì với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta, chỉ sau một thời gian ngắn thoát khỏi khủng hoảng, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế. Kinh tế phát triển là nhân tố quyết định sự ổn định chính trị xã hội, đến lượt mình, ổn định chính trị xã hội lại tạo tiền đề thuận lợi cho kinh tế phát triển. Vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta từ năm 1998 đến năm 2002 đạt 42 tỉ USD, vốn thực hiện đạt 21 tỉ USD và chúng ta đã có trên 40 dự án đầu tư vào 12 nước và vùng lãnh thổ v.v… Kim ngạch xuất khẩu tăng từ khoảng 1 tỉ rúp, đô la những năm cuối thập kỷ 80 lên 16 tỉ 530 triệu đô la năm 2002 và dự kiến đạt 19 tỉ USD năm 2003.
Sự phát triển về kinh tế, ổn định về chính trị xã hội đã nâng cao uy tín của nước ta trên trường quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã lập quan hệ ngoại giao với 166 nước và vùng lãnh thổ, là thành viên của Liên hợp quốc, thành viên của ASEAN, tham gia diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM 1996), thành viên chính thức của AFEC (1998). Quan hệ của nước ta với các nước, các trung tâm kinh tế, chính trị lớn trên thế giới không ngừng được cải thiện.
2. Những thách thức do đa dạng hoá các hình thức sở hữu đặt ra
Một là, giảm tỷ trọng kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể trong cấu thành GDP của nước ta dễ gây chệch hướng xã hội chủ nghĩa về kinh tế.
Trước đổi mới, tuyệt đại bộ phận GDP (trên 90%), do kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể tạo ra. Sau gần hai mươi năm đổi mới tỷ trọng đó đã có sự thay đổi: "Đến năm 2000, tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước trong GDP vào khoảng 39%; khu vực kinh tế tập thể 8,5%; khu vực kinh tế tư nhân 3,3%; khu vực kinh tế cá thể 32%; khu vực kinh tế hỗn hợp 3,9% và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 13,3%". Như vậy, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, hai thành phần kinh tế nền tảng của chủ nghĩa xã hội, chỉ chiếm 47,5% GDP. Đây là một thực tế đặt ra cần được tính tới để có những chiến lược và các chính sách kinh tế chủ động, linh hoạt nhằm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế nước ta.
Hai là,nhiều vấn đề xã hội mới nảy sinh và môi trường sinh thái bị tàn phá. Cùng với sự phát triển kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường, tình trạng phân hoá giàu nghèo, các tệ nạn, tiêu cực xã hội như tham nhũng, ma tuý, mại dâm và môi trường sinh thái bị tàn phá có chiều hướng gia tăng. Đó là hậu quả khó tránh khỏi bởi sự tác động của mặt trái của cơ chế thị trường. Đây là một thách thức lớn đang đặt ra, đòi hỏi chúng ta phải xử lý. Những vấn đề này nếu không được xử lý kịp thời, kiên quyết sẽ rất dễ nảy sinh thành những vấn đề chính trị phức tạp.
Ba là, thông qua hoạt động hợp tác đầu tư các thế lực thù địch đang tiến hành mạnh mẽ chiến lược "diễn biến hoà bình" đối với cách mạng nước ta. Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng tất yếu khách quan đối với nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực và thế giới, nền kinh tế nước ta còn nhiều hạn chế. Đặc biệt, chúng ta còn thiếu kinh nghiệm và trình độ tổ chức quản lý một nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường. Đây chính là kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng, một mặt thâm nhập cài cắm các lực lượng chống đối,mặt khác, tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta nhằm thực hiện âm mưu "diễn biến hoà bình". Những thách thức trên đây có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nó vừa là nhân, vừa là quả của nhau. Do đó, trong quá trình tổ chức và quản lý nền kinh tế đa hình thức sở hữu, chúng ta không nên xem nhẹ một thách thức nào.  
Một số giải pháp cơ bản nhằm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện đa dạng hoá hình thức sở hữu
1. Đẩy mạnh hơn nữa việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, theo tinh thần Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba (khoá IX) của Đảng.
Đây là giải pháp hàng đầu, giải pháp này bắt nguồn từ kinh tế nhà nước mà nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nước ta.Trong những năm gần đây, mặc dầu doanh nghiệp nhà nước không giữ tỷ trọng tuyệt đối trong cấu thành GDP, nhưng vẫn là lực lượng kinh tế mạnh nhất với 39,9% GDP, đóng góp 39,2% thu ngân sách nhà nước và 50% xuất khẩu. Vì vậy, sắp xếp, đổi mới, phát triển và phát triển nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước trở thành giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính cơ bản lâu dài. Tính cấp bách của giải pháp này thể hiện ở chỗ, kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế về bản chất dựa trên cơ sở sở hữu toàn dân. Thành phần kinh tế này vững mạnh tức là hình thức sở hữu toàn dân được tăng cường, củng cố và định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Tính cơ bản của giải pháp này thể hiện ở chỗ, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trên cơ sở đa hình thức sở hữu là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, được duy trì trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Do vậy, kinh tế nhà nước mà nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước phải thường xuyên, liên tục giữ vững vai trò định hướng, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác. Để giải pháp này trở thành hoạt động thực tiễn, cần thực hiện các biện pháp cụ thể sau :
