Wednesday, September 11, 2013

Kỹ năng giải quyết các vụ việc dân sự

HỌC VIỆN TƯ PHÁP
Môn học: Kỹ năng giải quyết các vụ việc dân sự
Đề thi: HP2/DS-01
Thời gian: 150 phút
----------*--------
  Theo nội dung đơn khởi kiện của ông Nguyễn Thanh Huy: Ngày 22.3.2010 ông và vợ là bà Lê Thị Hoa (cư trú tại quận LB, TP. H) cùng bà Phan Thùy Dung (cư trú tại quận HK, TP. H) ký hợp đồng đặt cọc để đảm bảo thực hiện hợp việc chuyển đổi nhà, đất giữa căn nhà số 37 phố B, quận Đ, TP.H do bà Dung là chủ sở hữu và căn nhà số 33 phố T, quận X, TP. H do vợ chồng ông là chủ sở hữu. Trong hợp đồng, hai bên thỏa thuận về đặt cọc và phạt cọc. Tại điều 2 của hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà, đất có nội dung “.. Ngay sau khi nhận đặt cọc, bà Dung phải lập hợp đồng uỷ quyền cho ông Huy thay mặt bà nhận tiền thuê nhà của Công ty An Phú, thoả thuận chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thời hạn (hợp đồng thuê có thời hạn đến ngày 10/04/2012) và đại diện cho bà Dung trước các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp với công ty An Phú nếu các bên có tranh chấp…”. Căn cứ theo thỏa thuận giữa hai bên trong hợp đồng, ngày 23.3.2010 tại nhà bà Dung, vợ chồng ông đã đặt cọc cho bà Dung 100 lượng vàng SJC, bà Dung có viết giấy biên nhận, bà Dung đã giao cho vợ chồng ông bản chính các giấy tờ sở hữu nhà số 37 phố B, quận Đ, TP. H; hợp đồng thuê nhà của bà và Công ty cổ phần bảo hiểm An Phú (gọi tắt là công ty An Phú) có trụ sở chính tại quận Đ, TP. H.
  Trong quá trình triển khai thực hiện hợp đồng, vợ chồng ông đã liên lạc rất nhiều lần đề nghị bà Dung thực hiện các thỏa thuận trong hợp đồng nhưng bà Dung không thực hiện. Nay  ông khởi kiện bà Dung yêu cầu bà Dung trả cho vợ chồng ông 100 lượng vàng SJC và phải chịu phạt cọc gấp ba lần theo thỏa thuận tại hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà, đất ngày 22.03.2010 là 300 lượng vàng SJC.
  Đơn khởi kiện của ông Huy được gửi đến Tòa án quận Đ, thành phố H
Câu hỏi 1: Theo anh (chị), Tòa án quận Đ có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện của ông Huy không, tại sao?
Tình tiết bổ sung
  Tòa án có thẩm quyền thụ lý vụ án. Theo lời trình bày của bà Dung tại tòa án: bà thừa nhận giữa bà và vợ chồng ông Huy có ký hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà, đất đúng như ông Huy trình bày. Nhà, đất tại số 37 phố B, quận Đ là tài sản riêng của bà được bố mẹ để lại thừa kế, bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất từ năm 1998 và đến nay bà cũng chưa kết hôn cùng ai. Nhà số 33 phố T, quận X vợ chồng ông Huy cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở năm 2004. Việc vi phạm hợp đồng là do lỗi của vợ chồng ông Huy cụ thể: không cùng bà làm hợp đồng uỷ quyền tại phòng công chứng theo điều 2 của hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà, đất; giấy tờ chủ quyền nhà số 33, phố T, quận X tại thời điểm ký hợp đồng vợ chồng ông Huy đang thế chấp tại ngân hàng. Vợ chồng ông Huy không giải chấp để lấy lại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, tự ý bán căn nhà 33 phố T, quận X không thông báo cho bà. Vì vậy bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Huy, đồng thời bà yêu cầu vợ chồng ông Huy phải chịu phạt cọc 200 lượng vàng SJC theo đúng thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng.
  Theo ông Huy, bà Hoa thì việc bà Dung phải thực hiện công việc ủy quyền cho ông Huy tại phòng công chứng là điều kiện để thực hiện các công việc tiếp theo là phía bà Dung phải ra công chứng ký kết hợp đồng mua bán nhà số 37 phố B, quận Đ nhưng bà Dung đều không thực hiện. Ngày 03.4.2010 vợ chồng ông Huy đã bán căn nhà số 33 phố T, quận X cho người khác.
Câu hỏi 2: Anh (chị) hãy xác định quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp trong vụ án, giải thích tại sao?
Câu hỏi 3: Theo anh (chị) yêu cầu của bà Dung có phải là yêu cầu phản tố không? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
           Tại Điều 4 của hợp đồng chuyển đổi nhà đất giữa vợ chồng ông Huy, bà Dung ghi: “..Bên B (vợ chồng ông Huy) có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng để lấy lại giấy tờ sở hữu nhà, đất số 33 phố T, quận X, Tp. H nhằm thực hiện việc chuyển đổi tài sản theo thỏa thuận. Bên B có trách nhiệm cho thuê nhà 33 phố T với giá ít nhất là 10.000USD/1 tháng, trường hợp không cho thuê được thì Bên B phải có trách nhiệm tìm cách tự bán nhà 33 phố T, quận X để bù số tiền 05 tỷ đồng cho Bên A (bà Dung) để mua nhà 37 phố B, quận Đ của Bên A. Bên A phải lập thông báo ngay cho bên thuê nhà thông báo việc cử bên B bằng hợp đồng ủy quyền thay mặt lấy tiến thuê nhà và các vấn đề liên quan đến việc thuê nhà. Tiền thuê nhà 37 phố B, quận Đ, Bên B được hưởng kể từ thời điểm ký hợp đồng đặt cọc…”.
Câu hỏi 4: Anh (chị) hãy xác định các tình tiết cần phải làm rõ trong vụ án?
Tình tiết bổ sung
          Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: sau khi ký hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà, đất; vợ chồng ông Huy đã tiến hành giải chấp nhà số 33 phố T, quận X tại ngân hàng; đã tiến hành tìm đối tác để cho thuê nhà nhưng không đảm bảo được điều kiện của hợp đồng về giá cả và các điều kiện khác như đã thỏa thuận với bà Dung nên ngày 03.4.2010 vợ chồng ông Huy đã bán nhà 33 phố T, quận X cho vợ chồng ông Linh, bà Loan cư trú tại quận X để lấy tiền mua nhà số 37 phố B, quận Đ bằng tiền mặt như thỏa thuận hai bên đã ký trong hợp đồng. Vợ chồng ông Huy đề nghị được trả 05 tỷ đồng cho bà Dung để thực hiện việc mua bán nhà số 37 phố B, quận Đ nhưng bà Dung không đồng ý bán.
Câu hỏi 5: Anh (chị) hãy xác định tư cách đương sự trong vụ án?
Tình tiết bổ sung
Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: bà Dung vẫn lĩnh tiền thuê nhà hàng tháng của công ty An Phú, công ty An Phú không nhận được bất cứ thông báo nào về việc ủy quyền của bà Dung cho ông Huy giải quyết hợp đồng thuê. Công ty An Phú hoàn toàn không biết thỏa thuận chuyển đổi nhà, đất giữa vợ chồng ông Huy và bà Dung.
Tại biên bản đối chất ngày 18.3.2011 ông Huy, bà Hoa tiếp tục yêu cầu bà Dung thực hiện việc giao kết hợp đồng chuyển đổi nhà, đất nhưng bà Dung từ chối không thực hiện. Ông Huy, bà Hoa cũng đề nghị được mua nhà số 37 phố B, quận Đ với giá thỏa thuận trong hợp đồng nhưng do bà Dung không đồng ý nên vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà Dung trả lại tiền đặt cọc và bồi thường gấp ba lần, tổng cộng là 400 lượng vàng SJC.
Có ý kiến cho rằng hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà, đất đã ký kết giữa hai bên là hợp đồng vô hiệu do lỗi của vợ chồng ông Huy vì tại thời điểm ký hợp đồng căn nhà 33 phố T, quận X là tài sản đang thế chấp tại Ngân hàng. Việc ký hợp đồng đặt cọc trao đổi nhà giữa các bên là vi phạm khoản 4 Điều 348 Bộ luật dân sự 2005.
Câu hỏi 6:.Anh (chị) có đồng ý với ý kiến trên không, tại sao?
Tình tiết bổ sung
Tại phiên hòa giải lần thứ nhất mở ngày 20.5.2011, có mặt vợ chồng ông Huy, bà Dung.
Câu hỏi 7: Thẩm phán có tiến hành phiên hòa giải được không, Tại sao? Quan điểm của anh (chị) về hướng giải quyết yêu cầu của bên nguyên đơn.


ĐÁP ÁN KỲ THI HỌC PHẦN LỚP ĐÀO TẠO NGUỒN THẨM PHÁN
Môn: Kỹ năng giải quyết các vụ việc Dân sự


Câu hỏi
Nội dung trả lời
Điểm

Điểm HV


1

* Theo anh (chị) Tòa án nhân dân quận Đ có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện của ông Huy không?
TAND quận Đ,Thành phố H. không có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện của ông Huy. Lý do: ông Huy yêu cầu khởi kiện là trả tiền đặt cọc và phạt cọc từ hợp đồng đặt cọc. Vì vậy, đây là tranh chấp hợp đồng đặt cọc để bảo đảm thực hiện chuyển đổi nhà đất. Tranh chấp này không liên quan đến bất động sản toạ lạc tại quận Đ, thành phố H. Do đó, xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp này theo lãnh thổ là toà án nơi bà Dung cư trú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS  (TAND quận HK, thành phố H.)

1 đ

2

* Quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Lý do:
-  Các bên đã xác lập hợp đồng đặt cọc chuyển đổi nhà đất theo Đ 358 BLDS;
-  Thực tế vợ chồng ông Huy đã thực hiện việc đặt cọc và bên nguyên đơn cho rằng bị đơn đã vi phạm hợp đồng đặt cọc.
-  Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền đặt cọc và phạt cọc.
1,5 đ




3

* Yêu cầu của bà Dung là yêu cầu phản tố
- Bị đơn yêu cầu nguyên đơn phải chịu phạt cọc 200 lượng vàng SJC do nguyên đơn đã vi phạm nghĩa vụ thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc. Đây là yêu cầu độc lập, không cùng yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại điểm b, khoản 2 điều 176 và hướng dẫn tại tiểu mục 11.3 phần I Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm”.
1 đ





4

* Anh (chị) xác định các tình tiết cần làm rõ trong vụ án:
- Các tình tiết để xác định hiệu lực của hợp đồng đặt cọc: nhà đất số 33 phố T, quận X, thành phố H có thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông Huy không; nhà 37 phố B quận Đ có thuộc quyền sở hữu của bà Dung không.
- Các thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng đặt cọc về nghĩa vụ có điều kiện để thực hiện việc chuyển đổi hay mua bán;
- Việc thực hiện thỏa thuận của các bên trong hợp đồng đặt cọc:
+ Việc không ký hợp đồng uỷ quyền cho ông Huy thay mặt bà Dung nhận tiền thuê nhà do lỗi của nguyên đơn hay bị đơn?
+ Thực tế ông Huy đã giải chấp ngôi nhà số 33 phố T, quận X, thành phố H chưa?
+ Có việc ông Huy tìm đối tác để cho thuê nhà số 33 phố T, quận X, thành phố H nhưng không bảo đảm được điều kiện thuê nhà và có việc vợ chồng ông Huy đã bán nhà số 33 phố T, quận X, thành phố H để lấy tiền mua nhà số 37 phố B, quận Đ, thành phố H theo đúng thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc không?.

2 đ




 5

* Xác định tư cách đương sự trong vụ án:
- Nguyên đơn: ông Nguyễn Thanh Huy, giải thích theo k2 Đ 56 BLTTDS;
- Bị đơn: bà Phan Thùy Dung, giải thích theo k3 Đ 56 BLTTDS;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Lê Thị Hoa, giải thích theo k4 Đ56 BLTTDS
1 đ




 6

* Không đồng ý với ý kiến Hợp đồng đặt cọc vô hiệu do căn nhà 33 phố T, quận X là tài sản đang thế chấp tại Ngân hàng:
- Theo quy định tại k4 Đ 348 BLDS năm 2005 thì: “bên thế chấp tài sản không được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ trường hợp bên nhận thế chấp đồng ý”.
- Hợp đồng xác lập giữa các bên là hợp đồng đặt cọc để bảo đảm việc giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển đổi nhà, không phải là hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp nên không áp dụng khoản 4 Điều 348 BLDS năm 2005.
- Trong hợp đồng đặt cọc hai bên đã thoả thuận việc giải chấp tài sản: vợ chồng ông Huy có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng để lấy lại giấy tờ sở hữu nhà, đất số 33 phố T, quận X, thành phố H nhằm thực hiện việc chuyển đổi tài sản theo thoả thuận.





