Luật sư Đỗ Ngọc Thịnh
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên đoàn Luật sư Việt Nam
1. Nhận thức chung
Theo đề nghị của Tổ biên tập trình Ban soạn thảo Dự án luật
sửa đổi, bổ sung Luật luật sư 2006 thì có tới 27 Điều trên 94 Điều của
luật cần phải sửa đổi, trong đó có 81 nội dung cần phải sửa đổi, bổ
sung. Việc đề xuất được những nội dung và các điều cần sửa đổi, bổ sung
trong Luật luật sư 2006 của tổ biên tập đã thể hiện được tinh thần trách
nhiệm, khả năng tổng kết thực tiễn thi hành Luật luật sư trong 05 năm
vừa qua. Đồng thời cũng thể hiện tinh thần cầu thị tiếp thu tổng hợp các
ý kiến đóng góp của các thành viên Ban soạn thảo đại diện cho nhiều các
cơ quan ban ngành và đặc biệt là ý kiến góp ý và đóng góp của các luật
sư trong toàn quốc.
Tuy vậy, Dự thảo lần 04 luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của
Luật luật sư 2006 do tổ biên tập trình Ban soạn thảo vẫn còn nhiều nội
dung cần phải tiếp tục trao đổi thêm để hoàn thiện, thể hiện được các
quan điểm và định hướng sửa đổi theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ XI; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị
khóa IX về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Chỉ thị số
33-CT/TW của Ban Bí thư khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối
với tổ chức và hoạt động của luật sư; Chiến lược phát triển nghề luật sư
đến năm 2020 theo Quyết định số 1072-QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ
ngày 05/07/2011.
Với tư cách là thành viên Ban soạn thảo Luật luật sư 2006;
Trưởng Tiểu ban Sửa đổi Luật luật sư 2006 của Liên đoàn Luật sư Việt
Nam, chúng tôi nhận thấy số lượng điều và nội dung cần sửa đổi, bổ sung
một số Điều của Luật luật sư 2006 cần phải mở rộng ra hơn nữa. Cụ thể,
chúng tôi đề nghị sửa đổi, bổ sung tới 40 Điều/ 94 Điều, trong đó có 95
nội dung cần phải sửa đổi, bổ sung.
Theo nhận thức của chúng tôi có một số vấn đề lớn cần phải được tập trung sửa đổi căn bản là:
a. Sửa đổi, bổ sung Luật luật sư để nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư;
b. Bảo đảm tốt hơn hoạt động tham gia tố tụng của luật sư;
c. Thực hiện có hiệu quả chế độ tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư;
d. Đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư;
e. Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước với tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư trong quản lý luật sư và hành nghề luật sư.
2. Những vấn đề cơ bản cần tập trung trong sửa đổi một số Điều của Luật luật sư 2006
2.1. Nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư
Theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 quy định về tiêu chuẩn luật sư và điều kiện hành nghề luật sư thì:
“Công dân Việt Nam trung thành với tổ quốc, tuân thủ Hiên
pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã
được đào tạo nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có
thể trở thành luật sư” (Điều 10)
“Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của luật này
muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia
nhập một Đoàn luật sư” (Điều 11)
Nếu theo đúng tinh thần và nội dung như Điều 10 và Điều 11
quy định thì chất lượng của luật sư sẽ rất tốt. Để đảm bảo chất lượng
luật sư thì luật sửa đổi lần này cần phải có các quy định chặt chẽ hơn
nữa trong tất cả các khâu, các quá trình để có thể trở thành luật sư và
hành nghề luật sư.