- Kiên quyết thực hiện chủ trương cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê những doanh nghiệp nhà nước đã đưa vào kế hoạch.
- Đẩy mạnh hơn nữa quá trình đổi mới cơ chế, chính sách đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp nhà nước, đồng thời, phân định rõ các loại hình doanh nghiệp công ích và ngoài công ích để áp dụng các cơ chế, chính sách phù hợp.
- Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình sắp xếp, đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.
2. Tăng cường các biện pháp xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân ngày càng vững mạnh và trong sạch.
Bất kỳ chế độ chính trị – xã hội nào đều cần có một nhà nước mạnh để quả lý kinh tế – xã hội. Đối với nước ta, Nhà nước là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, nhà nước đó mang bản chất giai cấp công nhân. C.Mác đã khẳng định: "Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính của giai cấp vô sản".
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều hình thức sở hữu, rõ ràng chúng ta cần có một nhà nước đủ mạnh để định hướng xã hội chủ nghĩa cho toàn bộ nền kinh tế. Một Nhà nước mạnh phải là nhà nước có trình độ và năng lực tổ chức quản lý tốt kinh tế – xã hội, đồng thời phải là một nhà nước trong sạch. Trên thực tế, bộ máy nhà nước của ta còn cồng kềnh, trình độ tổ chức, quản lý kinh tế – xã hội còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, nạn tham nhũng, tệ quan liêu còn tràn nan, đây thực sự là những vấn đề nhức nhối của đất nước. Vì vậy, tăng cường các biện pháp xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân ngày càng vững mạnh và trong sạch trở thành giải pháp quan trọng, nhằm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế nước ta, trong điều kiện đa dạng hoá hình thức sở hữu. Muốn vậy, theo chúng tôi, cần tiến hành một số biện pháp cơ bản sau :
- Kiên quyết sắp xếp, tinh giảm hơn nữa bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương.
- Xây dựng cơ chế và chính sách thích hợp nhằm đào tạo và tuyển lựa một đội ngũ cán bộ, công chức thực tài cho bộ máy nhà nước các cấp, có đủ trình độ và năng lực tổ chức, quản lý nền kinh tế đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và thực hiện cơ chế dân biết, dân làm, dân kiểm tra để hạn chế từng bước và tiến đến triệt tiêu nạn tham nhũng, tệ quan liêu trong bộ máy nhà nước.
- Giữ vững và tăng cường hơn nữa bản chất giai cấp công nhân của bộ máy nhà nước, trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
3. Từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Mỗi một chế độ chính trị, xã hội khác nhau, có một hệ thống luật pháp riêng. Hệ thống luật pháp đó mang bản chất của giai cấp thống trị, phục vụ lợi ích kinh tế, chính trị của giai cấp sinh ra nó. Trong quá trình đổi mới toàn diện kinh tế xã hội của đất nước, tất yếu phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội mới. Đây là giải pháp vừa cấp bách vừa lâu dài. Bởi vì, trước đổi mới, hệ thống luật pháp của nước ta được xây dựng theo hướng bảo đảm hành lang pháp lý cho kinh tế quốc doanh và tập thể hoạt động sản xuất kinh doanh là chủ yếu. Ngày nay, hệ thống luật pháp phải đảm bảo hành lang pháp lý cho mọi thành phần kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Với yêu cầu như vậy, cần tiến hành các biện pháp cụ thể sau:
- Rà soát lại hệ thống luật pháp hiện có, một mặt, loại bỏ những luật pháp không còn phù hợp, mặt khác, kịp thời ban hành, bổ sung những luật pháp mới cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội.
- Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền pháp luật cho mọi người dân thuộc mọi thành phần kinh tế để họ tự giác chấp hành luật pháp, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát việc thực thi luật pháp của mọi thành phần kinh tế, thưởng phạt phân minh, nhằm tăng hiệu lực của luật pháp, đồng thời, phát hiện những khiếm khuyết của hệ thống luật pháp, để sửa đổi bổ sung kịp thời.
Các giải pháp trên, được tiến hành đồng bộ sẽ tạo thành sức mạnh tổng hợp, đưa nền kinh tế đa hình thức sở hữu của nước ta phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trả Lời Với Trích Dẫn PHỤ LỤC
Hiến pháp 1946
- Thông qua: 09/11/1946
- Hiệu lực: 09/11/1960
- Hết hiệu lực: 01/01/1960
- Số chương: 7
- Số điều: 70
- Chương 1: Chính thể, 3 điều
- Chương 2: Nghĩa vụ và quyền lợi của công dân, 18 điều
- Chương 3: Nghị viện nhân dân, 21 điều
- Chương 4: Chính phủ, 14 điều
- Chương 5: Hội đồng nhân dân và UB hành chính, 6 điều
- Chương 6: Cơ quan tư pháp, 7 điều
- Chương 7: Sửa đổi HP, 1 điều
Các điều liên quan đến vấn đề sở hữu
Điều thứ 12
Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm.