1,5 đ





 7

* Tại phiên hòa giải lần thứ nhất mở ngày 20.05.2011, có mặt vợ chồng ông Huy, bà Dung:
- Do nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có mặt đầy đủ nên Tòa án tiến hành hòa giải theo Điều 184 BLTTDS, vụ án không thuộc trường hợp không hoà giải được.
Hướng giải quyết yêu cầu của nguyên đơn:
+  Hợp đồng đặt cọc ngày 22/03/2010 giữa vợ chồng ông Huy và bà Dung có hiệu lực theo Đ122 BLDS năm 2005;
+ Bị đơn có hành vi vi phạm nghĩa vụ thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc vì theo tình tiết thì bên nguyên đơn đã thực hiện đúng thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc: sau khi ký hợp đồng đặt cọc vợ chồng ông Huy đã tiến hành giải chấp nhà số 33 phố T, quận X; đã tiến hành tìm đối tác cho thuê nhà nhưng không bảo đảm được điều kiện của hợp đồng về giá cả và các điều kiện khác như đã thoả thuận với bà Dung nên vợ chồng ông Huy đã bán nhà số 33 phố T, quận X để lấy tiền mua nhà số 37, phố B, quận Đ bằng tiền mặt như thoả thuận của vợ chồng ông Huy và bà Dung trong hợp đồng đặt cọc.
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huy: Bà Dung có nghĩa vụ phải trả cho ông Huy và bà Hoa tiền đặt cọc 100 lượng vàng và phạt cọc 300 lượng vàng SJC theo điều 294, 358 BLDS năm 2005;

Góp phần tìm hiểu văn hóa pháp luật




Bài viết dưới đây bàn về văn hóa pháp luật của một quốc gia. Sau phần tranh luận về khái niệm văn hóa pháp luật và phạm vi ứng dụng của khái niệm này, bài viết phân tích mối quan hệ giữa văn hóa pháp luật quốc gia trong tương tác với khu vực và quốc tế, từng bước nhận diện những lát cắt và tiêu chí đánh giá hay đo lường của văn hóa pháp luật của một quốc gia.
1. Góp phần tranh luận về khái niệm và khả năng ứng dụng của văn hóa pháp luật
Văn hóa là cách chúng ta sống – một cách quan niệm mơ hồ và tùy thích, rất Việt. Thì cũng thế, văn hóa pháp luật là một khái niệm khó định dạng; tuy nhiên trong khuôn khổ bài nghiên cứu này cần mặc định hình hài của nó để xây dựng tiêu chí đánh giá. Văn hóa có thể hiểu ở trạng thái tĩnh, song cũng có thể nghiên cứu trong quá trình biến đổi của nó. Trình độ văn hóa pháp luật của một quốc gia là một thang nấc trong quá trình tiếp biến không ngừng của chúng.
Quan niệm về văn hóa pháp luật chắc đã khá cổ xưa, song thuật ngữ này được dùng như một khái niệm, một đại lượng có lẽ sôi nổi hơn từ những thập kỷ 60 của thế kỷ XX với những tên tuổi như Lawren M Friedman [1], Watson, hay muộn hơn như David Nelken [2-4]. Văn hóa pháp luật không phải là thuật ngữ của giới luật học thuần túy, kiểu như khế ước, nghĩa vụ, lỗi, hành vi hay chế tài, mà là một đại lượng gắn liền với xã hội học pháp luật hoặc nhân chủng học có liên quan đến pháp luật. Xa hơn nó có thể liên quan đến triết học pháp quyền, luật so sánh hoặc một nhánh nghiên cứu có tên gọi thời thượng như du nhập pháp luật trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tóm lại, văn hóa pháp luật là một cách nhìn về luật pháp, đặt pháp luật trong những tương quan đa chiều với khoa học hành vi, cách nghĩ, cách ứng xử, tôn giáo, niềm tin, các đặc tính nhân học của các cộng đồng và tộc người.
Là một cách nhìn, văn hóa pháp luật là những thang giá trị và công cụ nghiên cứu, bao gồm chí ít: (i) luật trên giấy, (ii) luật trong hành xử thực tế, (iii) luật trong suy nghĩ và thái độ của các giai tầng trong xã hội. Chúng là quan niệm, giá trị, mong đợi và thái độ của xã hội đối với các hiện tượng luật pháp.
Sơ đồ giản lược dưới đây minh họa quan niệm của Friedman về văn hóa pháp luật. Các thành tố chính của nó bao gồm quan niệm (tức là cách mà một xã hội hiểu), giá trị (tức là cách mà một xã hội tôn trọng, đề cao hoặc coi thường, làm ngơ), mong đợi (tức là cách mà một xã hội chờ đợi sự can thiệp) và thái độ (tuân thủ, xây dựng, quan tâm, phê phán…) đối với: (i) luật pháp, (ii) các thiết chế thực thi luật pháp, (iii) các cá nhân trong thiết chế thực thi hoặc những người hành nghề luật.
Quan niệm của Friedman không thể là một định nghĩa chặt chẽ, đã từng bị phê phán rất nhiều lần (Roger Cotterrell [5]), song nó giúp từng bước định ước được văn hóa pháp luật là gì. Nếu không đi xa hơn được so với Friedman, chúng ta lựa chọn cách nhìn của ông này làm điểm xuất phát để thảo luận.

Tóm lại, bổ sung thêm với thói quen khu biệt lĩnh vực nghiên cứu của các nhà khoa học nước ta, văn hóa pháp luật có thể xem như một lĩnh vực nghiên cứu, một cấp độ thể hiện của văn hóa trong biến đổi không ngừng, song cũng nên xem như một phương pháp hay cách nhìn, giúp hiểu rõ tương tác của pháp luật với quy phạm xã hội và những nền tảng văn hóa khác của một tộc người (sinh hoạt kinh tế, sự ăn, sự ở, cưới hỏi, ma chay, sinh hoạt dân gian, thờ cúng, tín ngưỡng, tôn giáo, thói quen tổ chức cộng đồng, nền tảng quyền lực trong xã hội, etc.).
Chắc rằng nhiều học giả sẽ đề cao cách nhìn thứ nhất, sẽ đưa ra các kiến nghị nhằm “năng cao, đổi mới, tăng cường” văn hóa pháp luật, và biết đâu còn gán thêm cho cái hiện tượng mơ hồ này tính ngữ văn hóa pháp luật xã hội chủ nghĩa. Chắc rằng văn hóa tự nó bị dẫn lối bởi các tín hiệu, cũng giống như bầy đoàn trong thế giới muôn vật không hiếm khi vẫn tuân theo những tâm lý đám đông được tạo ra bởi vô vàn loại tín hiệu, tác động vào văn hóa pháp luật chắc là có thể và có nhiều cách. Tìm cách hiểu và làm cho pháp luật hợp với lẽ tự nhiên có lẽ cũng là một chủ đề lớn. Vì vậy, nên giới hạn cách nhìn văn hóa pháp luật như một cách hiểu luật sống trên giấy và luật sống trong tâm thức của người dân như thế nào. Nói cách khác, dùng văn hóa pháp luật như một công cụ- một cách tiếp cận để hiểu quá trình một quy phạm ngấm vào cuộc sống và nếp nghĩ của người dân nước ta ra sao. Quá trình ấy đầy những ẩn số, nếu khai sáng chúng.. cũng đã là những nỗ lực đáng tự hào.
Có một số tác giả (Lê Đức Tiết [6], Trần Ngọc Đường [7]) dùng thuật ngữ văn hóa pháp lý, thậm chí văn hóa tư pháp (Viện Khoa học Pháp lý [8]). Theo thiển ý của tôi, pháp lý được hiểu như một khoa học về luật, soi rọi những nguyên lý của luật pháp. Vì lẽ ấy pháp lý là nghề nghiên cứu, là hàn lâm, cũng như thế tư pháp có thể hiểu là hệ thống tòa án, chúng không bao hàm mọi hiện tượng pháp luật nói chung. Để thống nhất, nên chọn thuật ngữ văn hóa pháp luật, cách lựa chọn ấy là bao quát và phù hợp, tương thích với cách hiểu chung về legal culture ở phương Tây.
2. Văn hóa pháp luật quốc gia trong tương tác với khu vực và quốc tế
Sau khi Liên Xô và phe Xã hội Chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, ý thức hệ tư tưởng không còn là ranh giới rõ rệt để phân chia chiến tuyến trên thế giới. Ngược lại, toàn cầu hóa, internet và chủ nghĩa tự do thương mại dường như làm thế giới dẹt ra; một thông tin điều chỉnh lãi suất của Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ ngay lập tức rung động chợ chứng khoán từ Âu sang Á. Mở đường và tiến bước cùng các thế lực làm phẳng thế giới không còn là lưỡi gươm thời Trung cổ, không còn là họng đại bác thời thực dân, mà là các hiệp định dưới tên gọi “tự do thương mại” được thao túng chủ yếu bởi các trung tâm tư bản Phương Tây. Một chủ nghĩa đế quốc pháp luật mới đã ra đời dựa trên chủ nghĩa trọng thương, đế quốc pháp luật ấy bị ảnh hưởng đáng kể bởi hệ thống pháp luật Hoa Kỳ.
Nếu theo dõi Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, theo dõi quá trình soạn thảo và ban hành các đạo luật lớn về dân sự, thương mại, công ty, chứng khoán, tài chính, bảo hiểm ở Việt Nam, sẽ dễ nhận thấy thông thương với thế giới đã giúp cho ảnh hưởng của các nền văn hóa pháp luật trên thế giới gia tăng ảnh hưởng đáng kể vào nước ta. Dưới khẩu hiệu “làm cho pháp luật nước ta tương thích với luật lệ quốc tế” một cuộc du nạp pháp luật quy mô rất lớn đã và đang diễn ra trên cả ba cấp độ: du nạp pháp luật trên giấy, du nạp quan niệm và triết lý pháp luật, và du nạp các thiết chế thực thi pháp luật. Điều này đã diễn ra ở lãnh vực pháp luật thương mại, dân sự, tài chính, ngân hàng, lan rất nhanh sang pháp luật tài sản, hợp đồng và đang bắt đầu cuộc khai phá của chúng tới pháp luật hành chính, hình sự, dè dặt thăm dò nền tảng chính trị của xã hội như quyền công dân, dân quyền, nhân quyền, tổ chức quyền lực và quyền tiệm cận công lý.
Như vậy, cũng như văn hóa là cách mà chúng ta tổ chức đời sống nói chung, văn hóa pháp luật ở Việt Nam chịu sức ép lấn lướt mạnh mẽ từ các trung tâm văn hóa góp phần định chuẩn cho thế giới này. Có thể gọi đó là tiếp biến, là du nạp. Cuộc vay mượn pháp luật trên giấy có thể diễn ra chóng vánh, song làm cho các quan niệm, giá trị và thái độ ẩn sau các quy phạm đó thực sự trở thành nếp nghĩ của dân chúng một cách tự nhiên và chân thành… mới là điều đầy bí ẩn. Văn hóa pháp luật, với tư cách là một cách nhìn nhận gắn luật với nhân chủng, xã hội học, dân tộc học, nhân học có thể là một công cụ đa ngành phù hợp giúp giải mã những điều bí ẩn của cuộc du nạp giá trị và quan niệm sống kể trên.
Một trong các điều bí ẩn có thể làm biến dạng đáng kể ảnh hưởng của du nhập pháp luật là sức phản kháng mãnh liệt của Việt tộc để bảo tồn tính cách Việt, nòi giống Việt và không gian sinh tồn thuần Việt. Các nhà sử học có thể tìm thêm minh chứng trong cuộc du nạp pháp luật Trung Hoa hàng nghìn năm thời Bắc thuộc, cũng có thể tìm thêm minh chứng từ những cuộc du nạp thất bại thời thực dân [9]. Thậm chí cuộc du nạp pháp chế xã hội chủ nghĩa vào Việt Nam, dù qua lăng kính của chủ nghĩa Mao trong những năm 60, hay trực tiếp dưới ảnh hưởng của Hiến pháp Xô Viết 1977 trong nửa cuối thập kỷ 70 cho đến khi bắt đầu chính sách Đổi mới, cũng bị văn hóa bản địa Việt Nam làm biến dạng đi đáng kể [10]. Điều này, trong một bối cảnh rộng lớn hơn, cũng có thể nhìn thấy trong cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa các nền văn minh lớn từ các trung tâm tư Trung Hoa, Ấn Độ, Âu Mỹ và thế giới hồi giáo [11].
Tôi không đủ năng lực để dự báo như Hungtinton rằng khu vực văn hóa Trung Hoa sẽ có thể tạo nên một nền văn hóa pháp lý kiểu Trung Hoa – Nhật Bản, như K. Zweigert và H. Koetz đã dự báo trong lần tái bản thứ ba của tác phẩm Luật so sánh nổi tiếng [12]. Hơn một trăm năm qua Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và hiện nay là Trung Quốc đã trải nghiệm những cuộc du nạp pháp luật phương Tây trong những điều kiện khá khác biệt với Việt Nam. Thêm nữa, dù gắn liền với nền văn hóa Trung Hoa, có cấu trúc xã hội và hệ thống chính trị rất tương đồng với Trung Hoa, song sau gần 100 năm đoạn tuyệt với Hán tự và phổ biến Quốc ngữ, pháp luật Trung Hoa có vẻ trở nên xa vời và khó tiệm cận với người Việt Nam, chí ít là vào thời điểm hiện nay. Có hay không một thứ văn hóa pháp lý Phương Đông, hay chí ít Viễn Đông, và liệu Việt Nam có còn là một chi trong cái dòng họ pháp luật ấy, có vẻ vẫn là những cảm nhận mơ hồ, chưa có chứng cớ.
Tuy nhiên, trong cuộc “va chạm giữa các nền văn minh”, văn hóa, và văn hóa pháp luật của người Việt Nam, chắc rằng sẽ bị cọ sát với vô khối lực xô đẩy từ các trung tâm văn minh, cái cảm giác nghiêng ngả tức thời chắc là khó tránh khỏi. Một đặc điểm khá thú vị của văn hóa pháp luật thời nay chắc là tính biến động của nó, bao gồm những cuộc thu nạp và khả năng chống trả do bản tính duy trì sinh tồn của văn hóa Việt. Một cơ sở kinh doanh của người Việt mau chóng khoác cái áo công ty cổ phần của phương Tây, trong quản lý người ta gặp lại dánh dấp gia trưởng của người Hàn, cái gia phong và dây mơ rễ má quan hệ của người Tàu, song vẫn thấp thoáng sự thoải mái, thuận tiện và dễ hài lòng của người Việt. Công ty nhiều, song tính chịu trách nhiệm hữu hạn thì ít, và phá sản theo thương luật lại càng hiếm hoi. Ví dụ ấy cho thấy, ngay cả trong thương luật là lĩnh vực thu nạp pháp luật phương Tây nhanh và phổ quát nhất, cuộc du nạp cũng mới chỉ diễn ra ở váng bọt, mà chưa thể thẩm thấu tới các giá trị và cách hành xử mà người Việt noi theo.
Tóm lại, sau một thời gian tiếp nhận và giao mới có thể nhận chân được những sức mạnh nổi trội của văn hóa Việt; điều mà các học giả thời nay ngồi bên bàn giấy cho là mạnh mẽ chưa chắc đã mạnh ở ngoài đời. Với những nghiên cứu có bằng chứng xác thực, ví dụ về thói quen mua bán đệ đương tài sản như nhà đất, điển cố nhân công, những tập tục bắt nợ, như cách mà ông Vũ Văn Mẫu đã tiến hành khi khảo cứu cổ luật Việt Nam, có vẻ thân thiết và gắn bó với người Việt hơn(12). Nghiên cứu về di sản văn hóa pháp luật có lẽ nên theo những nếp hành xử cũ và cuộc ẩn hiện của nếp cũ ấy dưới những tấm áo hiện đại thời nay, nếu làm được như vậy thì di sản trở nên sống và thân thương, hơn chỉ là một món đồ cổ trang trí cho hàng ngàn năm đã trôi qua.
3. Những lát cắt nhận diện văn hóa pháp luật
Có thể phân tuyến khi nhận diện văn hóa pháp luật giữa một bên là các thiết chế quyền lực (lập pháp, hành pháp, điều tra, kiểm soát, xét xử, thi hành án) và bên kia là các “đối tượng thi hành pháp luật” như doanh nhân, thị dân, dân quê, cán bộ lãnh đạo, viên chức, thanh thiếu niên, báo chí.. Theo thiển ý của tôi, ngoài cách tiếp cận kể trên nên có những nghiên cứu định lượng, điều tra hay khảo sát thực tế, chí ít theo những lát cắt dưới đây:

4. Tiêu chí để đo lường, đánh giá hay mô tả văn hóa pháp luật một quốc gia
Nghiên cứu quy mô về văn hóa pháp luật trong thời đại ngày nay, nếu có điều kiện, phải được dựa trên những tiêu chí định lượng và bằng chứng xác thực. Ví dụ có thể đo lường sự độc lập của tòa án dựa trên các tiêu chí sau:
a) Các chỉ số đánh giá chất lượng xét xử của tòa án(13)
Thời gian trung bình để đưa ra các phán quyết; Tính có thể tiên liệu được của các phán quyết (dựa trên việc xác định tỷ lệ các bản án không bị hủy ở cấp cao hơn);
Tính khả thi của các phán quyết (đặc biệt đối với các vụ án dân sự); tỷ lệ án oan sai bị sửa, hủy bỏ;
Sự hài lòng của các bên đương sự đối với các phán quyết;
Tỷ lệ các bản án được các bên chấp hành tự nguyện; và
Tỷ lệ thực tế các bản án được thi hành
b) Các tiêu ch0 đánh giá t0nh độc lập của hệ thống tòa án [14]
Đánh giá theo luật định (de jure)
o Hiến pháp có quy định về tổ chức và hoạt động của Tòa án tối cao hay không?
o Thủ tục sửa đổi Hiến pháp có dễ bị sửa đổi không?
o Quy định về thủ tục bổ nhiệm thẩm phán (do chính khách chỉ định hay do các nhà chuyên môn)
o Nhiệm kỳ của thẩm phán (suốt đời hay theo nhiệm kỳ ngắn hạn)
o Thẩm phán có thể bị bãi nhiệm không?
o Việc quyết định mức lương cho các thẩm phán
o Mức lương chi trả cho thẩm phán có hợp lý không?
o Mức độ tiếp cận hệ thống tòa án và khả năng khởi tố (chỉ một số cơ quan hoặc cá nhân có quyền khởi tố hay tất cả mọi công dân đều có thể khởi tố khi quyền hoặc lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm);
o Viên phân công xét xử (Chánh án toàn quyền phân công xét xử hay việc phân công xét xử tuân theo các nguyên tắc luật định trên cơ sở nội dung vụ việc);
o Tòa án tối cao có được giải thích hiến pháp và kiểm tra tính hợp hiến của các hành vi của các cơ quan nhà nước thuộc các nhánh quyền lực khác hay không?
o Sự minh bạch trong việc công bố các quyết định của tòa án (có công bố các ý kiến thiểu số hay không)
Đánh giá theo thực tế (de facto)
o Nhiệm kỳ trung bình thực tế của các thẩm phán
o Có sự bãi nhiệm thẩm phán khi đang trong nhiệm kỳ hay không?
o Số lượng các thẩm phán trong cùng một tòa án (nhiều hay ít – nếu nhiều thì có thể ảnh hưởng đến tính độc lập của các thẩm phán không quyết định theo sự can thiệp của các nhánh quyền lực khác)
o Lương của thẩm phán trên thực tế có được thay đổi trong nhiệm kỳ thực tế không (ít nhất là không bị giảm đi)
o Ngân sách dành cho việc tổ chức các hoạt động của Tòa: (Số lượng các thư ký tòa, quy mô các thư viện của tòa, việc sử dụng các công cụ hiện đại trong hoạt động của tòa);
o Tần suất thay đổi các quy định pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt
động của Tòa án (tần suất thay đổi càng cao càng ảnh hưởng đến mức độ độc lập của tòa);
o Việc thực thi các quyết định của tòa án có phụ thuộc nhiều vào các nhánh quyền lực khác hay không?
Cũng như vậy các nghiên cứu định lượng có thể áp dụng để đo lường thái độ của công chúng đối với các dịch vụ pháp luật hoặc nhóm hành nghề luật, kiểu như:
Số lượng luật sư, công chứng viên, thừa phát lại… trên tổng số dân cư (theo địa phương, toàn quốc, so sánh với khu vực và thế giới);
Thói quen thuê dịch vụ của luật sư của doanh nghiệp, người dân (trước khi giao kết khế ước, trong quá trình giám sát thực hiện, hay chỉ khi có tranh chấp xảy ra).
Tương tự như vậy, đối với đào tạo nghề luật hoàn toàn có thể xây dựng các tiêu chí đánh giá tương đối khách quan, ví dụ dựa trên:
Số lượng học viên trung bình mà một giáo viên phải đảm nhận (khái niệm giáo viên có thể tính theo đơn vị GS, PGS, giảng viên, trợ giảng, nhân viên phục vụ theo một tỷ lệ quy đổi),
Số lượng giáo trình, sách tham khảo mà nhà trường hiện có trên từng sinh viên;
Diện tích, tiện ích ký túc xá, thư viện, khả năng truy cập Internet trung bình trên từng sinh viên;
Số ngày, cơ hội, khả năng.. một sinh viên có thể tham gia thực tiễn pháp lý (thực tập, gửi đào tạo tại văn phòng luật sư, tòa án…);
Số lượng phân bổ, cơ hội việc làm.. của sinh viên luật sau khi tốt nghiệp,.. Tóm lại, có thể và ngày càng dễ dàng hơn khi nghiên cứu định lượng, đưa ra các chỉ số và tiêu chí đánh giá tương đối khách quan, sát thực để đo lường cảm nhận của dân chúng đối với pháp luật.
5. Đánh giá văn hóa pháp luật từ các nghiên cứu tình huống
Trong nghiên cứu xã hội học hay khoa học chính trị, ngoài những chỉ số và phép thông kê cần dùng tới phương pháp nghiên cứu tình huống. Khoa học liên quan đến hành vi ứng xử của con người đều không thể tuyệt đối cứng nhắc như khoa học tự nhiên, bởi con người hành xử một phần theo lí trí, theo các lợi ích, song phần nhiều do các tác nhân tâm lí, tín ngưỡng, niềm tin và vô vàn tác nhân chủ quan khác.
Có khá nhiều nghiên cứu tình huống cho từng tình trạng điển hình ví dụ về tình cảnh của nông dân Bắc Bộ, về tục ma chay của người An Nam, về chế độ thôn xã Nam kỳ và nhiều nghiên cứu được tiến hành và công bố dưới thời thực dân vẫn còn lưu lại trong các thư viện lớn. Gần đây có các nghiên cứu điển hình về lý do, cách thức các cuộc đình công lớn ở Việt Nam, ảnh hưởng của các nhóm lợi ích đến xây dựng chính sách, về ảnh hưởng của chính sách chi tiêu công cộng trong y tế, giáo dục đối với các nhóm dân cư nghèo ở Việt Nam.
Nếu xét về tính thời sự, có thể kể tới các vấn đề nông dân mất đất và công nghiệp hóa, nông dân thất nghiệp và khu vực nhập cư thành thị, đình công “tự phát” hay cách thức tổ chức các cuộc đình công ở Việt Nam, cuộc tư nhân hóa ở Việt Nam và nhu cầu tái du nhập khái niệm công sản để bảo vệ tiện ích công cộng trước tư bản tư nhân. Những vấn đề lớn có thể bao gồm các ví dụ điển hình từ thể chế, hệ thống chính trị (có nên du nhập tự quản địa phương, có nên thí điểm bầu xã trưởng, tỉnh trưởng trực tiếp…), những vấn đề kinh tế (năng lực cạnh tranh, hiệu quả của pháp quy), những vấn đề an sinh xã hội (dạy nghề, tạo việc, bảo hiểm, thất nghiệp, bệnh nghề, etc.).
6. Một vài kết luận
Trong khuôn khổ hạn chế, đóng góp của bài viết này là gợi ý nhìn nhận văn hóa pháp luật như một cách tiếp cận để hiểu luật và hành vi ứng xử thực tế của người Việt Nam. Không thể tự suy luận, khoa học hành vi cần tới những chỉ số tương đối cụ thể, được điều tra và đo lường theo những tiêu chí khách quan. Bởi vậy cần quan sát văn hóa pháp luật theo những lát cắt, ví dụ người Việt Nam nghĩ gì về luật trên giấy, hiểu gì khi đọc luật trên giấy và làm gì trong thực tế nếu có chuyện đụng chạm tới mình. Chia nhỏ thêm, có thể xây dựng các chỉ số nhận dạng, tiêu chí đánh giá các cụm vấn đề, thậm chí có thể đối chiếu so sánh chúng với các tiêu chí tương tự ở nước ngoài.
Nếu doanh nhân nước ta hàng năm mất tới 1050 giờ, tức là tương đương với 130 ngày làm việc của một nhân viên, chỉ để lo các thủ tục nộp thuế, điều ấy có thể cho người ta cảm nhận được người Việt Nam sẽ nghĩ gì về ngành thuế và sẽ hành xử ra sao khi nhân viên ngành thuế gõ cửa văn phòng của mình [WB, Doing Business 2008]. Ngoài phương pháp xây dựng lát cắt, xây dựng chỉ số và tiêu chí đo lường cho từng nhóm vấn đề ưu tiên, sẽ đầy đủ hơn nếu tiếp cận văn hóa pháp luật từ những tình huống điển hình.
Trong xu thế bị hối thúc bởi đủ loại thế lực giằng co trong một thế giới ngày càng đa nguyên, đa cực, đa lợi ích, có thể dễ nhận thấy một giai đoạn du nhập văn hóa pháp luật nước ngoài đã và sẽ diễn ra ngày càng hối hả hơn trong một vài thập niên nữa. Cuộc du nạp pháp luật trên giấy sẽ kéo theo những xung đột về ý niệm, đó là một điều chắc chắn. Chỉ có điều ý niệm nào sẽ được số đông công chúng Việt Nam chấp nhận và tuân theo trong phép hành xử sẽ là một ẩn số với nhiều tác nhân còn chưa lộ diện rõ.
Tài liệu tham khảo:
[1] M. Friedman, Lawrence, “The Concept of Legal Culture: A Reply” in Nelken, David, ed. Comparing Legal Cultures (Aldershot: Dartmouth Publishing Company), 1997.
[2] David Nelken (Editor), Comparing legal cultures, Hants, UK: Dartmouth Publishers, 1997.
[3] David Nelken, Disclosing/Invoking legal Culture- An
Introduction, 4 Social & Legal Studies 435, 1995.
[4] David Nelken, Using the concept of legal culture, Australian Journal of Legal Philosophy, 2004.
[5] Roger Cotterrell, Law, culture and Society: Legal ideas in the mirror of social theory, Hampshire: Ashgate, 2007.
[6] Lê Đức Tiết, Văn hóa pháp lý Việt Nam, NXB Tư pháp, 2005.
[7] Trần Ngọc Đường, Văn hóa pháp lý với sự nghiệp đổi mới ở nước ta, Tạp chí Luật học, 2/2003.
[8] Viện Khoa học Pháp lý, Văn hóa tư pháp, Thông tin Khoa học pháp lý, 7/2001.
[9] Phạm Duy Nghĩa (PDN), Gia tài 60 năm luật học,
in trong PDN: Bay cùng đàn sếu, NXB Trẻ, 2007. [10] Đặng Phong, Lịch sử kinh tế Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, 2006.
[11] Samuel Huntington, Sự va chạm của nền văn minh, NXB Lao động, 2003.
(12) Xem thêm sách của ông Vũ Văn Mẫu (Dân-luật lược-giảng, Quyển Nhất, Saigon 1967, Dân-luật lược- giảng, Quyển Hai, Saigon 1968 và Việt Nam Dân luật lược khảo, Bộ quốc gia giáo dục xuất bản, Saigon 1963), Dân luật khái luận, Sài Gòn, 1958, Cổ luật Việt Nam lược khảo, Sài Gòn 1970, Pháp luật diễn giảng, Sài Gòn 1975. Trong các sách đó, cuốn Cổ luật Việt Nam lược khảo 1970 rất đáng đọc, ông Mẫu dường như là những người cuối cùng cố gắng nối liền mạch cổ luật với cái gọi là la re’ception des droits occidienteux thời nay. Bên Harvard có ông Tạ Văn Tài, học trò của ông Mẫu cùng vói một nhóm chuyên gia Hán Nôm có soạn cuốn “The Le Code: Law in traditional Vietnam” về cơ bản cũng không thể đi xa hơn ông Mẫu về cổ luật Việt Nam.[12] K. Zweigert and H. Koetz, An Introduction to Comparative Law, Oxford University Press and J.C. Mohr (Paul Siebeck), 1998.
(13) Theo Maria Dakolias, “Methods for Mornitoring and Evaluating the Rule of Law”, World Bank (2005) có tại: www4.worldbank.org/legal/database/justice/data/UsingS ectorGlanceDatabase.pdf truy cập 24/12/2007.
[14] Lars P. Feld and Stephan Voigt, “Economic Growth and Judicial Independence: Cross Country Evidence Using a New Set of Indicators”, World Bank, 2002.
Nguồn: Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Pháp luật được “đặt ra” hay “tìm ra”?