Tuy vậy, Luật luật sư 2006 đã bộc lộ một số mâu thuẫn trong
chính một số quy định dẫn tới chất lượng luật sư không đảm bảo, như việc
quy định người miễn đào tạo nghề luật sư (Điều 13). Người được miễn,
giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư (Điều 16). Trong Luật luật sư
2006 quy định không rõ ràng về nghĩa vụ, trách nhiệm của người tập sự,
người hướng dẫn tập sự hành nghề luật sư. Trách nhiệm giám sát, kiểm tra
của tổ chức hành nghề luật sư có người tập sự và trách nhiệm của Đoàn
luật sư trong việc giám sát người tập sự hành nghề luật sư. Do đó, qua
05 năm thực hiện luật nhận thấy chất lượng tập sự hành nghề luật sư rất
yếu và hình thức.
Dự thảo lần 4 này vẫn mắc lại lỗi của Luật luật sư 2006 là
vẫn có những quy định đối với những đối tượng miễn đào tạo nghề luật sư
(Điều 13) và miễn tập sự hành nghề luật sư (Điều 16).
Như vậy, chất lượng của luật sư phải được đảm bảo bằng quá
trình đào tạo cử nhân luật, đào tạo nghề, tập sự hành nghề luật sư, luật
sửa đổi cần có các quy định chặt chẽ chính xác trong kiểm tra, đáng
giá, giám sát, hướng dẫn cho người tập sự và ngay cả quá trình hành nghề
luật sư cần phải nâng cao ý thức tự quản, tự chịu trách nhiệm trước
pháp luật, trước khách hàng về chất lượng cung cấp dịch vụ pháp lý của
luật sư. Muốn vậy, luật sư phải có trình độ về kiến thức pháp luật, có
trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng nghề nghiệp có phẩm chất tư
cách đạo đức nghề nghiệp trong sáng, liêm chính. Để có và đạt được những
điều kiện như vậy, thì ngay từ khâu xây dựng pháp luật cần phải có các
quy định của luật pháp rất cụ thể, chặt chẽ đối với tất cả các khâu và
các quá trình để trở thành luật sư và để đảm bảo về mặt chất lượng luật
sư. Cần phải kiên quyết sửa đổi và loại bỏ các quy định sẽ làm ảnh hưởng
đến chất lượng luật sư. Để luật sư có được niềm tin với khách hàng và
cộng đồng xã hội thì trước tiên pháp luật phải có các quy định để đặt
nền tảng cho niềm tin đó. Sau đó, mỗi chủ thể có liên quan tới luật sư
và hàng nghề luật phải thực hiện nghiêm túc các quyền và nghĩa vụ được
luật quy định. Có như vậy, mới có thể góp phần xây dựng các giá trị
chuẩn mực của luật sư và nghề luật sư ở Việt Nam. Mới có thể xây dựng
được một đội ngũ luật sư có chất lượng, có khả năng cung cấp các dịch vụ
pháp lý có chất lượng cho cộng đồng xã hội.
2.2. Bảo đảm tốt hơn hoạt động tham gia tố tụng của luật sư
Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư không những được Luật
luật sư quy định mà còn được pháp luật về tố tụng quy định. Sự quy định
của nhiều đạo luật trong quan hệ tố tụng của luật sư như trong thời gian
vừa qua đã bộc lộ sự hành chính hóa các quan hệ tố tụng của luật sư.
Tạo điều kiện cho một số cá nhân và cơ quan tiến hành tố tụng cản trở
quyền hành nghề hợp pháp của luật sư. Sửa đổi Luật luật sư 2006 cần phải
hướng tới việc giảm thiểu các thủ tục hành chính khi luật sư tham gia
tố tụng. Tạo điều kiện để cho việc sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự và
các pháp luật tố tụng khác có liên quan thống nhất với Luật luật sư.
Nhằm đảm bảo luật sư khi tham gia tố tụng được bảo vệ quyền hành nghề
hợp pháp của họ. Luật sư là một trong các vai chính trong các quan hệ tố
tụng, phải được ngang bằng về mặt địa vị pháp lý với các vai khác trong
quan hệ tố tụng. Hạn chế tối đa việc xin cho, cấp giấy chứng nhận tham
gia tố tụng của luật sư.