Hiến pháp 1959
- Thông qua: 31/12/1959, tại Kỷ họp thứ 11, Quốc hội khóa 1, lúc 15h50
- Hiệu lực: 01/01/1960
- Hết hiệu lực: 19/12/1980
- Người ký: Tôn Đức Thắng
- Số chương: 10
- Số điều: 112
- Chương 1: Nước VN DCCH, 8 điều
- Chương 2: Chế độ kính tế và XH, 13 điều
- Chương 3: Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân, 21 điều
- Chương 4: Quốc hội, 18 điều
- Chương 5: Chủ tịch nước VNDCCH, 10 điều
- Chương 6: Hội đồng CP, 7 điều
- Chương 7: Hội đồng nhân dân và UB hành chính địa phương các cấp, 14 điều
- Chương 8: TAND và VKSND, 15 điều
- Chương 9: Quốc kỳ - quốc huy – thủ đô, 3 điều
- Chương 10: Sửa đổi HP, 1 điều
Hiến pháp 1980
- Thông qua: 18/12/1980 tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa 6, lúc 15h25
- Hiệu lực: 19/12/1980
- Hết hiệu lực: 15/04/1992
- Người ký: Nguyễn Hữu Thọ/ Trường Chinh
- Số chương: 12
- Số điều: 147
- Chương 1: Nước CHXHCNVN – Chế độ chính trị, 14 điều
- Chương 2: Chế độ kính tế, 22 điều
- Chương 3: VH – GD – KH – KT, 13 điều
- Chương 4: Bảo vệ tổ quốc XHCN, 3 điều
- Chương 5: Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, 32 điều
- Chương 6: Quốc hội, 16 điều
- Chương 7: Hội đồng nhà nước, 6 điều
- Chương 8: Hội đồng bộ trưởng, điều
- Chương 9: HD9ND và UBND, 14 điều
- Chương 10: TAND và VKSND, 15 điều
- Chương 11: Quốc kỳ - quốc huy – quốc ca - thủ đô, 4 điều
- Chương 12: Hiệu lực của HP và việc sửa đổi HP, 2 điều
-