Xuân đến, trời đất làm cuộc giao ban giữa năm cũ và năm mới cũng là lúc con người so đo với những chuyện xưa, chuyện nay. Có những điều cứ tưởng như đã ngã ngũ, nghĩ lại vẫn chưa yên.
Từ khi đổi mới, vị trí, vai trò của pháp luật được đưa lên lại hàng đầu. Tinh thần thượng tôn pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật, ý thức pháp luật là những gì tưởng chừng đã rất quen thuộc trong quan niệm, trong nhận thức và trong việc làm của chúng ta. Ở nhiều công sở, nhiều nơi công cộng, khẩu hiệu “Sống và làm việc theo pháp luật” được trưng bày khá trang trọng. Trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, đi tìm mô hình nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, pháp luật vươn lên thành đại lượng – nhà nước pháp quyền trước hết được hiểu là nhà nước trọng pháp, quản lý xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật.
Thế nhưng dường như chúng ta chỉ mới nhất quán ở tính chất hình thức của vấn đề là coi trọng pháp luật mà chưa chú trọng đúng mức ở tính chất nội dung. Đó là xem pháp luật là gì với cách tiếp cận đi gần với tinh thần chung và không đứt đoạn với tinh hoa truyền thống.
Lâu nay trong học thuật và trong thực tiễn, gần như chỉ có một cách tiếp cận duy nhất khi quan niệm về pháp luật. Công thức chung dễ dàng tìm thấy: pháp luật = hệ thống các quy phạm pháp luật trong những hình thức văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước (thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và những người có thẩm quyền) ban hành và bảo đảm thực hiện bằng chính quyền lực nhà nước.
Công thức này đóng đinh những nhìn nhận kéo theo: Pháp luật chỉ là tập hợp một cách hệ thống những khuôn thước hành xử do cơ quan công quyền công bố. Những khuôn thước này chỉ có thể bọc trong những hình thức chuyên dụng là các loại hình văn bản quy phạm pháp luật; chúng phải do nhà nước đặt ra và bảo đảm thực hiện.
Ở đây, có sự đánh đồng pháp luật với hoạt động làm luật (hoạt động lập pháp của Quốc hội, thậm chí kể cả lập quy của các cơ quan hành chính nhà nước). Như vậy, quan niệm phổ biến trên chọn một lối khá hẹp, nhấn mạnh yếu tố quyền lực trong cán cân quyền lực với công lý. Pháp luật là phương tiện đặc hữu của nhà nước nên hoạt động sáng tạo pháp luật là lĩnh vực độc quyền của nhà nước. Nguồn của pháp luật chỉ có thể là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy, những gì mà nhà nước chưa công bố chính thức thì không được chấp nhận dù là cần thiết cho nhu cầu cuộc sống mà phải chờ đợi, mặc cho sự chờ đợi ấy tạo ra những khoảng trống hoặc đôi khi buộc phải giải quyết một cách tùy nghi. Pháp luật thường được ban hành và triển khai theo hướng tô đậm tính cưỡng chế hơn là huy động sự đồng thuận và dụng công thuyết phục, khơi dậy ý thức tự giác.
Thực ra, từ xa xưa trong kho tàng của nhân loại, với những tư tưởng tỏa sáng vượt biên, xuyên qua các thời đại và trong di sản của dân tộc với những tinh túy của hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước còn có cách tiếp cận pháp luật khác rộng hơn.
Pháp luật không chỉ đơn thuần là sản phẩm đặc chủng của nhà nước mà trước hết là kết tinh thiêng liêng của những giá trị cao quý trong xã hội, dựa trên nền tảng dân chủ, nhân bản và đạo lý mà không một ai bác bỏ được để trở thành lẽ phải đương nhiên như tự do, bình đẳng, công lý, công minh… Với tính chất ấy, pháp luật luôn tồn tại trong xã hội và gắn liền với những quyền tự nhiên của con người. Như thế, bên cạnh hệ thống quy tắc xử sự chung mà nhà nước san định ra còn có sự hiện hữu pháp luật tự nhiên. Nhà nước phải lấy đó làm thước đo để hướng tới sự phù hợp và hoàn thiện để củng cố lòng tin của công dân vào sự công minh của nhà nước.
Manh nha từ thời cổ đại, tư tưởng về pháp luật tự nhiên đi vào những văn kiện nổi tiếng như Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1789 mà mở đầu Tuyên ngôn độc lập 1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã viện dẫn. Nhiều ý kiến cho rằng bên cạnh sự lịch lãm về chính trị của Người, chắc hẳn rằng trong quan niệm về pháp luật tự nhiên có hạt nhân tiến bộ có thể vượt qua sắc thái chính thể và thời gian để trở thành di sản chung của nhân loại. Đó là tư tưởng nhà nước phải thừa nhận và phục tùng lẽ phải và công lý.
Ở Việt Nam, những tương đồng với thuyết pháp luật tự nhiên hóa thân thành những quan niệm giản dị mà sâu sắc: bên cạnh pháp lý có đạo lý; cùng với phép vua có lệ làng; sức dân như sức nước…
Về bản chất của sự hình thành, pháp luật không được “đặt ra” mà được “tìm ra”. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ rõ: “Nhà lập pháp phải tự coi mình như nhà khoa học tự nhiên. Ông ta không làm ra pháp luật, ông ta không phát minh ra chúng mà chỉ nêu chúng lên. Ông ta biểu hiện quy luật nội tại của những mối quan hệ tinh thần thành những đạo luật thành văn có ý thức. Chúng ta sẽ chê trách nhà lập pháp là vô cùng tùy tiện nếu ông ta thay thế bản chất của sự vật bằng nhiều điểm bịa đặt của mình”.
Từ đó, hàng loạt yêu cầu đặt ra về trách nhiệm của nhà nước trong công tác xây dựng pháp luật, làm thế nào cho pháp luật hợp với lòng dân để mọi người tâm phục và tự giác thực hiện, nâng cao chất lượng, uy tín và hiệu lực thực tế của pháp luật. Đừng áp đặt võ đoán hay tạo ra những lâu đài pháp lý và để cho cỏ mọc trong lối đi vào chúng.
TS HUỲNH VĂN THỚI
Theo Pháp luật TP online