Luật sư tham gia tố tụng chỉ cần xuất trình Thẻ luật sư và
Giấy yêu cầu luật sư của khách hàng là đủ để các cơ quan tiến hành tố
tụng phối hợp trong các hoạt động tư pháp nhằm cùng nhau góp phần bảo vệ
công lý, bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân
và tổ chức.
Sửa đổi Điều 27 hoạt động tham gia tố tụng của luật sư nên
theo hướng tách hoạt động luật sư tham gia tố tụng trong các vụ án hình
sự riêng và hoạt động luật sư tham gia tố tụng trong các vụ án phi hình
sự riêng ra, nhằm cụ thể hóa hơn quyền và nghĩa vụ của luật sư khi tham
gia tố tụng.
Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư có gắn liền với quyền
và nghĩa vụ của các cá nhân và cơ quan tiến hành tố tụng, do đó cần có
các quy định rõ hơn về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Trong quá trình hành nghề, luật sư phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật và chịu trách nhiệm về chất lượng việc cung cấp dịch vụ
pháp lý trước khách hàng. Muốn vậy, luật pháp phải là công cụ để luật sư
có thể tự bảo vệ mình, thực hiện chế độ tự quản, tự chịu trách nhiệm
một cách tốt nhất. Mọi hành vi cản trở, sách nhiễu ngăn cản quyền hành
nghề hợp pháp của luật sư cẩn phải được ngăn chặn và nghiêm trị. Có như
vậy thì luật sư mới có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
một cách tốt nhất. Có như vậy quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp
ghi nhận mới có thể được bảo đảm và bảo vệ một cách tốt nhất.
2.3. Thực hiện có hiệu quả chế độ tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp luật sư
Tổ chức xã hội – nghề nghiệp luật sư được Luật luật sư 2006
quy định tại Điều 7, Điều 60, Điều 61, Điều 62, Điều 63, Điều 64, Điều
65, Điều 66, Điều 67, Điều 84.
Tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư được thành lập để
đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của luật sư, bồi dưỡng chuyên
môn, nghiệp vụ luật sư, giám sát việc tuân theo pháp luật, Quy tắc đạo
đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư theo quy định của luật.
Tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư là Đoàn luật sư ở
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Liên đoàn Luật sự Việt Nam.
Sự ra đời của Liên đoàn Luật sư Việt Nam tháng 05/2009 là kết
quả của việc ban hành Luật luật sư 2006. Tổ chức xã hội – nghề nghiệp
luật sư được thành lập để đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
luật sư. Nhưng trong điều kiện và thể chế chính trị xã hội ở Việt Nam,
tổ chức xã hội – nghề nghiệp luật sư còn phải đóng được vai trò là cầu
nối vững chắc giữa Đảng, Nhà nước, cộng đồng xã hội và giới luật sư. Tổ
chức xã hội – nghề nghiệp luật sư là Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các
Đoàn luật sư cần phải thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ được luật và
Điều lệ quy định, nhưng luôn phải quán triệt vai trò là cầu nối để xử lý
các quan hệ vì một mục tiêu chung là góp phần vào xây dựng và bảo vệ tổ
quốc, xây dựng đội ngũ luật sư và nghề luật sư ở Việt Nam phát triển
vững mạnh.
Sửa đổi Luật luật sư 2006 cần phải hướng tới việc phát huy
hơn nữa vai trò tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp để tổ chức xã
hội – nghề nghiệp khi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ như đại diện,
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của luật sư, đào tạo, bồi dưỡng luật sư,
giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức nghề nghiệp luật sư có hiệu quả,
thiết thực. Luật sư khi hành nghề họ trông cậy vào tổ chức xã hội – nghề
nghiệp để bảo vệ quyền hành nghề hợp pháp của họ, giúp họ trong việc
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp. Đồng hành
với họ trong suốt cuộc đời hoạt động hành nghề. Tổ chức xã hội – nghề
nghiệp là điểm tựa vững chắc để họ góp phần tích cực vào bảo vệ công lý,
bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Vì thế
Luật luật sư cần có các quy định rõ hơn, đầy đủ hơn về nhiệm vụ, quyền
hạn của Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Đoàn luật sư nhằm xác định rõ
trách nhiệm của tổ chức xã hội – nghề nghiệp tồn tại vì mục tiêu phát
triển của luật sư và nghề luật sư ở nước ta.