Hiến pháp 1992
- Thông qua: 15/4/1992 tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa 8, lúc 11h45
- Hiệu lực: 18/4/1992
- Hết hiệu lực:
- Người ký: Nguyễn Văn An/ Lê Quang Đạo
- Số chương: 12
- Số điều: 147
- Chương 1: Nước CHXHCNVN – Chế độ chính trị, 14 điều
- Chương 2: Chế độ kính tế, 15 điều
- Chương 3: VH – GD – KH – Công nghệ, 14 điều
- Chương 4: Bảo vệ tổ quốc XHCN, 5 điều
- Chương 5: Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, 34 điều
- Chương 6: Quốc hội, 18 điều
- Chương 7: Chủ tịch nước, 8 điều
- Chương 8: Chính phủ, 19 điều
- Chương 9: HĐND và UBND, 8 điều
- Chương 10: TAND và VKSND, 15 điều
- Chương 11: Quốc kỳ - quốc huy – quốc ca - thủ đô – ngày quốc khánh, 5 điều
- Chương 12: Hiệu lực của HP và việc sửa đổi HP, 2 điều

Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2001
- Ban hành: 25/12/2001 tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa 8
- Hiệu lực: 07/01/2002
- Hết hiệu lực:
- Người ký: Nguyễn Văn An
- Số chương: 12
- Số điều: 147
- Chương 1: Nước CHXHCNVN – Chế độ chính trị, 14 điều
- Chương 2: Chế độ kính tế, 15 điều
- Chương 3: VH – GD – KH – Công nghệ, 14 điều
- Chương 4: Bảo vệ tổ quốc XHCN, 5 điều
- Chương 5: Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, 34 điều
- Chương 6: Quốc hội, 18 điều
- Chương 7: Chủ tịch nước, 8 điều
- Chương 8: Chính phủ, 19 điều
- Chương 9: HĐND và UBND, 8 điều
- Chương 10: TAND và VKSND, 15 điều
- Chương 11: Quốc kỳ - quốc huy – quốc ca - thủ đô – ngày quốc khánh, 5 điều
- Chương 12: Hiệu lực của HP và việc sửa đổi HP, 2 điều
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Hiến pháp năm 1946
2. Hiến pháp năm 1959
3. Hiến pháp năm 1980
4. Hiến pháp năm 1992
5. Nghị định 51/2001/QH10
6. Bộ luật Dân sự 2005
7. Luật Đất đai 2003
8. Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản 2008

9. Văn kiện Đại hội ĐCSVN lần thứ VIII.
10. Tạp chí Phát triển kinh tế số 146 tháng 12/2002
11. Báo cáo “HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO YÊU CẦU CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 48/NQ-TW” – Báo cáo được thực hiện với sự tài trợ của UNDP Việt Nam
12. Báo cáo Tổng kết một số vấn đề
lý luận thực tiễn qua 20 năm đổi mới
13. Chuyên đề cho Hội thảo khoa học cấp trường do Bộ môn Luật Dân sự - khoa Luật Dân sự - Đại học Luật Hà Nội tổ chức vào ngày 11/12/2007
14. Giáo trình Luật Hiến pháp, Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2010
15. Giáo trình Kinh tế Chính trị Mác-Lênin, Bộ Giáo dục và Đào tạo - Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia
16. Tạp chí Cộng sản
17. Tạp chí Triết học
18. Tạp chí Công Nghiệp
19. Tạp chí Khoa học công nghệ và Môi trường
20. Báo Diễn đàn doanh nghiệp
21. Báo Tuổi trẻ
22. Báo Vietnamnet
23. http://csdl.thutuchanhchinh.vn
24. http://www.doisongphapluat.com.vn
25. http://lawsoft.thuvienphapluat.vn
26. http://thuvienluanvan.com
 [1] Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản. (Điều 164 BLDS 2005)

[2] -Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. (Điều 163 Bộ luật dân sự 2005)

[3] -Các hình thức sở hữu
Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, các hình thức sở hữu bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp. (Điều 172, chương IV, BLDS 2005)

[4] Điều 208. Sở hữu tập thể

Sở hữu tập thể là sở hữu của hợp tác xã hoặc các hình thức kinh tế tập thể ổn định khác do cá nhân, hộ gia đình cùng góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục đích chung được quy định trong điều lệ, theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng quản lý và cùng hưởng lợi. (Bộ luật Dân sự 2005)

[5]Điều 20 Hiến pháp 1992
Kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi.
Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả.

0 comments:

Post a Comment

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code