Những khác biệt trong pháp luật phòng, chống tham nhũng Việt Nam và Singapore


Một trong những bí quyết để đẩy lùi nạn tham nhũng của Singapore là chú ý đến yếu tố con người, luật pháp cũng như cơ chế kiểm tra của luật pháp đối với con người. Bài viết nêu một số điểm khác biệt chính về pháp luật phòng, chống tham nhũng giữa Việt Nam – Singapore, qua đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay .
1. Từ tên gọi của hai Luật
Ngày 17/6/1960, Singapore ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng (Prevention Corruption Act.). Ngày 29/11/2005, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật với tên gọi: “Luật Phòng, chống tham nhũng” nhằm điều chỉnh những vấn đề liên quan đến lĩnh vực này. Như vậy, mục tiêu của cả hai Luật đều là phòng tham nhũng và chống tham nhũng. Theo chúng tôi, phòng tham nhũng là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa ra các biện pháp cần thiết để nhằm hạn chế tình trạng tham nhũng phát triển; chống tham nhũng là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đưa ra các biện pháp trừng phạt những người có các hành vi tham nhũng. Nhưng xuyên suốt 90 điều luật trong Luật Phòng, chống tham nhũng của Việt Nam, không có sự đề cập đến các quy định để chống tham nhũng, mà chỉ có các quy định về phòng tham nhũng, như các quy định về kê khai tài sản, công khai minh bạch hoạt động cơ quan nhà nước. Có thể là do các nhà làm luật đã quy định chủ yếu các tội danh về tham nhũng trong Bộ luật Hình sự (BLHS) ở chương XXI mục A Các tội phạm về chức vụ, nên không đưa vào trong Luật này chăng?  Bản thân tên Luật hiện nay bao hàm cả nội dung là chống tham nhũng, nhưng lại không có các quy định về chống tham nhũng. Trong khi đó Luật Phòng, chống tham nhũng của Singapore tác động đến cả nội dung chống tham nhũng và phòng tham nhũng. Như vậy, cả hai luật đều có tên là Luật Phòng, chống tham nhũng nhưng nội dung và những điều mà hai Luật tác động đến là khác nhau. Do vậy, cần xác định lại tên gọi của Luật Phòng, chống tham nhũng Việt Nam.
2. Đối tượng chịu sự điều chỉnh của hai Luật
Khoản 2 Điều 1 Luật Phòng, chống tham nhũng Việt Nam năm 2005 quy định: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Theo quy định trên, tham nhũng chỉ có thể là hành vi của người có chức có quyền, do đó chủ thể của tội này chỉ có thể là người có chức vụ, quyền hạn. Theo khoản 3 Điều 1 của Luật này thì người có chức vụ quyền hạn là “Cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó” – đó chỉ là những người có chức vụ quyền hạn phục vụ trong các cơ quan nhà nước. Hay nói cách khác, đối tượng điều chỉnh theo Điều 1 của Luật Phòng chống tham nhũng chỉ dành cho những người có chức vụ quyền hạn trong khu vực công mà không đặt ra đối với những người có chức vụ quyền hạn ở khu vực tư nhân. Trong khi đó, Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng Singapore quy định “cá nhân” có nghĩa là bất kỳ người nào làm việc hay được thuê làm việc cho người khác, và bao gồm cả người được ủy quyền, quản lý và người thực hành, người phục vụ của Chính phủ hay ở bất kỳ tổ chức hay cơ quan công quyền nào, và theo tinh thần của Điều 8 bao gồm “những người làm hợp đồng và bất kỳ người nào đang làm hợp đồng được ủy quyền” – nghĩa là đối tượng điều chỉnh của Luật Phòng, chống tham nhũng Singapore là tất cả mọi người bao gồm những người làm việc trong khu vực nhà nước và những người làm việc trong khu vực ngoài nhà nước. Như vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng nước ta hiện nay chưa điều chỉnh người làm việc trong khu vực ngoài nhà nước, cũng là một trong những nơi có thể xảy ra tham nhũng. Do đó, theo chúng tôi, nên mở rộng phạm vi tác động của Luật Phòng, chống tham nhũng đến cả những người trong khu vực tư. Một lý do nữa để nên mở rộng đối tượng điều chỉnh của Luật ra khu vực tư là tại Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2005 (sau đây gọi tắt là Công ước về chống tham nhũng) mà Việt Nam đã tham gia thảo luận và ký kết vào ngày 10/12/2003, tại Điều 12 quy định các quốc gia thành viên Công ước, trên cơ sở luật pháp quốc gia, áp dụng các biện pháp phòng ngừa tham nhũng liên quan đến khu vực tư, tăng cường các chuẩn mực kế toán, kiểm toán liên quan đến khu vực tư; ban hành các chế tài dân sự, hành chính hoặc hình sự có hiệu lực đối với các hành vi vi phạm. Theo đó các quốc gia thành viên phải ban hành pháp luật để phòng ngừa tình trạng tham nhũng ở khu vực tư.
3. Thẩm quyền điều tra về các hành vi tham nhũng
Thẩm quyền điều tra về các hành vi tham nhũng ở Việt Nam là Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng và ở Singapore là Cơ quan điều tra điều tra tham nhũng (CPIB).
Ngày 28/8/2006, Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã thông qua Nghị quyết số 1039/2006/NQ-UBTVQH (Nghị quyết 1039) về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng. Theo Nghị quyết này, Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng là một cơ quan mới trong hệ thống chính trị của nước ta. Cơ cấu ban chỉ đạo theo Điều 6 của Nghị quyết 1039, gồm:
a) Trưởng ban chỉ đạo: Thủ tướng Chính phủ
b) Phó trưởng ban chỉ đạo: Phó thủ tướng Chính phủ
c) 9 ủy viên: có thể chia thành các nhóm sau: (i) Các ủy viên giữ các chức vụ thực thi quyền lực hành pháp gồm: Tổng Thanh tra, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; (ii) Các ủy viên giữ các chức vụ thực thi quyền lực tư pháp gồm: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhân dân tối cao; (iii) Các ủy viên giữ các chức vụ trong cơ quan của Đảng gồm: Phó Chủ nhiệm Ủy ban Trung ương, Phó Trưởng ban nội chính Trung ương.
Như vậy, cơ cấu tổ chức của Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng là một cơ cấu mạnh, không chỉ có khả năng chỉ đạo những vấn đề có tính vĩ mô về phòng, chống tham nhũng mà còn có khả năng trực tiếp giải quyết hoặc kiến nghị chỉ đạo chủ trương giải quyết những vụ việc cụ thể phát sinh trong quá trình thực thi nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng. Bên cạnh một cơ cấu tổ chức mạnh, Ban chỉ đạo còn có những quyền hạn khá rộng trong việc chống tham nhũng: theo quy định tại khoản 1, Điều 5 của Nghị quyết 1039: “Ban chỉ đạo có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có thẩm quyền báo cáo về tình hình tham nhũng và kết quả công tác phòng, chống tham nhũng tại cơ quan, tổ chức, đơn vị mình; trong trường hợp cần thiết, yêu cầu báo cáo việc xử lý những vụ, việc tham nhũng cụ thể, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý thông tin về hành vi tham nhũng…”. Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo cũng có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có thẩm quyền thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng; xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng để xảy ra hậu quả nghiêm trọng, cũng như yêu cầu tiến hành việc điều tra, thanh tra, kiểm toán đối với những vụ việc có biểu hiện tiêu cực.
Trưởng ban chỉ đạo (Thủ tướng Chính phủ) có quyền trực tiếp ra quyết định đình chỉ công tác đối với người giữ chức vụ Thứ trưởng và các chức vụ tương đương, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, ủy viên thường trực Hội đồng nhân dân (HĐND), Chủ tịch, Phó Chủ tịch, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các chức vụ khác do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, cách chức khi người đó có dấu hiệu tham nhũng, gây khó khăn đối với hoạt động chống tham nhũng.
Đây là một trong những quy định mới góp phần gia tăng thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ (Trưởng ban chỉ đạo) trong việc xử lý các cá nhân liên quan đến tội tham nhũng. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4, Điều 5, Nghị quyết của Chính phủ về thẩm quyền của Ban chỉ đạo Trung ương trong việc phòng, chống tham nhũng thì Thủ tướng Chính phủ có quyền trực tiếp ra quyết định tạm đình chỉ công tác đối với người giữ chức vụ Chủ tịch, Ủy viên thường trực HĐND, trong khi đó, quy định tại Điều 52, 53 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì vấn đề này thuộc quyền hạn của UBTVQH: “UBTVQH có quyền phê chuẩn kết quả bầu Chủ tịch, Phó chủ tịch, Ủy viên thường trực HĐND cấp tỉnh; hoạt động của HĐND cấp tỉnh chịu sự giám sát và hướng dẫn của UBTVQH; Thường trực HĐND cấp tỉnh chịu trách nhiệm báo cáo về hoạt động của mình lên UBTVQH”. Căn cứ vào các quy định đó, thì UBTVQH có thẩm quyền trong việc tạm đình chỉ đối với người giữ chức vụ Chủ tịch, Phó chủ tịch, Ủy viên thường trực HĐND cấp tỉnh. Vì vậy, để đảm bảo tính hiệu quả trong công tác chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, UBTVQH đã ủy quyền cho Trưởng ban chỉ đạo. Bên cạnh đó, Trưởng ban chỉ đạo còn có quyền tạm đình chỉ công tác đối với các chức danh Thứ trưởng và tương đương, Chủ tịch HĐND, UBND cấp tỉnh, sau đó mới báo cáo Bộ Chính trị, Ban bí thư, ngược với quy trình về công tác cán bộ của Đảng. Chính quy trình mới về việc xử lý cán bộ có dấu hiệu tham nhũng, gây khó khăn cho hoạt động chống tham nhũng sẽ rút ngắn được nhiều thời gian, tạo điều kiện cho các cơ quan bảo vệ pháp luật thực hiện nhiệm vụ của mình và bằng việc ban hành những quy định như trên, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ủy quyền xử lý cán bộ cho Trưởng ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng. Thêm vào đó, Ban chỉ đạo có quyền kiến nghị cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền tạm đình chỉ công tác đối với người giữ chức vụ lãnh đạo cơ quan, tổ chức ở trung ương theo quy định tại khoản 5, Điều 5 của Nghị quyết.
Tuy nhiên, để thực hiện được sự đổi mới về quy trình xử lý cán bộ như trên thì cũng cần phải sửa đổi các văn bản của Đảng để thể hiện sự thống nhất cao giữa Đảng và Nhà nước trong việc phòng, chống tham nhũng.
Singapore không có Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng, thay vào đó là một Cơ quan điều tra tham nhũng (CPIB) tách khỏi các cơ quan khác, trực thuộc Thủ tướng Chính phủ, có quyền độc lập điều tra và ngăn chặn tham nhũng. Chính điều này sẽ giúp cho cơ quan không bị chi phối trong hoạt động điều tra. Chức năng và nhiệm vụ của CPIB là tiếp nhận và điều tra các tố giác về tham nhũng trong các cơ quan nhà nước và tư nhân (lĩnh vực công và tư nhân); điều tra và làm rõ các hành vi vi phạm pháp luật và đạo đức nghề nghiệp trong các tổ chức của Nhà nước; ngăn chặn và phòng ngừa tệ nạn tham nhũng bằng cách điều tra, xem xét quá trình và phương thức hoạt động trong các cơ quan nhà nước nhằm hạn chế đến mức tối đa các điều kiện để tham nhũng nảy sinh. CPIB hiện có 75 nhân viên, trong đó có 49 nhân viên điều tra (CPI officers) và 26 nhân viên phục vụ. Trong số các nhân viên điều tra, có cả Chủ tịch và 2 Phó chủ tịch CPIB, 5 trợ lý Chủ tịch và 41 nhân viên điều tra chuyên nghiệp được sắp xếp theo các cấp bậc khác nhau. Những người không làm nhiệm vụ điều tra gồm có 4 nhân viên tiếp nhận và xử lý thông tin, 22 nhân viên văn phòng.
Bộ phận nghiệp vụ là bộ phận quan trọng nhất, tập trung số lượng lớn nhân viên có trình độ cao. Bộ phận này thực thi nhiệm vụ chủ yếu trong đấu tranh chống tham nhũng và tiến trình điều tra các hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu của tội tham nhũng theo luật định. Bộ phận nghiệp vụ được chia thành 4 đơn vị, mỗi đơn vị đảm trách điều tra một số loại vụ việc, một số loại đối tượng nhất định. Trong đó có đơn vị gọi tắt là SIT – đây là đơn vị được giao điều tra những nhân vật quan trọng (có chức, có quyền và có địa vị xã hội) và các vụ việc có tính chất phức tạp.
Bộ phận trinh sát nghiệp vụ có nhiệm vụ thu thập và xử lý các thông tin về tham nhũng, xác minh tính chính xác của những thông tin đã được cung cấp, nghiên cứu nhằm xác nhận và cung cấp các yêu cầu cần thiết đối với điều tra nghiệp vụ.
Bộ phận hành chính – nghiệp vụ chịu trách nhiệm về vấn đề hành chính, nhân sự, tổ chức của cơ quan, lập kế hoạch chiến lược cho cơ quan điều tra chống tham nhũng. Ngoài ra, bộ phận này còn có chức năng lập báo cáo cho Chính phủ và cung cấp thông tin cần thiết khác cho các cơ quan trung ương có yêu cầu.
Trong bộ phận này còn có một đơn vị với chức năng ngăn chặn và thẩm định, có nhiệm vụ xem xét, đánh giá cách thức hoạt động của các cơ quan chính phủ có khuynh hướng tham nhũng để đưa ra những nhận xét về những yếu kém, sơ hở trong quản lý điều hành làm nảy sinh tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật khác, từ đó kiến nghị các biện pháp khắc phục và phòng ngừa một cách có hiệu quả.
Thành viên của CPIB thường là những nhân viên cảnh sát chuyên về lĩnh vực điều tra tham nhũng nên họ có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động điều tra, nghiên cứu, khác với thành viên của Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam – gồm những cán bộ cao cấp trong hệ thống chính trị. Nhiệm vụ chính của các thành viên Ban chỉ đạo không phải là chuyên về việc điều tra tham nhũng mà là công việc ở những cơ quan, ban ngành mà họ đang trực tiếp phụ trách. Từ đó dẫn đến một hệ quả là những thành viên này rất am hiểu lĩnh vực mà họ đang hoạt động, nhưng đối với công việc chống tham nhũng thì đó là một nhiệm vụ khá mới mẻ mà chưa chắc họ có thể hoàn thành tốt công việc.
Bên cạnh đó, các thành viên CPIB hoạt động chuyên trách nên dành toàn bộ thời gian và công sức cho công việc. CPIB còn có Ban tiếp nhận thông tin hoạt động liên tục. Những người có thông tin về tham nhũng có thể gởi đơn hoặc gọi điện cho cơ quan CPIB hoặc nhân viên cơ quan này đang thi hành công vụ, hoặc cũng có thể gọi điện cho bộ phận trực ban 24/24 giờ theo một số máy cố định để cung cấp thông tin hoặc phản ánh các vấn đề liên quan đến tham nhũng. Cơ quan điều tra tham nhũng cũng sẵn sàng tiếp nhận các tố cáo về tham nhũng bằng văn bản hoặc các hình thức thông tin khác. Vì thế, CPIB luôn tiếp nhận những thông tin phản ánh một cách nhanh nhạy và đầy đủ, không bỏ sót bất kỳ một tố cáo nào. Điều này sẽ là tiền đề cho những hoạt động điều tra về sau. Trong khi đó, các thành viên Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam không hoạt động chuyên trách, thêm vào đó, theo quy định tại Điều 13 của Nghị quyết 1039: “Ban chỉ đạo họp định kỳ ba tháng một lần” nên tính chuyên nghiệp càng ít thể hiện. Tuy Nghị quyết có quy định thêm “Ban chỉ đạo có thể họp đột xuất theo sự đề nghị của Trưởng ban chỉ đạo hoặc Phó ban chỉ đạo”, nhưng theo chúng tôi, hoạt động tham nhũng luôn diễn ra muôn hình vạn trạng nên cần có sự theo dõi liên tục và sát sao để có thể kịp thời nắm bắt và xử lý khi có những vụ việc xảy ra. Việc quy định như trên sẽ khiến cho hoạt động của cơ quan này thiếu đi tính liên tục và chặt chẽ; vì mặc dù vẫn có Ủy viên thường trực là người hoạt động thường xuyên và chịu trách nhiệm quản lý, điều hành hoạt động của Văn phòng Ban chỉ đạo nhưng họ vẫn không phải là những người có quyền quyết định mà chỉ là những người trực tiếp thực hiện những công việc của cấp trên giao phó. Thêm vào đó, với cơ cấu ủy viên như hiện nay thì việc thực thi quyền lực của Ban chỉ đạo cũng sẽ gặp nhiều khó khăn. Bởi vì tuy các quyền hạn đặc biệt được dành riêng cho Ban chỉ đạo, nhưng thực chất, người duy nhất có được những quyền này là Trưởng ban chỉ đạo (Thủ tướng) chứ không phải là những thành viên hoạt động thường xuyên. Điều này dẫn đến một nghịch lý là những thành viên thực sự hoạt động lại không có được những quyền cần thiết để thực hiện tốt công việc của mình, trong khi đó, quyền này lại dành cho người ít có điều kiện thực hiện. Đối với CPIB, các quyền hạn điều tra và bắt giữ của Cục trưởng cũng được trao cho Cục phó và các Phòng chuyên trách trong Cục. Singapore coi việc chống tham nhũng mang tính sống còn đối với đất nước, nên thủ tục điều tra hành vi tham nhũng được quy định là một thủ tục đặc biệt. Những quyền hạn đặc biệt mà Chính phủ trao cho CPIB không dành cho duy nhất một cá nhân nào của CPIB, mà dành cho tất cả các thành viên, miễn là đang trong quá trình thực thi công vụ. Cục điều tra có thể bắt mà không cần lệnh bất kỳ cá nhân nào tham nhũng hay đối với người mà việc tố cáo họ có cơ sở hoặc người đó bị nghi ngờ tham nhũng là có căn cứ, theo khoản 1 Điều 15 Luật Phòng chống tham nhũng Singapore “Người lãnh đạo hay điều tra viên chuyên ngành có thể bắt mà không cần lệnh bất kỳ cá nhân nào tham nhũng theo quy định của điều luật này hay đối với người mà việc tố cáo họ là có cơ sở hay việc nghi ngờ người đó là có căn cứ”, có thể khám xét và thu giữ tang vật tìm thấy trên người của người bị khám xét mà có thể xem đó là tang chứng vụ án. Bên cạnh đó, họ còn có những quyền đặc biệt khác như quyền điều tra theo thẩm