Trong vai trò là cầu nối vững chắc giữa Đảng, Nhà nước và
cộng đồng xã hội với đội ngũ luật sư, tổ chức xã hội – nghề nghiệp luật
sư cần phải có khả năng giúp và hỗ trợ, phối hợp với nhà nước trong quản
lý luật sư và hành nghề luật sư. Tổ chức xã hội – nghề nghiệp cần phải
tham gia vào việc đóng góp ý kiến trong xây dựng pháp luật, tuyên truyền
phổ biến pháp luật, tham gia vào việc phản biện và giám sát xã hội với
tư cách là thành viên của Mặt trận tổ quốc Việt Nam. Thể hiện những
chính kiến pháp lý trên phương diện vĩ mô về những vấn đề quốc kế dân
sinh, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của đất nước. Vì vậy, sửa đổi
Luật luật sư 2006 cũng cần phải đưa thêm các chức năng, nhiệm vụ của tổ
chức xã hội – nghề nghiệp trong công tác xây dựng pháp luật, tuyên
truyền phổ biến pháp luật, giám sát và phản biện xã hội để nâng cao vị
thế và địa vị pháp lý của Liên đoàn Luật sư Việt Nam một tổ chức xã hội –
nghề nghiệp thống nhất, đặc thù của giới luật sư Việt Nam.
Luật luật sư 2006 ban hành khi chưa có Liên đoàn Luật sư Việt
Nam, nhưng từ khi Liên đoàn Luật sư Việt Nam được thành lập cho đến
nay, qua thực tiễn hoạt động thấy rằng cần phải có các quy định về mặt
luật pháp xác định rõ hơn mối quan hệ giữa Liên đoàn Luật sư Việt Nam
với các Đoàn luật sư. Liên đoàn Luật sư Việt Nam là tổ chức xã hội –
nghề nghiệp luật sư thống nhất trong toàn quốc. Sự thống nhất phải được
bắt đầu từ các Đoàn luật sư tới các luật sư. Liên đoàn phải thể hiện sự
thống nhất để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của tổ chức xã hội –
nghề nghiệp, thể hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa Liên đoàn với các Đoàn
luật sư. Thể hiện được sự chủ động sáng tạo của mỗi chủ thể trong hoạt
động quản lý và tự quản luật sư.
2.4. Quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư cần phải hiệu lực và hiệu quả
Sự ra đời và phát triển của luật sư và nghề luật sư ở Việt
Nam trong mấy chục năm vừa qua thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước
và cộng đồng xã hội với đội ngũ luật sư Việt Nam. Bằng những quy định
của pháp luật như Pháp lệnh tổ chức luật sư 1987; Pháp lệnh luật sư
2001; Luật luật sư 2006 đã khẳng định luật sư là một nghề trong xã hội,
muốn trở thành luật sư để hoạt động hành nghề thì cần có các tiêu chuẩn,
điều kiện theo quy định của pháp luật.
Quản lý nhà nước về luật sư và nghề luật sư được Luật luật sư
2006 quy định tương đối chặt chẽ và toàn diện từ tất cả các khâu của
quá trình đào tạo, tập sự, cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Trong hoạt
động hành nghề luật sư nhà nước vẫn kiểm tra, giám sát các tổ chức hành
nghề luật sư. Quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trong mấy
chục năm vừa qua đã góp phần tạo điều kiện cho luật sư và hành nghề
luật sư phát triển đúng hướng.