quyền của cảnh sát được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự mà không cần có sự phê chuẩn của cơ quan công tố, quyền điều tra tài khoản ngân hàng, cổ phần, tài khoản mua bán, tài khoản chi tiêu hoặc bất kỳ tài khoản khác cũng như bất kỳ khoản tiền gửi an toàn trong bất kỳ ngân hàng nào, và có đủ thẩm quyền yêu cầu thông tin về tài khoản, tài liệu được quy định tại khoản 1 Điều 18 “Mặc dù luật có quy định khác, các công tố, nếu thấy có cơ sở cho rằng tội phạm xảy ra theo quy định của luật này, có thể bằng lệnh giao cho người đứng đầu hoặc bất kỳ cảnh sát nào tiến hành hoạt động điều tra đối với vụ việc đã nêu trong lệnh, lệnh đó có thể giao cả cho việc điều tra tài khoản ngân hàng, cổ phần, tài khoản mua bán, tài khoản chi tiêu, hoặc bất kỳ tài khoản khác, hoặc bất kỳ khoản tiền gửi an toàn trong bất kỳ ngân hàng, và sẽ có đủ thẩm quyền yêu cầu thông tin về tài khoản, tài liệu”. Đối với Ban chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng của Việt Nam, đúng như tên gọi của mình, những quyền hạn chỉ dừng lại ở mức độ chỉ đạo, định hướng cho các hoạt động điều tra, xét xử, như: quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có thẩm quyền báo cáo về tình hình tham nhũng và kết quả công tác phòng, chống tham nhũng tại cơ quan, tổ chức, đơn vị mình; yêu cầu thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng để xảy ra hậu quả nghiêm trọng; yêu cầu tiến hành kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra làm rõ các vụ, việc có dấu hiệu tiêu cực, tham nhũng và khi cần thiết thì chỉ đạo tổ chức việc thanh tra. Từ những quy định trên của pháp luật, chúng ta có thể nhận thấy những thành viên của Ban chỉ đạo chỉ đóng vai trò kiểm tra, giám sát. Hay nói cách khác, Ban chỉ đạo giống như một Ban thanh tra trung ương đặc biệt chuyên về lĩnh vực chống tham nhũng. Ban chỉ đạo chỉ có thể kiến nghị, chỉ đạo chủ trương giải quyết những vụ việc cụ thể phát sinh trong quá trình thực thi nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, còn việc điều tra, xét xử những vấn đề về tham nhũng vẫn thuộc về thẩm quyền của Toà án và Viện kiểm sát. Theo Luật Phòng, chống tham nhũng hiện nay, tại Chương V có quy định về Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng nhưng lại không quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ mà Ban này phải có. Nghị quyết số 1039 quy định “Thủ tướng Chính phủ – Trưởng ban chỉ đạo quyết định tạm đình chỉ công tác đối với người giữ chức vụ Thứ trưởng và các chức vụ tương đương, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên thường trực HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, các thành viên khác của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các chức vụ khác do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, cách chức khi người đó có dấu hiệu tham nhũng, có hành vi gây khó khăn đối với hoạt động chống tham nhũng của cơ quan, tổ chức”, nhưng nhiệm vụ của các thành viên còn lại được quy định rất ít, như chỉ được quyền tạm đình chỉ công tác khi có quyết định của Thủ tướng (và khi Thủ tướng chưa ra quyết định, các thành viên trong Ban chỉ đạo sẽ không có quyền gì đối với những đối tượng này). Thêm vào đó, vấn đề cấp thiết là phải quy định Ban chỉ đạo một cơ chế hoạt động hoàn toàn độc lập, thay vì quy định tại Điều 10 Nghị quyết số 1039 “Các uỷ viên Ban chỉ đạo sử dụng bộ máy của cơ quan, tổ chức do mình quản lý, phụ trách để thực hiện nhiệm vụ được Trưởng ban chỉ đạo phân công”.  Thực tiễn đã chứng minh, tại các quốc gia có chỉ số minh bạch cao như Singapore hay Thụy Điển, cơ quan có nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng đều là các cơ quan độc lập và không phụ thuộc vào bất kỳ cơ quan nào khác.
4. Quy định hình phạt của hai luật
Thứ nhất, về hình phạt tiền. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 của Việt Nam không quy định các hình phạt khi có hành vi tham nhũng xảy ra. Do đó, khi xử phạt hành vi tham nhũng, chúng ta phải dẫn chiếu các quy định trong BLHS. Trong BLHS tại Chương XXI mục A quy định về các tội phạm về chức vụ, cụ thể là từ Điều 278 đến Điều 291 BLHS tương ứng với các hành vi được mô tả trong Điều 3 của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 của Việt Nam. Theo đó, đối chiếu các mức hình phạt quy định từ Điều 278 đến Điều 291 BLHS với Điều 28 của BLHS thì mức hình phạt lần lượt từ thấp đến cao là phạt tiền, tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình. Luật Phòng, chống tham nhũng Singapore quy định mức hình phạt đối với tội tham nhũng là hình phạt tù và phạt tiền, đơn cử như tại khoản c Điều 6 “bất kỳ người nào cố ý đưa hối lộ cho cá nhân, hoặc cá nhân cố ý nhận hối lộ nhằm cố ý làm sai trái với thủ trưởng của mình về chứng từ, tài khoản và các tài liệu khác mà thủ trưởng của mình đang xem xét giải quyết hoặc báo cáo sai sự thật, sẽ bị coi là tội phạm và chịu hình phạt lên đến 100.000 đô la Singapore hay phạt tù lên đến 5 năm hoặc cả hai”.
Mặc dù đều quy định chế tài là phạt tiền nhưng đối với Việt Nam và Singapore cách quy định về mức phạt tiền là hoàn toàn khác nhau.
BLHS Việt Nam thì quy định về hai dạng: một là phạt tiền ở một mức cụ thể, hai là mức phạt tiền không cố định gồm phạt tiền gấp bao nhiêu lần số tiền mà người phạm tội đã có được do hành vi phạm tội của mình gây ra hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Đối với mức phạt tiền cố định, tùy vào từng loại tội phạm mà có mức phạt tiền khác nhau. Nhưng nhìn chung, các mức phạt tiền cố định được tập trung vào các tội danh tham ô tài sản (Điều 278), tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280), tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282), tội giả mạo trong công tác (Điều 284) và các mức phạt ở các tội danh đều khác nhau, nhưng mức thấp nhất là ba triệu đồng và mức phạt cao nhất là năm mươi triệu đồng.
Đối với các mức phạt tiền không cố định, mức phạt tùy thuộc vào số tiền mà người phạm tội có được do hành vi phạm tội của mình gây ra. Các hình phạt này tập trung vào các tội như Tội nhận hối lộ (Điều 279), tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281), Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi (Điều 283).
Luật Phòng, chống tham nhũng Singapore, hình phạt quy định mức phạt tiền cụ thể và mức phạt tiền là 100.000 SGD (tương đương khoảng 1,2 tỷ VNĐ), thêm vào đó người phạm tội còn bị phạt thêm khoản vụ lợi là tiền hoặc nếu vật có thể định giá được thì người phạm tội phải nộp thêm khoản tiền phạt đó theo khoản 1 Điều 13 “Khi toà kết tội tham nhũng một người theo quy định của luật này, sau đó, nếu khoản hối lộ là tiền hoặc nếu giá trị của vật hối lộ có thể định giá được, thì toà có thể áp dụng thêm hình phạt khác đối với người đó, bắt người đó phải nộp tiền phạt, hay một khoản tiền tương ứng với vật hối lộ, theo quyết định của toà, giá trị của khoản hối lộ và mọi khoản tiền phạt có thể tịch thu như tiền phạt”.
Qua đó, chúng ta thấy mức phạt tiền quy định trong pháp luật Việt Nam và Singapore có khác nhau. Ở Việt Nam, tùy vào loại tội phạm mà BLHS quy định mức phạt tiền tương ứng. Còn Singapore quy định mức phạt các tội đều ở mức 100.000 SGD.
Đối với một số loại tội phạm, mức phạt tiền 100.000 SGD mà luật pháp Singapore quy định là cao, nhưng dễ đạt mục đích trừng phạt và ngăn ngừa tội phạm. Ở Việt Nam, quy định mức phạt tối đa cố định ở mức năm mươi triệu đồng là thấp, rất thấp đối với một số tội như tội tham ô tài sản, người phạm tội có thể nhận được số tiền rất lớn so với mức phạt mà điều luật quy định. Còn đối với khoản tiền phạt không cố định thì quy định lại quá cao, vì người phạm tội phải trả gấp từ một đến năm lần số tiền mà mình có được do hành vi phạm tội gây ra, như quy định tại khoản 5 Điều 283 BLHS “Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền hoặc giá trị tài sản đã trục lợi”. Như vậy, việc quy định mức tiền phạt trong BLHS hiện nay là không hợp lý. Vì thế, các nhà lập pháp nên quy định áp dụng một mức chung đối với các loại tội phạm như pháp luật phòng, chống tham nhũng Singapore đã quy định. Nhưng mức phạt này phải phù hợp với tình hình kinh tế của đất nước, bảo đảm không được ở mức quá thấp hoặc là ở mức quá cao như hiện nay.
Biện pháp tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản của người phạm tội có thể làm cho người phạm tội sợ mà không dám thực hiện hành vi của mình, đồng thời giúp Nhà nước có thể thu lại khoản tiền mà người phạm tội có được từ hành vi phạm tội của mình. Biện pháp này mang tính khả thi hơn việc tịch thu gấp bao nhiêu lần số tiền mà người phạm tội có do hành vi của mình. Quy định này cũng tạo thuận lợi cho cơ quan thi hành án trong việc thi hành bản án, vì số tiền này là số tiền có thực mà người phạm tội sẽ bị mất. Nhưng còn một số khó khăn trong việc thực hiện quy định này, đó là về vấn đề kê khai tài sản. Việc kê khai tài sản đã được quy định từ rất lâu trong Pháp lệnh năm 1998 về việc kê khai tài sản nhưng đến nay, việc kê khai vẫn chưa được thực hiện tốt. Do đó, để thi hành biện pháp tịch thu tài sản, cần phải thực hiện nhanh chóng việc kê khai tài sản của cán bộ, công chức, đồng thời phải kiểm tra tính chính xác của việc kê khai tài sản. Điều 44 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định: “Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai tài sản, mọi biến động về tài sản thuộc sở hữu của mình và tài sản thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng và con chưa thành niên”.
Thứ hai, về hình phạt tù. Cả Luật Phòng, chống tham nhũng Singapore và BLHS của Việt Nam đều quy định hình phạt tù đối với hành vi tham nhũng. Nhưng mức phạt tù quy định trong BLHS của Việt Nam cao hơn so với mức phạt tù quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng của Singapore. Luật Phòng, chống tham nhũng Singapore quy định mức hình phạt tù thấp nhất là 5 năm và cao nhất là 7 năm. Còn BLHS Việt Nam quy định mức phạt tù thấp nhất là 1 năm và mức cao nhất là chung thân. Song, dù mức phạt tù của BLHS Việt Nam cao hơn mức phạt tù của Luật Phòng, chống tham nhũng Singapore, nhưng do chính sách nhân đạo của Đảng và của Nhà nước ta, đến nay chưa một tội phạm nào phải chịu mức hình phạt tù chung thân phải thụ án chung thân, mà đều được tha trước thời hạn.
Thứ ba, về hình phạt tử hình. Luật Phòng, chống tham nhũng Singapore không quy định hình phạt đối với các hành vi tham nhũng có mức hình phạt là tử hình, mà chỉ quy định mức hình phạt là phạt tù và mức phạt tiền, nhưng BLHS Việt Nam thì ngoài quy định mức hình phạt là phạt tiền, phạt tù có thời hạn và phạt tù không thời hạn, còn có quy định mức hình phạt tử hình. Có thể thấy, tử hình là mức hình phạt cao nhất trong hệ thống khung hình phạt của nước ta. Hiện nay đang có hai luồng ý kiến về việc có nên hay không bỏ án tử hình đối với hai tội danh là tham ô được quy định tại Điều 278 BLHS và tội danh hối lộ được quy định ở Điều 279 BLHS.
Ý kiến thứ nhất đồng ý với việc nên áp dụng mức tử hình đối với hai tội phạm trên vì cho rằng đây là tội phạm nguy hiểm cho quốc gia. Do đó, phải áp dụng hình phạt tử hình. Đối với “tội nhận hối lộ và tội tham ô tài sản thì nhất thiết phải giữ án tử hình. Bởi vì đây là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị chúng ta đối với việc chống tham nhũng hiện nay”1.
Loại ý kiến thứ hai đề nghị bỏ mức tử hình đối với hai tội danh trên vì cho rằng, đây là tội phạm mang tính chất kinh tế, do đó chỉ cần phạt họ với hình phạt tù có thời hạn hoặc hình phạt tù không thời hạn kèm theo các biện pháp tịch thu tài sản khác, mà không cần phải thêm có hình phạt tử hình. “Tội tham ô tài sản và nhận hối lộ… là tội phạm có tính chất kinh tế… đối với những người này phạm tội này, chúng ta xử phạt tù chung thân, tù dài hạn nhưng thu hồi được kinh tế thì vẫn rất tốt, vẫn có tính chất phòng ngừa rất lớn”2.
Hiện nay, các nước trên thế giới đều đã bãi bỏ án tử hình trong pháp luật hình sự. “2/3 các quốc gia trên thế giới đã bãi bỏ án tử hình và trong số 59 quốc gia, nơi luật này vẫn duy trì hiệu lực thì chỉ có 25 nước vẫn đưa vào áp dụng”3. Việt Nam hiện nay đang trong quá trình hội nhập quốc tế, do đó cũng nên có xu hướng loại bỏ án tử hình đối với các tội danh.
5. Cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng
Cần cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng. Hiện nay, “có không ít người tố cáo đã rơi vào bi kịch – bị trù dập, mất việc làm, không còn đường thăng tiến, thậm chí bị thanh trừng, giết chết…”4. Mặc dù tại Điều 132 BLHS có quy định về việc bảo vệ người khiếu nại, tố cáo, và theo Quyết định số 13 tại điểm b khoản 1 Điều 13 “Yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có thẩm quyền thực hiện các biện pháp bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng, tham gia và thực hiện nhiệm vụ chống tham nhũng” nhưng như vậy vẫn chưa đủ, cần phải có một cơ chế thực sự rõ ràng để bảo vệ người dân, để tạo được niềm tin từ phía xã hội, từ đó mới có thể kêu gọi được sự tố giác tham nhũng từ phía người dân. Vì đa số các vụ tham nhũng lớn hiện nay đều do người dân cung cấp thông tin và tố giác, “ngày càng xuất hiện thêm nhiều người dân đứng ra tố cáo tiêu cực, tham nhũng. Đây là hành động xuất phát từ ý thức công dân trước “cơn bão” tham nhũng đe dọa quốc gia. Từ vụ “cá cược” 5 tỉ đồng của nhóm công nhân trên dự án đường liên cảng A5, đến phát hiện của một số người dân dưới các công trình cống hộp, rồi hiện tượng sụt lún ở hầm chui Văn Thánh 2…”5. Bên cạnh đó, để bảo vệ người tố cáo cần mở rộng thêm các điều kiện để người tố cáo tham nhũng có thể thực hiện. Hiện nay, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 Nghị định 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy định Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo “c) Không xem xét, giải quyết những tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ, không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký hoặc những tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới” theo đó những đơn tố cáo nặc danh sẽ không được giải quyết, và việc người dân tố cáo tham nhũng nêu rõ họ tên của mình trong đơn tố cáo sẽ làm tăng khả năng bị trả thù. Ngoài ra, theo Điều 335 của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành đã gây một số bất lợi cho người tố cáo đó là các quy định “nêu rõ họ tên địa chỉ của mình, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật”. Vô hình chung những quy định này đã đặt người tố cáo vào trong vòng nguy hiểm, từ đó làm hạn chế sự tích cực của người dân trong việc tố cáo tội phạm.
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới , trong đó có Trung Quốc, tiến hành xem xét cả đơn thư tố cáo nặc danh để phát hiện tham nhũng. Trung Quốc cho rằng, hiện nay pháp luật Trung Quốc chưa hoàn thiện, người tố cáo còn bị đe dọa, do đó cho phép người tố cáo được giấu tên và chấp nhận thư nặc danh. Trong thực tế, Trung Quốc có khoảng 60% đơn thư tố cáo là thư nặc danh và trong số đó có rất nhiều thông tin chính xác về tham nhũng. Theo một tài liệu của Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung Quốc thì những năm gần đây, 80% các vụ án lớn ở nước này được xử lý là do nhân dân tố cáo. Thái Lan cũng yêu cầu các cơ quan chức năng phải xem xét tất cả các đơn thư tố giác của người dân về tham nhũng, dù có ký tên hay không ký tên. Singapore cũng xem xét đơn thư tố giác không ghi tên người gửi, thậm chí xem xét cả các cuộc điện thoại gọi tới6.
Theo chúng tôi, trước hết cần phải tiếp nhận các đơn thư nặc danh, vì việc đó có thể làm cho người dân tích cực tố cáo các hành vi tham nhũng, vì họ cảm thấy mình được bảo vệ an toàn. Nhưng để tránh tình trạng một số người cố tình tố cáo sai sự thật, nhằm mục đích gây hại đến danh dự của người khác, thì nên xem xét cách mà Singapore đang áp dụng “theo Luật 1960, người nào được Cục điều tra yêu cầu đều phải cung cấp thông tin trung thực. Nếu ai từ chối cung cấp thông tin hay đưa thông tin sai sự thật sẽ bị xử phạt hay thậm chí bị phạt tù. Ngược lại, những người cung cấp thông tin sẽ được bảo vệ. Họ không nhất thiết phải nêu tên trong đơn tố cáo (với điều kiện các sự việc tố cáo đã được kiểm chứng là có thật). Các thông tin mà Cục điều tra hay tòa án cho rằng sẽ gây phương hại đến người tố cáo sẽ được giữ như thông tin mật (Điều 36)”7, còn đối với những đơn thư tố cáo chung chung, không có bằng chứng xác thực thì  mới không giải quyết. Muốn phòng, chống tham nhũng hiệu quả, các cơ quan nhà nước cần phải giải quyết tất cả các đơn thư nặc danh.
6 ThS. Vũ Đình Nam. Kinh nghiệm chống tham nhũng ở một số nước trên thế giới. Viện nhà nước và pháp luật