Tuy vậy, nhiều chức năng tự quản luật sư được Luật luật sư
quy định thành nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước như Điều 17 cấp
Chứng chỉ hành nghề luật sư; Điều 18 thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật
sư; Điều 19 cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư .v.v. Đó là những hoạt
động thuộc về chức năng tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp để đảm
bảo chất lượng của đội ngũ luật sư. Nhưng nhà nước đã thực hiện việc
quản lý như trong thời gian vừa qua. Nguyên do là vì Liên đoàn Luật sư
Việt Nam chưa được thành lập, các Đoàn luật sư không thể thực hiện được
nhiệm vụ đó, nhà nước đã quản lý là rất đúng.
Hiện nay, tổ chức xã hội – nghề nghiệp luật sư đã hình thành
từ trung ương tới các tỉnh thành và đang dần khẳng định được vai trò tự
quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp, vì thế khi sửa đổi Luật luật sư
2006 cũng cần phải cân nhắc có nên giao tiếp cho các cơ quan quản lý nhà
nước thực hiện các nhiệm vụ thuộc về chức năng tự quản của luật sư hay
không? Và bao giờ thì chuyển giao các nhiệm vụ đó cho tổ chức xã hội –
nghề nghiệp.
Xét về mặt cơ sở lý luận cho thấy, nhà nước chỉ nên quản lý
vĩ mô về luật sư và nghề luật sư. Việc quản lý vĩ mô thì mới tạo điều
kiện cho luật sư và nghề luật sư phát triển đúng hướng và xác định được
trách nhiệm tự quản của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư và tổ chức xã
hội - nghề nghiệp luật sư trước nhà nước và cộng đồng xã hội.
Quản lý vĩ mô của nhà nước về luật sư và nghề luật sư thì các
cơ quan quản lý nhà nước sẽ làm những gì? Theo nhận thức cá nhân của
tôi, các cơ quan quản lý nhà nước cần làm 02 việc sau:
a. Nhà nước xây dựng các chính sách, pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư;
b. Nhà nước kiểm tra, giám sát các chủ thể thực hiện các chính sách pháp luật đã được ban hành.
Còn những hoạt động nào mang tính tác nghiệp trong hoạt động
quản lý vi mô mang tính tự quản thì có thể giao lại cho tổ chức xã hội –
nghề nghiệp và tổ chức hành nghề luật sư.
Tuy vậy, trong điều kiện ở nước ta hiện nay, khi các tổ chức
xã hội – nghề nghiệp luật sư chưa đủ lớn mạnh thì nhà nước vẫn có thể
thực hiện một số chức năng nhiệm vụ cần thiết để đảm bảo cho sự phát
triển đúng hướng của luật sư và hành nghề luật sư.
3. Kết luận
Sửa đổi Luật luật sư 2006 là hết sức cần thiết để nâng cao
chất lượng luật sư, tạo điều kiện tốt hơn cho luật sư tham gia vào các
hoạt động tố tụng. Nâng cao vai trò tự quản của các tổ chức xã hội –
nghề nghiệp luật sư và vai trò quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề
luật sư.
Sửa đổi Luật luật sư 2006 cần xử lý hài hòa mối quan hệ giữa
quản lý nhà nước với vai trò tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp
luật sư để hỗ trợ cho luật sư trong hoạt động nghề nghiệp và đảm bảo cho
luật sư và nghề luật sư phát triển đúng hướng.
Chế độ tự quản về luật sư chỉ có thể phát huy được vai trò
khi kết hợp với chức năng quản lý nhà nước về luật sư. Mặt khác quản lý
nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư chỉ có thể có hiệu quả khi kết
hợp với chế độ tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp luật sư. Do đó
nguyên tắc quản lý hành nghề luật sư được quy định tại Điều 6 Luật luật
sư 2006 là rất đúng đắn cần phải tiếp tục quy định và duy trì.
0 comments:
Post a Comment