ThS. Nguyễn Thanh Minh – Giảng viên khoa Luật Hành chính, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh và nhóm nghiên cứu lớp Quốc tế 32B -Nguyễn Hồ Quảng Giang – Đinh Trương Anh Phương Theo Tạp chí nghiên cứu lập pháp (www.nclp.org.vn)

Saturday, August 31, 2013

NHÌN NHẬN QUY ĐỊNH PHÁP NHÂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005 DƯỚI CÁI NHÌN KHOA HỌC VÀ HỘI NHẬP

THS. VŨ THỊ MINH HỒNG – Phó Trưởng Ban Dân chủ-Pháp luật, Ủy ban TW Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam
Đặt vấn đề
Pháp luật Dân sự và Thương mại nước ta trong thời kỳ hội nhập và thách thức này có tạo cơ hội tương thích giữa thị trường và xã hội, cơ hội hỗ trợ giữa Pháp nhân vì lợi nhuận và pháp nhân vì lợi ích công cộng chưa ? Đó là câu hỏi được trả lời phần nào khi chúng ta nhìn nhận lai chế định pháp nhân trong Bộ Luật dân sự năm 2005. 
Thể chế mở ngày nay ở khu vực thị trường với sự lớn mạnh của các doanh nhân cũng đang kéo theo sự phát triển của các thực thể phi lợi nhuận như hội và các dạng hội khác mang yếu tố lưỡng tính hay là pháp nhân không đầy đủ. Các thực thể hai khu vực này đang đan xen với nhau, đang hỗ trợ nhau bởi có chung một yếu tố là lợi ích công chúng.
- Trong khi doanh nghiệp thu hút và tạo việc làm cho công nhân, nông dân công nghiệp và giới chủ cũng như tầng lớp chuyên gia kỹ thuật, thì tổ chức phi lợi nhuận trong đó có hội thu hút hội viên và tạo việc làm bằng những hoạt động dịch vụ công cộng về văn hoá, y tế, xã hội cũng như các hoạt động hỗ trợ về chính sách đến với từng con người;
- Trong khi doanh nghiệp tạo ra hàng hoá, của cải cho xã hội thì hội góp phần tham gia vào các huyết mạch lưu thông của cải xã hội, trong đó có của cải là trí tuệ con người; vận chuyển và đào tạo các kỹ năng con người; khơi dậy lên các giá trị xã hội đang hiện hữu, các giá trị truyền thống đang mất đi;
-  Trong khi doanh nghiệp mải miết và tối mắt làm việc ở thời kỳ công nghiệp và hậu công nghiệp hiện đại – người làm công, giới chủ và tầng lớp kỹ sư chuyên gia còn ít thời gian để quan tâm đến người tiêu dùng, quan tâm đến các giá trị truyền thống đang mai một, quan tâm đến sự bất công của những người yếu thế xã hội, thì hội vẫn nhẫn nại với quá trình nghiên cứu, tư vấn và phản biện của mình để cán cân công lý trở về trạng thái cân bằng của nó. Đó là sự bình đẳng trước pháp luật, sự công bằng vô tư trước lương tri con người.
- Các khuyến nghị và phản biện của doanh nghiệp, hội/quỹ đối với các dự luật và các quyết định đang thực thi có vấn đề, đã tạo nên một kênh tham vấn, thẩm định độc lập, khách quan vô cùng tin cậy mà Nhà nước hiện nay đang nhận ra và cần đặt vấn đề giải quyết về chính sách cho các hội nghề nghiệp phát triển.
I. BẤT CẬP VỀ QUY ĐỊNH PHÁP NHÂN
Xu hướng lập pháp chỉ quan tâm địa vị pháp lý của chủ thể
Hiện nay, theo thói quen xây dựng pháp luật của các cơ quan chức năng nước ta, người soạn thảo luật có xu hướng nhằm vào địa vị pháp lý của chủ thể để định chế thay vì cần thiết, thậm chí là bắt buộc phải quy định về hành vi chủ thể. Văn bản pháp luật quy định hành vi chủ thể, đó là chức năng của quy phạm pháp luật. Do chỉ quan tâm đến việc tìm ra những quyền và nghĩa vụ của chủ thể để định chế nó nên hầu hết các văn bản pháp luật của chúng ta chung chung; chỉ quan tâm về vấn đề tổ chức (ra đời, thành lập, chính sách hỗ trợ, giải thẻ, sáp nhập …thông qua các thủ tục) nên dễ nặng về quản lý và điều tiết bằng biện pháp hành chính hơn là bằng dân sự. Để xác định trách nhiệm của chủ thể là rất khó vì cơ sở của quy kết trách nhiệm được chứa đựng trong quy phạm pháp luật mô tả hành vi, thậm chí là hành vi chi tiết và cụ thể thì lại ít được quy phạm hóa.
Tiếp tục quy định không có căn cứ khoa học và thực tiễn
Thêm vào đó, quá trình sửa đổi Bộ Luật dân sự năm 1995 không những đã không nhìn nhận và đánh giá bất cập trên để định hướng bãi bổ, bổ sung, sửa đổi chế định pháp nhân, mà còn tiếp tục đi con đường cũ, gây thêm rắc rối khi quy định thêm loại hình “tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp”[1]. Bộ Luật dân sự năm 1995 đã phân loại các pháp nhân (phi lợi nhuận) thành ba nhóm: tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức xã hội-nghề nghiệp. Đến Bộ Luật dân sự năm 2005 tiêp tục quy định thêm loại hình tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp. Hệ quả làm tăng xu hướng của không ít pháp nhân là hội muốn được công nhận là tổ chức chính trị-xã hội. Bài học lập pháp này cho thấy việc chia pháp nhân trong Bộ Luật dân sự năm 2005 không dựa trên bất kỳ một luận cứ khoa học nào và không ai trả lời được “chia như vậy có ý nghĩa pháp lý gì” [2]
Trong khi thể chế về tổ chức dân sự phi lợi nhuận chưa được làm rõ, việc mở cửa hội nhập kinh tế vẫn diễn ra, thúc đấy vai trò cá nhân và các tổ chức ngoài nhà nước mới chỉ ở khu vực kinh doanh thị trường. Khu vực dân sự phi lợi nhuận và bán thị trường là nơi tạo nguồn lực lao động và cung cấp mọi dịch vụ xã hội, mọi phong trào nhân dân trong công cuộc phát triển đất nước theo hướng bền vững và bảo tồn các giá trị dân tộc lại ít được quan tâm. Vai trò của khoa học xã hội trong đó có khoa học pháp lý mà cụ thể là chế định pháp nhân được quy định trong Bộ Luật dân sự còn quá nhiều bất cập bởi tính bảo thủ cố hữu và tính triết lý yếu kém đã không thúc đẩy được nguồn lực của hai loại pháp nhân vì lợi nhuận (kinh doanh/thị trường) và pháp nhân phi lợi nhuận (hội/quỹ) ngày nay ở nước ta.
Nhiều Điều lệ của pháp nhân không quy định "Tôn chỉ"
Đây có thể coi là một bất cập lớn nhất của rất nhiều Điều lệ các hội và quỹ (trung tâm, viện) hiện nay ở nước ta. Đa số Điều lệ xác định được mục đích, nhưng tôn chỉ của tổ chức hầu như khó nhận thấy được trong nhiều điều lệ hiện nay.
Với vị trí trang trọng, thường ở lời nói đầu hay điều 1 của Điều lệ, tôn chỉ được coi như một phần nội dung cốt yếu thuộc tuyên ngônmà nội hàm của nó là nguyên tắc chính,[3] là học thuyết, là giáo lý chính thống, hay một giá trị xã hội nhất định dẫn đường cho mọi hành động của thành viên hội. Chỉ cần đọc tôn chỉmục đích, bất kỳ ai cũng sẽ nhanh chóng nhận ra các điểm cốt lõi của pháp nhân, nhất là với pháp nhân vì lợi ích công để muốn gia nhập nó hay không, muốn tài trợ hay góp phần công sức cho nó hay không. Đó là các vấn đề:
a) Loại tổ chức gì (lĩnh vực hoạt động, tên hội);
b) Dựa trên giá trị xã hội nào (nguyên tắc, học thuyết chính thống, giá trị nhân văn, truyền thống dân tộc);
c) Vì lẽ gì (lý do để hình thành hội);
d) Hành động vì ai (cho nhóm người hay công chúng).
PHÁP NHÂN DƯỚI CÁI NHÌN CỦA PHÁP LUẬT SO SÁNH
Quan niệm về pháp nhân
Với tiêu chí và bản chất quan hệ dân sự thì bên cạnh chủ thể là thể nhân – một chủ thể quan trọng nhất, trung tâm của hầu hết những giao dịch và thực hiện những sự kiện dân sự thì còn chủ thể thứ hai là pháp nhân.
Một số nước theo truyền thống luật Lục địa lâu đời như Quebec (Canada) và Nhật Bản có chế định về Pháp nhân (Legal Person) mà ở đó quy định phân biệt dựa vào tiêu chí mục đích hoạt động: cho mình hay vì công cộng. Từ đó phân định rõ hai loại: pháp nhân vì lợi ích công cộng và pháp nhân vì lợi nhuận. Thể chế của các quốc gia Châu Âu và phương Tây cũng tương tự.
            Thái lan quy định cụ thể chế định về Hội và chế định về Quỹ ngay trong Bộ luật dân sự và là cơ sở chính để hai dạng pháp nhân dân sự này hoạt động. Các thủ tục về đăng ký, báo cáo hay đóng cửa được quy định bằng nghị định. Do đó, xảy ra ít bất cập đối với các tổ chức hoạt động phát triển vì lợi ích công, bởi vì cơ hội để lạm dụng vị thế, lạm dụng sơ hở của pháp luật nhằm vụ lợi cá nhân cho nhóm hay thiếu trách nhiệm thuộc cuơng vị đã được chế định pháp nhân quy định …đều khó có thể xảy ra. Mặt khác nếu xảy ra những vi phạm thì các chế định xử lý hết sức rõ ràng, đó là các chế định về thuế, kiểm toán, bồi thường, giải thể ..chủ yếu là chế định trách nhiệm dân sự hết sức thiết thực và có hiệu quả.
- Pháp nhân vì lợi ích công cộng tồn tại dưới hai dạng: Hội (Association) có hội viên và Quỹ (Foundation) không có hội viên. 
Điều 34 Bộ luật dân sự Nhật Bản quy định: “Hội (Association) hoặc Quỹ (Foundation) liên quan tới tín ngưỡng, tôn giáo, từ thiện, khoa học, nghệ thụât hoặc các tổ chức khác có liên quan đến lợi ích công cộng và không vì mục đích đạt được vật chất có thể trở thành đối tượng pháp nhân căn cứ sự cho phép của các cơ quan có thẩm quyền”[4].
- Pháp nhân vì lợi nhuận tồn tại dưới dạng Công ty, Nhà máy, Khu Công nghiệp, Trang trại/Đồn điền, Siêu thị v.v… hoặc hình thái tổ hợp hay liên kết giữa chúng. Dù quy định pháp nhân là hội dưới hình thức Bộ luật dân sự[5] hay bằng đạo luật riêng về hội[6], pháp luật nhiều quốc gia đều đưa ra bức tranh thống nhất về hội với ý niệm và bản chất như sau:
1. Tự nguyện ý chí và tự quyết;
2. Liên kết của thể nhân với nhau hay thể hân với pháp nhân;
3. Có hội viên (hội); không hội viên (quỹ)
4. Có mục đích chung;
5. Được thành lập theo đúng thể thức (đăng ký hoặc xin phép) do cơ quan có thẩm quyền công nhận;
6. Nguồn tài chính hoạt động dựa chủ yếu vào hội phí, các đóng góp khác của hội viên, các hoạt động dịch vụ bán thị trường và nhận tài trợ;  
7. Không chia lợi nhuận chia các thành viên.
Như vậy, Bộ luật dân sự thường không quy định các loại pháp nhân sau đây:
1.      Đảng phái (như Đảng Cộng sản Việt Nam) vì là pháp nhân hoạt động chính trị;
2.      Tổ chức/hội/đoàn tôn giáo vì là pháp nhân hoạt động tôn giáo;
3.      Đoàn thể liên quan đến chính trị (như Mặt trận và các Đoàn thể nhân dân là Thanh Niên-Nông Dân-Công Đoàn-Phụ Nữ-Cựu Chiến binh) vì là những pháp nhân đặc biệt nằm trong hệ thống chính trị.
Các đặc điểm Pháp nhân dân sự (kể cả thương mại)
Có tư cách độc lập của pháp nhân nếu được thành lập chính thức: Nếu là hình thức đăng ký phải được đăng ký thành lập tại cơ quan có thẩm quyền theo luật định (Toà án, hoặc Chính phủ ) để có tư cách pháp nhân đầy đủ.[7]
Không thuộc nhà nước (non government) hoặc lưỡng tính: Hội/Quỹ/Tổ chức Phi chính phủ là pháp nhân dân sự không thuộc bộ máy nhà nước, không hưởng ngân sách từ nhà nước, không sử dụng cán bộ và quy chế cán bộ công chức.
Tự quản.
Kinh doanh hoặc phi lợi nhuận (non – for profit)
Không vì mục đích chính trị: Một hội đang hoạt động nếu chuyển đổi mục đích sang chính trị, ngay tập tức nó sẽ bị giải thể (bắt buộc).
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA KHI SỬA ĐỔI CHẾ ĐỊNH PHÁP NHÂN
Chế định Pháp nhân trong Bộ luật dân sự của nước ta cần được sửa đổi cơ bản vì chế định này hoàn toàn không phát huy tác dụng trong đời sống xã hội bởi nó chưa phù hợp thực tế cũng như chưa đáp ứng về mặt khoa học pháp lý dân sự. Thậm chí về một phương diện triết học nó còn mơ hồ, lẫn lộn, thiếu hẳn tính tư tưởng và logic. Do đó, yêu cầu khi xây dựng môi trường pháp lý đối với pháp nhân là phải khắc phục được các điểm yếu này.
           Khung chính sách về thuế như miễn, giảm hoặc không ưu đãi đều phải có tiêu chí. Tất nhiên chính sách này liên quan đến chế định quyên góp và nhận tài trợ.
            Chế định về thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức trong việc đăng ký hay giải thể cùng với quyền của công dân được tiếp cận một cách công khai quá trình đăng ký thành lập hay giải thể là những vấn đề cần được quy định rõ ràng.
            Bằng việc không quy định rõ ràng trách nhiệm cá nhân trong chế định Pháp nhân của Bộ luật Dân sự và các đạo luật nội dung cụ thể trên từng lĩnh vực, các vi phạm trong các tổ chức lợi ích công của ta hiện nay không thể áp dụng chế định nào để xử lý vì chế độ “trách nhiệm tập thể” mơ hồ đã bị hiểu và áp dụng lẫn lộn, sai trái. Kết quả là công sức và tài sản của nhân dân trong nước, vay của quốc tế huy động cho các tổ chức lợi ích công đã rơi vào tay nhóm hay cá nhân. Chế định hình sự thực tế đã trả lời rất ít tác dụng răn đe hành vi lợi dụng tổ chức lợi ích công, rất ít hiệu quả đòi bồi thường thiệt hại.
Cần coi trọng định chế pháp nhân nghề nghiệp
Coi trọng vì đó là loại pháp nhân có sức đóng góp rất lớn và hiệu quả cho xã hội trong tiến trình phát triển bền vững dân tộc, quốc gia. Nhưng trên thực tế, nó đang gặp rất nhiều trở ngại.
Các pháp nhân nghề nghiệp của Việt Nam chưa đáp ứng nhu cầu xã hội:
- Môi trường dịch vụ xã hội chưa đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người, xã hội.
- Người dân vẫn chưa có nhiều thói quen trông cậy (thuê) người có chuyên môn hành nghề để được hưởng một dịch vụ tốt nhất, chất lượng nhất trên cơ sở hợp đồng thoả thuận về quyền nghĩa vụ hai bên mà hay nhờ vả. Điều này có thể nhận thấy qua hoạt động dịch vụ pháp lý (tuy nhiên ở Thành phố Hồ Chí Minh hoạt động này phát triển mạnh).
- Một số tổ chức nghề nghiệp vẫn chưa thực sự là tổ chức chuyên môn độc lập bởi vẫn còn mang tính sự nghiệp hành chính, thuộc khu vực Nhà nước. Ngành đào tạo, y tế-sức khỏe, chống tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường, dịch vụ tư vấn và hoạt động bổ trợ tư pháp là những ví dụ.
- Các tổ chức nghề nghiệp lệ thuộc và ỷ lại nhà nước; một số tổ chức hoạt động hành chính hoá; năng lực chuyên môn và kỹ năng hành nghề yếu, kém linh hoạt.
- Một số Bộ vẫn đang quản lý và can thiệp quá sâu, thậm chí trực tiếp tiến hành các hoạt động mang tính nghề nghiệp trợ giúp xã hội. Nhiều đơn vị sự nghiệp của các Bộ rầm rộ ra đời đã trở thành “sân sau” của Bộ, gây nên sự bất bình đẳng đối với các pháp nhân nghề nghiệp tư (tự chủ, ngân sách không cấp).
- Sản phẩm của tổ chức nghiên cứu, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học xã hội có thể thấy qua các đề tài nghiên cứu của các đơn vị sự nghiệp thuộc nhà nước ít được ứng dụng nên gây lãng phí rất lớn.
Chúng có tính chất như:
- Là bộ phận quan trọng cấu thành nên khu vực xã hội công dân (không thuộc khu vực nhà nước và khu vực kinh doanh);
- Không phải là tổ chức chính trị;
- Là tổ chức phi lợi nhuận.
- Tổ chức có thành viên như Liên hiệp, Hội, Câu lạc bộ … hay, tổ chức không có thành viên như Quỹ văn xã, Trung tâm, Nhà…
- Hoạt động nâng cao đời sống kinh tế, văn hoá, môi trường cho con người; phát triển các nguồn lực xã hội.
Chúng có đặc tính ở các điểm sau:
- Phải đăng ký tư cách pháp nhân mới được hoạt động
- Kết hợp lợi ích nhóm với lợi ích công cộng (hoặc lợi ích người thứ ba)
- Hoạt động theo một lĩnh vực ngành nghề nhất định như đào tạo, y tế-sức khỏe, phòng chống tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường, tư vấn trong đó có tư vấn pháp luật, các hoạt động bổ trợ tư pháp, các hoạt động dịch vụ thể thao và văn hoá…
- Những đóng góp nhiều nhất của tổ chức nghề nghiệp đối với sự phát triển quốc gia là các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và hoạt động dịch vụ xã hội.
- Quy chế tự quản có một đặc thù, đó là loại “Quy chế đạo đức hành nghề” mà các cá nhân muốn hành nghề phải tự nguyện tuân thủ bởi vì các quyền, bổn phận và trách nhiệm dân sự hết sức thiết thân, cụ thể và rõ ràng.
Pháp nhân có sinh thì cũng có tử
Với tư cách là một nhóm người liên kết hoạt động vì mục đích chung, một Ban sáng lập hội với một số người có đủ năng lực dân sự thể nhân cùng nhau chuẩn bị các bước thành lập hội. Sau khi tập hợp đủ điều kiện, Ban sáng lập sẽ đăng ký với cơ quan có thẩm quyền (có thể là cơ quan Tư pháp là Toà án, có thể là cơ quan hành chính thuộc Chính phủ) để trở thành pháp nhân mang tính cách hội (có hội viên) và phi lợi nhuận.
Xem xét tư cách thể nhân (người sinh ra tự nhiên) ta thấy, sau khi được sinh ra sẽ đăng ký khai sinh để có tư cách công dân, đến năm 18 tuổi người này sẽ đăng ký thẻ căn cước/chứng minh thư để có đủ năng lực. Từ đó, người này mới có tư cách hoàn chỉnh để tham gia mọi quan hệ xã hội như kết hôn, giao dịch tài sản, lập hội; trong quan hệ với Nhà nước như làm nghĩa vụ quân sự, đóng thuế.
Đối chiếu quá trình hình thành pháp nhân cho thấy thực chất là thủ tục đăng ký kép mà ở đó vừa là nhằm khai sinh hội, lại vừa để hội có đủ năng lực pháp lý khiến cho pháp nhân đó có đủ tư cách tham gia các giao dịch và quan hệ xã hội tương thích trên cơ sở tự chịu trách nhiệm (dân sự, hành chính, hình sự). Như vậy, cũng giống như thể nhân, pháp nhân có sinh ra và có chết đí, các sự kiện sinh-tử đó đều được pháp luật quốc gia quy định nhằm quản lý xã hội.
Việc sinh ra và chết đi của một pháp nhân dân sự như Hội/Quỹ đều phải được bố cáo trên phương tiện thông tin đại chúng liên tục trong một số ngày nhất định theo nguyên tắc công khai và là cơ hội để thực thi nguyên tắc “biết và không thể không biết”, là một nguyên tắc đặc biệt trong thủ tục kiện đòi thanh toán khoản nợ, bồi thường, hay miễn trừ nghĩa vụ.
Thực tế cho thấy một số hội lớn có tính cách đoàn thể nhân dân đặc biệt của nước ta không “chết” mà chỉ là tự đang đổi mới mình cho phù hợp tình hình mới. Đây là xu hướng không phù hợp với quy chuẩn thông lệ đối với pháp nhân hội. Mọi pháp nhân dân sự sau một thời gian hoạt động nó sẽ kết thúc số phận theo một trong hai con đường: tự giải thể hay bị Nhà nước giải thể. Khi nó tự giải thể có thể diễn ra theo một trong các tình huống sau: i) Đã đến thời hạn cuối cùng do điều lệ của hội quy định; ii) Hoàn thành mục đích của hội; iii) Quá bán số hội viên nhất trí đề nghị giải thể vì căn cứ vào thực trạng của hội như: không còn tài chính để hoạt động, muốn thay đổi mục đích và tôn chỉ hoạt động, người đứng đầu đương nhiệm từ chối vị trí và hội không tìm ra được một ai nhận đảm trách vị trí đó v.v…
Mặt khác, sự tồn tại qúa lâu một hội là cơ hội tạo nguy cơ để hội đó được thủ đắc (chiếm hữu và sở hữu) bất động sản (theo khái niệm pháp lý dân sự truyền thống và thông lệ) quá lâu khiến chúng không đuợc đưa vào quá trình giao lưu hàng hoá trong xã hội. Hệ quả này chúng ta sẽ lường được nếu như hình dung đây đủ nội dung cấu trúc bất động sản, bới bên cạnh việc mất nguồn tài sản xã hội vô cùng lớn còn có thể là cơ chế giao dịch ngầm bất động sản ngoài pháp luật, gây nên rối loạn do không thể áp dụng thể chế đăng ký quốc gia đối vói loại bất động sản ngầm này. Do đó, “nhà lập pháp cũng lo ngại trước việc các hội có thể trở thành chủ sở hữu của nhiều bất động sản trong một thời gian quá dài (vì hoạt động của hội có thể kéo dài mãi mãi thậm chí đến hàng thế kỉ nếu trong điều lệ thành lập không quy định cụ thể thời gian hoạt động của hội). Điều này đồng nghĩa với việc các bất động sản do hội sở hữu sẽ nằm ngoài quy trình lưu thông kinh tế quá lâu”.[8]
Năng lực pháp nhân
Luật dân sự  các nước Lục Địa chỉ dùng từ  ‘năng lực’ – capacity, không dùng từ ‘năng lực pháp luật’ hay ‘năng lực hành vi’, lại càng không dùng cụm từ  ‘mất năng lực hành vi’ mà chỉ là ‘thiếu khả năng phân biệt sự vật/hiện tượng- lacking abilities to discriminate things’ hoặc ‘khả năng bị giới hạn -limited ability’. Các thân trạng yếu thế này hoàn toàn không phải là khái niệm ám chỉ địa vị pháp lý của thể nhân hay pháp nhân như cách phân biệt trong giáo trình giảng dạy luật nước ta. Từ giáo trình lại biến thành quy phạm pháp luật thì quả thật là nhầm lẫn và nguy hại, vì bất cứ ai cũng nại với toà án về tình trạng “năng lực hành vi” của thể nhân hay pháp nhân nào đó để yêu cầu một lệnh khẩn cấp, hay tuyên bố vô hiệu giao dịch.
Với Thể nhân đó là năng lực của người đủ 18 tuổi; với Pháp nhân đó là năng lực của thực thể được Nhà nước thành lập hay công nhận thông qua hành vi đăng ký để trở thành pháp nhân kinh doanh hoặc pháp nhân phi lợi nhuận (Hội/Quỹ).  
Các pháp nhân thuộc kinh doanh thị trường (hay bán thị trường) hoặc là pháp nhân phi lợi nhuận và phi thị trường hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau về văn hoá, thể thao, chính trị…đang được pháp luật quốc gia định chế nó với số phận pháp lý gần tương tự như thể nhân (năng lực thể nhân là năng lực đầy đủ, trọn vẹn nhất so với năng lực pháp nhân).
Đánh giá về Dự thảo Bộ luật Dân sự hiện nay đang trong quá trình sửa đổi
Tôi ủng hộ cao về ý tưởng và nội dung quy định có tính hoàn toàn mới[9] về chương Pháp nhân trong dự thảo lần này, theo đó:
-                     Có các nội dung: đăng ký; thành lập; năng lực; điều lệ; mục đích; điều hành và đại diện; chia tách, sáp nhập và giải thể.
-                     Không phân loại pháp nhân.
Tuy nhiên, tôi kiến nghị cần có khoản ghi rõ: Bộ luật này không áp dụng đối với các pháp nhân Chính trị; Nhà nước và Tôn giáo/.
Phụ lục
Tham khảo nội dung Điều lệ của Học giả phương Tây đưa ra trong luật mẫu (sample law) về Luật các tổ chức phi lợi nhuận [10]
"Điều lệ của một hội bao gồm những quy định sau
(1) Tên chính thức của hội và bất kỳ tên gọi chính thức hoặc tên lóng nào;
(2) Mục đích của hội, kể cả việc liệu mục đích có phải chủ yếu là mưu cầu các hoạt động công ích hay không;
(3) Địa chỉ đăng ký tại quốc gia, mà theo địa chỉ đó, có thể nhận được bất kỳ một văn thư thông báo chính thức hoặc điều tra công nào;
(4) Tên, tuổi và địa chỉ của những người sáng lập
(5) Tổ chức đang được dự định tiến hành đăng ký lập hội;
(6) Tổ chức đó sẽ có một cấu trúc thuộc loại có hội viên thì:
       (i) thủ tục lựa chọn và khai trừ hội viên;
       (ii) điều kiện làm hội viên và nhiệm kỳ, quyền ưu đãi và trách nhiệm của hội viên;
       (iii) liệu có cần có một Hội đồng hay không, và nếu có, thì thủ tục bầu cử và miễn nhiệm thành viên của Hội đồng, việc phân công quyền hạn và trách nhiệm giữa các thành viên, Hội đồng và tổ chức;
(7) Phân công trách nhiệm cho cơ quan lãnh đạo cao nhất của tổ chức đó đối với các chính sách và vấn đề tài chính của tổ chức;
(8) Các thủ tục lựa chọn và bãi miễn thành viên của Ban kiểm toán, nhiệm kỳ của các thành viên và các quyền, trách nhiệm cụ thể của Ban đó;
(9) Xác định ra bất kỳ cơ quan nội bộ nào khác của hội với quyền và trách nhiệm của các cơ quan đó;
(10) Các quy tắc về số lượng đại biểu và bỏ phiếu thích hợp đối với từng cơ quan nội bộ của hội;
(11) Các quy tắc và thủ tục sửa đổi, bổ sung Điều lệ, hoặc đối với việc sáp nhập, chia tách hoặc giải thể tổ chức, trong đó bao gồm cả bất kỳ quy tắc đặc biệt nào về số lượng đại biểu cũng như bỏ phiếu theo đa số áp đảo;
(12) Các biên bản có xác nhận về hội nghị thành lập của cơ quan cao nhất của hội;
(13) Một đơn xin thành lập đã được điền đầy đủ."

[1] Quốc hội XI, Kỳ họp 7. Luật sô 33.Bộ luật dân sự Việt Nam. Năm 2005. Mục 2 – Các loại pháp nhân. Điều 100. Khoản 2 và khoản 4.
[2] Vũ Minh Hồng. Thực tế hoạt động Hội ở nước ta và giải pháp lập pháp cho Dự thảo Luật về Hội. Tạp chí Lập pháp số 6. 2006.
[4] The Ministry of  Justice & The Codes of Translation Committee. The Civil Code of Japan. Law No 89, April 27, 1896. Ehs law Bulletin Seies. EHS Vol. II. FA-FAA
[5] Xem: Bộ luật dân sự Thái Lan. Chương II mục II – pháp nhân. Tiểu mục 2 – Hội/Quỹ. NXBCTQG. Năm 1995; Bộ luật dân sự  Nhật Bản; Bộ luật dân sự  Quybec Canada; 
[6] Luật Hội của Cộng hoà Pháp năm 1901; Sắc lệnh 102/SL004 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Ngày 20/5/1957 qui định về quyền lập Hội; Luật hội của Cộng hoà liên bang Đức do Quốc hội ban hành ngày 5/8/1964; Luật số 8 về Hội/đoàn thể quần chúng năm 1985 của Cộng hoà Indoneisia…
[7] QH. Bộ luật Dân sự. 2005. Chương III Pháp nhân.  Mục 2 Các loại pháp nhân. Điểm d Điều 110; Điều 114.
[8] Nhà Pháp luật Việt-Pháp. Hội thảo Pháp luật về hội. Năm 2004
[9] Bộ Tư pháp. Sơ thảo phần quy định chung Bộ luật dân sự (sửa đổi)-Tài liệu cho tọa đàm với IRZ-CHLB Đức. Tr40-50
[10] Nguồn:. Bộ Nội vụ. 2005. Dự luật khung về quỹ sáng lập và Hội. tr 2-4. Tài liệu tham khảo của World Bankv
SOURCE: HỘI THẢO TỔNG KẾT THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ GÓP Ý HOÀN THIỆN BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005. BAN PHÁP CHẾ VCCI  VÀ TRUNG TÂM TRỌNG TÀI QUỐC TẾ  VIỆT NAM (VIAC) TỔ CHỨC. HÀ NỘI, NGÀY 1/3/2013.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | LunarPages Coupon Code